Luận văn một số vấn đề về KHAI THÁC tài NGUYÊN KHÔNG tái SINH ở VIỆT NAM - Pdf 35

Mục Lục


MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHAI THÁC TÀI NGUYÊN KHÔNG TÁI
SINH Ở VIỆT NAM
I.Tài nguyên không tái sinh
1. Tài nguyên không tái sinh
a) Khái niệm và phân loại
Khái niệm: Tài nguyên không tái sinh là loại tài nguyên khi khai thác sử dụng, trữ
lượng của nó sẽ giảm đi không thể phục hồi được.
Phân loại:Tài nguyên không tái sinh bao gồm các dạng năng lượng hóa thạch (dầu
mỏ, than đá,...), các loại quặng như đồng, niken, vàng...

Than đá

Quặng đồng

Dầu mỏ

Quặng sắt

Page 2


Quặng bô xít

Đất hiếm

b) Trữ lượng tài nguyên không tái sinh tại Việt Nam:
Việt Nam có vị trí địa chất, địa lý độc đáo, là nơi giao cắt của hai vành đai sinh
khoáng lớn Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, là nước nhiệt đới gió mùa phát triển mạnh

và tăng 31,59% về trị giá so với cùng kỳ.
Các số liệu trên cho thấy, công nghiệp khai thác khoáng sản của Việt Nam đang trên
đà tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc gia.
b) Tác động môi trường khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường
xung quanh. Biểu hiện rõ nét nhất là việc sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự
nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải; làm
ảnh hưởng đến sử dụng nước, ô nhiễm nước, tiềm ẩn nguy cơ về dòng thải axit mỏ... Những
hoạt động này đang phá vỡ cân bằng điều kiện sinh thái được hình thành từ hàng chục triệu
năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị
và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc.

Khai thác khoáng sản gây ô nhiễm môi trường ở Kinh Môn, Hải Dương
Page 5


Khai thác vàng lộ thiên tác động tiêu cực tớimôi trường sinh thái và đời sống con người

Tác hại của việc khai thác Bô xít ở Lâm Đồng

Page 6


Ô nhiễm môi trường gay ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân
Sau đây, nhóm xin nghiên cứu sâu hơn về vấn đề khai thác tài nguyên không tái sinh ở Việt
Nam qua 2 loại khoáng snr, đó là Than và Dầu mỏ.

II. Vấn đề khai thác Than ở Việt Nam
1.Than đá


Sản lượng (tấn)

Năm

Nhu cầu tiêu thụ than trong nước giai đoạn 1997-2007
(Nguồn: Tập đoàn Than -Khoáng sản Việt Nam)
Hiện tại than Việt Nam phục vụ cho các hộ sản xuất chính là điện, xi măng, giấy, phân bón...
(các ngành công nghiệp sử dụng quá nhiều năng lượng) và phục vụ xuất khẩu. Điện hiện tiêu
thụ tới 32% sản lượng tính hết 7 tháng đầu năm 2009. Với tốc độ gia tăng khai thác năng
lượng như hiện nay, nguồn năng lượng than sẽ trở nên khan hiếm.Dự báo, Việt Nam đang và
sẽ trở thành nước phải nhập khẩu năng lượng với khoảng 80-100 triệu tấn than đá vào năm
2020 để chạy các nhà máy nhiệt điện.
Từ nhiều năm nay, Tập đoàn Than -Khoáng sản Việt Nam (TKV) chưa đầu tư thêm
được mỏ mới nào để phát triển bền vững. Lượng than khai thác tăng thêm đều từ các mỏ đang
khai thác hầm lò với sản lượng kịch trần. Nên chăng đã đến lúc ngành than đặt vấn đề dừng
khai thác để xuất khẩu, thay vào đó dành than cho nhu cầu trong nước?
a) Khai thác lộ thiên.
Theo thông kê, sản lượng khai thác tự nhiên trong nhưng năm qua chiếm khảng 6070% tổng sản lượng khai thác của toàn ngành than.
Hiện nay, Quảng Ninh có 5 mỏ lộ thiên lớn với công suất khai thác trên dưới 2 triệu tấn than
nguyên khai/ năm( Hà Tu, Núi Béo, Cọc Sáu, Cao sơn và Đèo Nai); 15 mỏ lộ thiên vừa và các
Page 9


công trường khai thác lộ thiên do các công ty khai thác hầm lò quản lý với công xuất năm từ
100.000-700.000 tấn than nguyên khai. Ngoài ra, còn có một số điểm lộ vỉa và khai thác nhỏ
với sản lượng khai thác hàng năm dưới 100000 tấn than nguyên khai.
Tổng sản lượng khai thác lộ thiên trong giai đoạn 1995-2004 là 97,52 triệu tấn (chiếm
66,3% sản lượng toàn ngành than).
Hầu hết các mỏ lộ thiên khai thông bằng hệ thông hào mở vỉa bám vách vỉa than.
Thiết bị đào hào là máy xúc thủy lực gàu ngược kết hợp với máy xúc EKG. Hầu hết các mỏ lộ

Mỏ Cọc Sáu

Page 11


Với trên 100 năm khai thác, hiện nay trữ lượng còn lại của than Cọc Sáu TC6 là không nhiều,
chỉ còn khoảng 33 triệu tấn. Thời gian khai thác còn lại khoảng từ 8-10 năm, TC6 không được
đánh giá cao về tiềm năng do trữ lượng các mỏ than đã gần cạn kiệt.
Than Cao Sơn

Đây là một trong những công ty được đánh giá khá cao về chất lượng than và trữ lượng dồi
dào khoảng 170 triệu tấn (đủ khai thác trong 70 năm nữa với công suất khai thác tại thời điểm
này). Theo đánh giá Than Cao Sơn là một trong những mỏ có chất lượng than tốt.
b. Khai thác hầm lò:
Hiện nay, cả nước có trên 30 mỏ than hầm lò đang hoạt động. Trong đó, có 8 mỏ có
trữ lượng lớn, có công nghệ và cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, với sản lượng tương đối lớn: 9001300 ngàn tấn/năm. Các mỏ còn lại có sản lượng khai thác dưới 500 ngàn tấn/năm. Sơ đồ mở
vỉa trên mức thông thủy là lò bằng xuyên vỉa, dưới mực thông thủy tự nhiên là giếng nghiêng
kết hợp với lò bằng và chỉ có duy nhất Công ty than Mông Dương là mở vỉa băng giếng đứng.
Hệ thống khai thác phổ biến nhất là cột dài theo phương- Chiều dài lò chợ khi thai thác
chống cột thủy lực đơn hoặc giá thủy lực di động là 100-150m, sản lò chợ là 100-150 ngàn
tấn/năm; khi chống gỗ là 60-100m, sản lượng 50-60 ngàn tấn/năm. Ngoài ra hiện đang sử
dụng một số hệ thống khai thác như: Chia lớp ngang nghiêng, khai thác dưới dàn mềm đối với
các vỉa dốc trên 50°, song những nghệ này chưa hoàn thiện, năng xuất thấp. Hiện nay, toàn
vùng Quảng Ninh có một lò chợ cơ giới hóa toàn bộ, bước đầu cho kết quả tốt, sản lượng đạt
200 ngàn tấn/năm.
 Một số mỏ than khai thác lộ hầm lò ở Quảng Ninh:
* Than Mông Dương (HNX: MDC)
MDC có trữ lượng khai thác còn lại thấp nhất, chỉ còn hơn 10 triệu tấn, công ty chỉ
còn khai thác lộ thiên được trong 2 năm nữa sau đó phải chuyển sang khai thác hầm lò hoàn
toàn.

vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn thuỷ sinh, suy giảm chất lượng nước…
* Tình hình ô nhiễm ở một số địa phương:
Vùng Hòn Gai - Cẩm Phả: Nước ở đây đã thay đổi cơ bản giàu ion sunfat, giảm ion
bicacbonat, mang tính axit.Nguồn nước bị suy giảm cả về chất lượng và trữ lượng. Kết quả
điều tra tại 150 giếng khoan, mạch lộ với kết quả 64 mẫu nước cho thấy, nguồn nước đã bị ô
nhiễm đặc biệt là nhiễm bẩn Nitơ. Nguồn nước ở đây bị cạn kiệt, hiện 100% số hộ dân trong
thôn không có nước sạch để dùng.
Page 14


Ở khu vực Đông Triều-Uông Bí nước bị nhiễm khuẩn coliform với hàm lượng khá
cao, đặc biệt ở hồ Nội Hoàng Tràng Bạch, khuẩn coliform vượt hơn 86 lần. Cặn lơ lửng, BOD
trong nước suối Lép Mỹ, Khe Tam vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nước bị chua hoá, gây khó
khăn lớn cho sản xuất nông nghiệp tại đây.
b. Ô nhiễm không khí.
-

Ô nhiễm Bụi:
Rất nhiều đô thị của tỉnh Quảng Ninh bị ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm bụi do

hoạt động khai thác than, tuyển than và vận chuyển than gây ra, như Hòn Gai, Cẩm Phả,
Uông Bí,…
Ở tất cả các công đoạn sản xuất mỏ đều sinh ra bụi. Theo thống kê, khi khai thác 1000
tấn than ở mỏ hầm lò tạo ra 11-12 kg bụi, còn ở mỏ lộ thiên mức độ này gấp 2 lần.Ở các mỏ
lộ thiên, nồng độ bụi quanh máy xúc khi làm việc lên tới 400 mg/m3, khi phá nổ đất đá 1m3
bằng mìn nổ sinh ra 0,027-0,17kg bụi.

Page 15



làm việc, nhiều công nhân mắc các bệnh về tai, họng...
Ra khỏi các khu khai thác, các xe tải vận chuyển than qua các trục đường quốc lộ cũng
khiến người dân phải chịu hàng ngày.

Hoạt động khai thác không chỉ gây ô nhiễm không khí và nước ngầm, mà nó còn
khiến nhiều khu danh lam thắng cảnh chịu những tác động không nhỏ. Vì vậy cần có
những giải pháp khác phục ô nhiễm để khai thác một cách lâu dài, giảm thiểu ảnh hưởng
tới người dân.
4. Biện pháp


Công nghệ khai thác.

Đối với mỏ khai thác hầm lò:
-

Đẩy mạnh việc cơ giới hóa trong việc đào lò xây dựng cơ bản.

Page 17


-

Tăng chiều dài lò chợ lên 200-300m khi nấu than bằng máy liên hợp; tăng chiều cao
khấu đến 3m khi chống bằng cột thủy lực đơn và 4m khi dùng dàn chống, tăng chiều
dài theo phương một cánh khu khai thác lên 500-700m.

-

Cơ giới hóa việc chống lò chợ bằng cột thủy lực đơn- xà khớp và giá thủy lực.

bằng máy xúc thủy lực.

-

Tiếp tục áp dụng hệ thống khai thác khấu theo lớp đứng để nâng cao góc dốc bờ công
tác lên 25 - 27 độ.

-

Đưa vào áp dụng công nghệ vận tải liên tục (băng tải) để tăng năng suát vận tải, giảm
thiểu ô nhiễm môi trường.

-

Hoàn thiện công nghệ phá vỡ đất đá bằng máy xới và nổ mìn trong môi trường nước.

Page 18




Biện pháp giảm thiểu ô nhiễm

Đối với ô nhiễm nguồn nước
-

Nạo vét song suối đã bị bồi lấp.

-



Bê tông hóa đường vận chuyển đất đá.

-

Dùng Xyclon và các thiết bị lọc bụi tĩnh điện trong các nhà máy sàng tuyển.

-

Hệ thống thông gió phù hợp trong các hầm lò.

-

Trồng các giải cây xanh bên đường.

Page 19


III. Dầu mỏ:

1.Khái niệm
a) Khái niệm
Dầu mỏ được hình thành cách đây hàng triệu năm do sự phân giải của các phiêu sinh
thực vật, phiêu sinh động vật. Sự lắng kết của các loại sinh vật kể trên cùng với sự liên tầng
của các sa thạch và đá vôi khiến cho dầu mỏ được hình thành và giữ lại trong lòng đất.
b) Mỏ dầu ở Việt Nam
Trữ lượng dầu của Việt Nam tính đến 31/12/2004 cho 24 mỏ có khả năng thương mại
vào khoảng 402 triệu tấn.
Trữ lượng dầu được tăng hàng năm rất nhanh kể từ năm 1988 sau khi phát hiện dầu
trong móng nứt nẻ trước Đệ Tam ở mỏ Bạch Hổ. Năm 1988, trữ lượng ước tính vào khoảng


Page 22


Page 23


 Mỏ Bạch Hổ

Bạch Hổ là mỏ dầu lớn nhất trên thềm lục địa nước ta, là nguồn cung cấp dầu chủ yếu cho
Việt Nam hiện nay, nằm phía đông nam, cách bờ biển Vũng Tàu 145km. Mỏ có trữ lượng
khoảng 300 triệu tấn và được khai thác thương mại từ giữa năm 1986.
Đơn vị khai thác mỏ này là Xí nghiệp liên doanh Dầu khí Việt-Xô (Vietsovpetro)
thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN). Mỗi ngày Vietsovpetro khai thác được từ
mỏ này 38.000 tấn dầu thô, chiếm đến 80% sản lượng dầu thô của Việt Nam.
Dầu thô Bạch Hổ thuộc loại phẩm chất tốt, dễ lọc, gọi là "dầu ngọt", vì nó chứa ít chất lưu
huỳnh, tác hại mài mòn dụng cụ rất thấp, giá bán rất cao trên thị trường quốc tế.
Từ mỏ này có đường ống dẫn khí đồng hành vào bờ cung cấp cho nhà máy khí hóa
lỏng Dinh Cố, nhà máy điện Bà Rịa và Trung tâm điện lực Phú Mỹ cách Vũng Tàu 40 km.
Mỏ Bạch Hổ hiện đang khai thác bằng chế độ tự phun, góp phần không nhỏ cho nền kinh tế
nước nhà.
Tuy nhiên, theo thống kê, sau hơn 20 năm, sản lượng dầu thô Bạch Hổ đang giảm
mạnh. Năm 2009, sản lượng dầu thô khai thác được vào khoảng 5,4 triệu tấn nhưng con số
này chỉ là 3,81 triệu tấn vào năm 2012. Dự kiến, năm 2013 sẽ khai thác khoảng 3,43 triệu tấn
dầu thô.

Page 24


 Mỏ Sư Tử Đen


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status