TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC - BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG Ở VIỆT NAM - Pdf 38

MỞ ĐẦU
Triết học Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX đã được thừa
nhận là một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học nhân loại. Cuộc cách mạng
đó đã đưa triết học nhân loại chuyển sang một thời kỳ mới về chất, từ thời kỳ
chủ yếu là “giải thích thế giới” sang thời kỳ không chỉ “giải thích thế giới”,
mà còn “cải tạo thế giới”.
Thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do C.Mác thực hiện
được biểu hiện ở nhiều nội dung như: sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử;
đưa triết học trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới; thiết lập mối liên
minh giữa triết học và các khoa học cụ thể… Trong đó, sự thống nhất giữa thế
giới quan duy vật và phương pháp biện chứng để xây dựng nên chủ nghĩa duy
vật biện chứng triệt để và “hoàn bị” là một trong những nội dung quan trọng
nhất của cuộc cách mạng.
Vì vậy, nghiên cứu, làm rõ vấn đề: “Bản chất của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và một số vấn đề nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng ở
Việt Nam” có ý nghĩa rất quan trọng trong việc khẳng định bản chất khoa
học, cách mạng, sức sống trường tồn và sự cần thiết phải bảo vệ, phát triển
triết học Mác-Lênin trong thực tiễn lịch sử hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu
vấn đề này là cơ sở để đánh giá những thành tựu và hạn chế của công tác
nghiên cứu, vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng trong công cuộc đổi mới
ở nước ta hiện nay. Đó cũng là cơ sở để mở ra những vấn đề nghiên cứu, vận
dụng mới về chủ nghĩa nghĩa duy vật trong giai đoạn hiện nay.


NI DUNG
1. Bn cht ca ch ngha duy vt bin chng
Bn cht ca ch ngha duy vt bin chng c th hin vic gii
quyt ỳng n vn c bn ca trit hc trờn quan im thc tin, s
thng nht hu c gia th gii quan duy vt bin chng vi phộp bin
chng, quan nim duy vt trit v tớnh thc tin-cỏch mng ca nú.
Ch ngha duy vt bin chng gii quyt ỳng n vn c bn ca

Những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác có nhiều nguyên nhân
nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất là các nhà duy vật đó thiếu quan điểm thực
tiễn.
Kế thừa những yếu tố hợp lý và khắc phục những thiếu sót trong quan
điểm của các nhà triết học trước mình về thực tiễn, Mác và Ăngghen đã đem
lại một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn. Thực tiễn là những hoạt
động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử xã hội của con người,
nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Ở đây, cần khẳng định rằng, phạm trù thực tiễn không chỉ là phạm trù
của lý luận nhận thức Mácxít, mà còn là phạm trù xuyên suốt của triết học
Mácxít, của toàn bộ lý luận chủ nghĩa Mác nói chung. Thực tiễn không phải
bao gồm toàn bộ hoạt động của con người, mà chỉ là những hoạt động vật
chất để (phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận), hay nói theo
thuật ngữ của Mác là hoạt động cảm tính của con người.
Thực tiễn gồm những dạng cơ bản hoạt động sản xuất vật chất.; hoạt
động chính trị - xã hội; hoạt động thực nghiệm khoa học. Thông qua các dạng
hoạt động thực tiễn đó ý thức con người được vật chất hóa, tư tưởng trở thành
hiện thực. Thông qua thực tiễn, ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới
mà còn “sáng tạo ra thế giới”. Mác cho rằng “thực tiễn là nơi con người
chứng minh sức mạnh, chứng minh tính hiện thực và tính trần tục của tư
duy”1.
Bằng việc đưa quan điểm thực tiễn và hoạt động nhận thức, đặc biệt thấy
được vai trò quyết định của sản xuất vật chất đối với sự tồn tại và phát triển
của xã hội, các nhà triết học duy vật biện chứng đã khắc phục được hạn chế
của chủ nghĩa duy vật trước đó để giải quyết thỏa đáng vấn đề cơ bản của triết
1

C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tập 42, tr371



sử không những vì nó là sự phản ánh khách quan thực tiễn xã hội, mà còn
là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại, đúng như Lênin đã
khẳng định, "lịch sử triết học và lịch sử khoa học xã hội" đã chứng tỏ một
cách hết sức rõ ràng rằng, chủ nghĩa Mác nói chung, triết học của ông nói
riêng "không có gì giống "chủ nghĩa bè phái" hiểu theo nghĩa một học
thuyết đóng kín và cứng nhắc, nảy sinh ở ngoài con đường phát triển vĩ đại
của văn minh thế giới" 1.
Triết học Mác ra đời đã khắc phục được sự tách rời thế giới quan duy
vật và phép biện chứng. Song, nó không phải là sự "lắp ghép" đơn thuần
phép biện chứng với đỉnh cao là phép biện chứng của Hêghen và chủ nghĩa
duy vật với đỉnh cao là chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc. Để xây dựng triết
học duy vật biện chứng, C.Mác đã phải tiến hành phê phán và cải tạo triệt
để phép biện chứng duy tâm của Hêghen và chủ nghĩa duy vật siêu hình
của Phoiơbắc, tạo ra một phương pháp tư duy biện chứng "không những
khác phương pháp của Hêghen về cơ bản, mà còn đối lập hẳn với phương
pháp ấy"2 và giải thoát chủ nghĩa duy vật khỏi tính hạn chế siêu hình vốn
có, tính hạn chế "đặc thù" của nó, làm cho nó trở nên "hoàn bị" và được mở
rộng "từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loài
người", sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách "thành tựu vĩ đại
nhất của tư tưởng khoa học" 3.
Quan niệm duy vật triệt để. Chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa
duy vật triệt để được thể hiện ở quan điểm duy vật về thế giới và duy vật về
xã hội. Đây là nội dung rất quan trọng để khẳng định tính khoa học và hoàn
bị của triết học Mác so với các hình thức triết học trước đây trong lịch sử.
Các loại hình triết học trước đây duy vật trong lĩnh vực tự nhiên nhưng lại
duy tâm khi nghiên cứu xã hội lịch sử. Triết học Mác- Lênin ra đời không
chỉ duy vật trong lĩnh vực tự nhiên mà còn duy vật khi nghiên cứu xã hội.
1

V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 23, tr 49

một phương thức sản xuất nhất định. Phương thức sản xuất ấy quyết định sinh
1

C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, Nxb CTQG, H. 1994, tập 20, tr67
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 23, tr 53
3
V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1974, tập 2, tr 6
2


hoạt xã hội, chính trị và tinh thần. Sự thay đổi phương thức sản xuất sớm
muộn sẽ làm thay đổi các mặt khác của đời sống xã hội. Trong quá trình tồn
tại và phát triển, con người không chỉ gắn liền với một phương thức sản xuất
nhất định, mà còn gắn với điều kiện tự nhiên, dân số và những điều kiện sinh
hoạt khác.
Tính triệt để và hoàn bị của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong triết học
Mác-Lênin còn được thể hiện ở quan niệm sự phát triển của các hình thái kinh
tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, ở vai trò của quần chúng nhân dân
là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch sử.
Tính thực tiễn-cách mạng. Trên cơ sở giải quyết một cách đúng đắn,
thực sự khoa học "vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết
học hiện đại" - vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý
thức, C.Mác đã không chỉ xây dựng nên một hệ thống triết học mới, trong
đó chủ nghĩa duy vật biện chứng thống nhất với phép biện chứng duy vật
thành một chỉnh thể, mà còn đưa ra tuyên ngôn của một nền triết học hành
động, triết học thực tiễn, khi khẳng định hoạt động của con người là "hoạt
động khách quan", hoạt động thực tiễn và "vấn đề tìm hiểu xem tư duy của
con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải
là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn" và "chính trong thực tiễn
mà con người phải chứng minh chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực

giữa cái kinh tế và cái xã hội, giữa nhân tố nội sinh và nhân tố ngoại sinh.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu về động lực của sự phát triển,
triết lý về sự phát triển trong những năm qua đã góp phần đáng kể vào việc cụ
thể hoá nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật trong lĩnh vực
xã hội.
Cùng với nguyên lý về sự phát triển, các quy luật cơ bản của phép biện
chứng cũng đã được chú ý nghiên cứu một cách thích đáng hơn. Một số công
trình nghiên cứu mang tính chất cơ bản và ứng dụng đã được công bố.
Trước hết, cần nói đến các nghiên cứu xung quanh phạm trù quy luật.
Đây là phạm trù hết sức cơ bản của phép biện chứng duy vật. Phạm trù đó đã
được các nhà triết học trong lịch sử bàn luận tương đối nhiều và tưởng như
mọi thứ đã trở nên rõ ràng, không còn vấn đề gì phải tranh luận. Nhưng, đến


năm 1986, khi Đảng ta nêu ra "Bài học về tôn trọng và hành động theo quy
luật khách quan" thì vấn đề nội dung của phạm trù quy luật lại bắt đầu được
đặt trở lại. Bởi lẽ, để tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan thì điều
quan trọng trước tiên là cần phải hiếu thế nào là quy luật?
Trước yêu cầu đó, một số tác giả đã xem xét phạm trù quy luật dưới góc
độ lịch sử, tập trung làm rõ các quan điểm khác nhau trong lịch sử triết học về
quy luật, trên cơ sở đó, nêu lên những đặc trưng cơ bản nhất của phạm trù đó.
Một số tác giả khác xem xét mối quan hệ giữa phạm trù quy luật với các
phạm trù khác của phép biện chứng duy vật để từ đó, vạch ra sự tương đồng
và khác biệt giữa phạm trù quy luật và các phạm trù khác của phép biện
chứng duy vật. Ngoài ra, phạm trù quy luật còn được xem xét trong mối
tương quan với phạm trù mâu thuẫn...
Trong số ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật: quy luật mâu
thuẫn (hay quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập), quy luật
lượng chất và quy luật phủ định của phủ định thì trong những năm qua, quy
luật mâu thuẫn được tập trung nghiên cứu nhiều hơn cả. Sở dĩ như vậy không

nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng trong hơn nửa thế kỷ qua là
tương đối đa dạng, đi sâu vào từng khía cạnh, từng quy luật hoặc một vấn đề
cụ thể nào đó có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Nếu trừu tượng hoá đi các nghiên cứu cụ thể, chúng ta có thể nhận
thấy các nghiên cứu về chủ nghĩa duy vật biện chứng đi theo hai hướng chủ
yếu: Theo hướng nghiên cứu cơ bản và theo hướng nghiên cứu ứng dụng, tức
là đi vào những vấn đề do thực tiễn xã hội đặt ra nhưng có liên quan đến nội
dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Theo hướng nghiên cứu cơ bản, những người làm công tác nghiên cứu
triết học, một mặt, đã trình bày một cách có hệ thống những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa C.Mác - Lênin, trên cơ sở đó, có sự điều chỉnh, chính xác hoá


những cách hiểu khác nhau để từ đó, ngày càng có được cách hiểu chính xác
hơn, mặt khác, nghiên cứu sâu về một vấn đề nào đó, trên cơ sở ấy, đề ra
những nguyên tắc phương pháp luận chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
Theo hướng nghiên cứu ứng dụng, những người làm công tác nghiên cứu
triết học tập trung vào những vấn đề đó thực tiễn xã hội đặt ra bằng cách áp
dụng những nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật. Trong những
năm qua, số công trình nghiên cứu theo hướng này nhiều hơn. Bởi lẽ, các
nghiên cứu như vậy gần đây được đầu tư nhiều hơn và đồng thời, cũng dễ
thực hiện hơn. Có thể nói rằng, cả hai hướng nghiên cứu đó đều rất cần thiết.
Trong tương lai, các hướng nghiên cứu như vậy cần được tiếp tục triển khai.
Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận rằng, so với yêu cầu phát triển của
chuyên ngành và của thực tiễn thì những kết quả đạt được trong thời gian qua
còn khá khiêm tốn. Vì vậy, để góp phần làm cho các nghiên cứu về chủ nghĩa
duy vật biện chứng nói chung và phép biện chứng duy vật nói riêng đáp ứng
các yêu cầu của thực tiễn, cần kết hợp một cách chặt chẽ hơn nữa giữa các
nghiên cứu cơ bản và các nghiên cứu ứng dụng.
Thứ nhất, trong các nghiên cứu cơ bản, cần đầu tư và tìm cách khắc

phát triển của thế giới vật chất thì sự đẩy nhanh và kìm hãm đó là vô hạn hay
chỉ giới hạn trong phạm vi nào và với những điều kiện nào thì ý thức mới có
được vai trò như vậy? Có thể nói, không chỉ có mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức, mà nhiều mối quan hệ của các phạm trù khác của triết học Mác, như
mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội mối quan hệ giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, mối quan
hệ giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, cũng đặt ra những vấn đề
tương tự như vậy. Tình hình đó đòi hỏi những người nghiên cứu và giảng dạy
triết học phải có câu trả lời sáng rõ và cụ thể hơn về những vấn đề mang tính
nguyên lý cơ bản của triết học.


Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học và thực tiễn cũng đang đặt ra
những vấn đề xung quanh vật chất và ý thức cũng như mối quan hệ giữa
chúng. Hàng loạt vấn đề thuộc về ý thức và tâm linh con người đang đòi hỏi
triết học phải có câu trả lời, như ý thức là sự phản ánh của vật chất hay có sự
tồn tại độc lập bên ngoài của thế giới đó, những hiện tượng tìm mộ hay nói
chuyện với người âm là hiện tượng có thật hay chỉ là ảo thuật của các thày gọi
hồn... Đứng về mặt khoa học, đó là những hiện tượng cần phải được lý giải
một cách nghiêm túc. Khi khoa học chưa giải quyết được thấu đáo thì đó lại là
mảnh đất cho tôn giáo phát triển.
Hoặc khi nói về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, các nhà sáng lập
chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, thực tiễn là cơ sở, là động lực, đồng
thời là tiêu chuẩn của chân lý. Nhưng, bản thân các ông lại khẳng định rằng,
tiêu chuẩn thực tiễn có tính tương đối và xét đến cùng, ngoài thực tiễn, để
kiểm tra tính đúng đắn của chân lý còn cần sử dụng các tiêu chuẩn khác,
chẳng hạn như tiêu chuẩn logic. Vấn đề đặt ra là tiêu chuẩn thực tiễn có mối
quan hệ như thế nào với tiêu chuẩn logic và nên hiểu tính tương đối của tiêu
chuẩn thực tiễn như thế nào và vận dụng nó ra sao trong quá trình kiểm tra
tính đúng đắn, tính chân lý của nhận thức… Có thể nói, còn rất nhiều vấn đề

ngũ những người làm công tác triết học và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu
khoa học còn nhiều hạn chế, việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu để tiến hành
nghiên cứu cơ bản cũng cần căn cứ vào nhu cầu của thực tiễn và để giải quyết
những vấn đề do thực tiễn trước mắt đặt ra, đồng thời cũng phải biết dự báo
trước những nhu cầu sắp tới của đất nước.
Thứ hai, bên cạnh các nghiên cứu cơ bản, cần tiến hành nghiên cứu
những vấn đề đó thực tiễn xã hội đặt ra. Đây là hướng nghiên cứu hết sức
quan trọng, là sự vận dụng những kiến thức cơ bản để giải quyết những vấn
đề thực tiễn, làm cho triết học gắn bó hơn với thực tiễn.


Tuy nhiên, ở đây, cần phải lưu ý rằng, hiệu quả của các nghiên cứu ứng
dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng không giống như hiệu quả của các ngành
khoa học - kỹ thuật khác và cũng không giống với hiệu quả của sản xuất trực
tiếp. Nhìn chung, các kết quả đã nghiên cứu triết học mang lại không góp
phần giải quyết một cách trực tiếp, cụ thể cho rằng vấn đề cụ thể vô cùng đa
dạng của cuộc sống, mà chỉ là cơ sở có tính chất định hướng cho các lời giải
đáp trực tiếp, cụ thể đó.
Như vậy, hiệu quả của nghiên cứu ứng dụng phép biện chứng duy vật thể
hiện ở sự định hướng cho hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú và đa dạng
của những kết luận chung và khái quát cao mà các nghiên cứu đem lại, chứ
không phải là những cách giải quyết cụ thể cho từng vấn đề cụ thể. Có thể
nói, nhiều khi hiệu quả của những kết luận mà triết học đem lại đối với xã hội
là vô cùng to lớn, là vô giá mà không thể nào tính thành tiền được. Bởi những
kết luận đó có thể làm thay đổi cả xu hướng hoạt động của xã hội.
Như vậy, cũng như bất kỳ một ngành khoa học nào khác, triết học nói
chung, chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng có nhiệm vụ góp phần thiết
thực vào việc giải quyết nhiều vấn đề bức xúc của cuộc sống. Nhưng để có
nhiều đóng góp thiết thực, những người làm công tác triết học phải đứng từ
góc độ chuyên môn của mình, bằng con đường riêng, thông qua cách thức

và mang tính nhạy cảm. Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng đó, cần có một cơ
chế dân chủ đối với những người làm công tác lý luận nói chung, đối với
người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết học nói riêng để sao cho
mọi người có thể trình bày thẳng thắn các ý kiến của biện của các nghiên cứu
triết học có hiệu quả, những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy triết
học không những phải đầu tư và cần được đầu tư để nâng cao chất lượng
nghiên cứu, mà còn phải có trách nhiệm chính trị trước dân tộc và đất nước.


KẾT LUẬN
Bản chất của chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là kết quả cảu sự
tư biện mà là thành tựu hoạt động thực tiễn, thành tựu tư duy khoa học của
nhân loại trong quá trình phản ánh thế giới. Trên tinh thần ấy, có thể khẳng
định, chủ nghĩa duuy vật biện chứng là cơ sở của thế giới quan khoa học.


Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ thống mở nên chúng ta
không coi nó như một cái gì đã xong xuôi hẳn, bất khả xâm phạm mà luôn coi
nó phải cần được bổ sung, phát triển trên nền tảng phát triển của hoạt động
thực tiễn và hoạt động nhận thức. Chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải
là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động, nó đặt ra những yêu cầu có
tính nguyên tắc phương pháp luận mà từ những nguyên tắc ấy con người phải
vận dụng sáng tạo sao cho phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể.
Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa duy
vật biện chứng vào điều kiện lịch sử cụ thể ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
là một yêu cầu cấp thiết. Chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu chủ nghĩa duy
vật biện chứng ở các nội dung còn chứa đựng những vấn đề khoa học mà đến
nay chưa được nghiên cứu và làm sáng tỏ. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới
đất nước hiện nay, vấn đề nghiên cứu và vận dụng các nguyên tắc phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong phát triển đất nước theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status