LỜI NÓI ĐẦU
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, càng đặc biệt hơn khi dân số tăng nhanh diện tích đất đang sử dụng tối
đa, nhu cầu về lương thực đang được toàn thế giới quan tâm. Sở dĩ đất đai luôn là đối
tượng tranh chấp giữa các tầng lớp nhân dân trong xã hội vì nó có vai trò rất lớn
trong cuộc sống của con người. Đất luôn là điểm tựa mà trên đó con người luôn sinh
sống, xây dựng nhà cửa, các công trình văn hóa, kho tàng, bến bãi... Đất là tư liệu sản
xuất quan trọng trong một số ngành sản xuất như: Nông nghiệp, lâm nghiệp, và một
số ngành nghề quan trọng khác. Vậy vấn đề đặt ra là quản lý, sử dụng như thế nào
phát huy tối đa giá trị của đất.
Do đặc điểm vị trí đất đai là cố định và diện tích không thay đổi, nhưng nhu cầu
về đất ngày càng tăng chính vì thế mà nhu cầu sử dụng đất và nhà ở luôn là áp lực,
luôn là vấn đề quan trọng của những nhà quản lý sao cho việc sử dụng đất đai là hợp
lý nhất, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế, xã hội, với tình hình chung của đất
nước.
Một trong những nhiệm vụ cấp bách của công cuộc cải cách nền hành chính của
nước ta hiện nay, là phải đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, làm sao cho
các khiếu kiện của công dân được giải quyết nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả, hiệu
lực. Để góp phần làm tốt công tác giải quyết khiếu kiện của công dân là phải nói đến
vai trò công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở phường xã. Trong thời gian qua, Đảng
bộ phường Bình Đức luôn lãnh, chỉ đạo các cấp ủy, UBND phường và 06 khóm
thuộc phường, quan tâm thực hiện tốt công tác giải quyết tranh chấp đất đai, để từng
bước ổn định về tổ chức, cơ cấu, bảo đảm về chất lượng, số lượng. Đến nay, toàn
phường có 01 Ban hòa giải phường và 06 Tổ hòa giải của 06 khóm với 64 hòa giải
viên. Hòa giải viên chủ yếu là những cán bộ tư pháp, địa chính, xây dựng, đô thị, môi
trường với các đại diện các đoàn thể: Mặt trận, Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Thanh tra
nhân dân, Cựu chiến binh, Chi hội luật gia... có kiến thức pháp luật nhất định, có bề
dày về thực tiễn đời sống. Từ khi Tổ hòa giải được thành lập ở các địa bàn dân cư
theo Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở, các tranh chấp nhỏ phát sinh
Như vậy, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia
quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất
đai.
1.1.2. Đối tượng củ a tranh ch ấp đấ t đai
Đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi
ích phát sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu
của các bên tranh chấp.
1.1.3. c hủ thể củ a tranh ch ấ p đ ất đai
Các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có
quyền sở hữu đối với đất đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa
trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép
nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng.
Chủ thể của các tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể của quá trình sử dụng đất
đai. Các bên tham gia tranh chấp đất đai không phải là chủ sở hữu đất đai mà
họ chỉ được Nhà nước chuyển giao đất cho sử dụng trong khuôn khổ pháp luật
quy định. Đối tượng tranh chấp đất đai của các chủ thể ở đây là quyền sử dụng
4
một tài sản đặc biệt, nó không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu
của Nhà nước.
Các chủ thể khi tham gia vào quan hệ xã hội không phải lúc nào cũng có chung
quan điểm về các vấn đề trong quan hệ pháp luật, vì thế sẽ dẫn đến những bất đồng ý
kiến, những mâu thuẫn nhất định. Hiện tượng đó được thể hiện bằng những hành
động cụ thể và người ta gọi đó là sự tranh chấp.
1.1.4.
Nội dung củ a tranh ch ấp đất đai
xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Việc hòa giải phải được lập
thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải
không thành của UBND xã, phường, thị trấn.”
“UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp có nhiệm vụ tổ chức hòa giải, hướng dẫn,
giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau
những tranh chấp về quyền sử dụng đất mà các bên tranh chấp không tự hòa giải
được ở Tổ hòa giải cơ sở.”
* c ác vụ việc s au đây không được h ò a giải :
Theo khoản 3 Điều 13 của Quy định về việc giải quyết tranh chấp đất đai và
giải quyết khiếu nại về đất đai, được ban hành kèm theo Quyết định số 21/2012/QĐUBND, ngày 06 tháng 8 năm 2012 của UBND tỉnh An Giang.
“Không hòa giải các tranh chấp phát sinh do các hành vi vi phạm pháp luật về
đất đai mà theo quy định của pháp luật phải bị xử lý hành chính hoặc hình sự.”
1.2. VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA C ÔNG TÁC GIẢI QUYẾT TRANH CH P Đ
TĐCS
Vai trò giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở là giải thích những quy định pháp
luật, hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận tự
nguyện giải quyết với nhau những việc tranh chấp mà các bên không tự thỏa thuận
được, trên tinh thần đạo lý, thuần phong mỹ tục, tình làng nghĩa xóm, quy định của
pháp luật, nhằm giữ gìn đoàn kết trong nội bộ nhân dân, củng cố phát huy những tình
cảm và đạo lý truyền thống tốt đẹp và phòng ngừa hạn chế vi phạm pháp luật, đảm
bảo trật tự, an toàn xã hội trong gia đình và cộng đồng dân cư.
Kinh nghiệm cho thấy, khi làm tốt công tác giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở
thì tình hình an ninh, trật tự được giữ vững, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã
hội, nâng cao đời sống người dân. Ngược lại, nếu còn coi nhẹ công tác giải quyết
tranh chấp đất đai, tình hình mâu thuẫn, tranh chấp có chiều hướng tăng, dẫn đến mất
trật tự, trị an xã hội. Thông thường, những mâu thuẫn, va chạm trong cuộc sống, lúc
đầu đơn giản, nhưng do không được quan tâm giải quyết kịp thời cho nên đã nhanh
chóng trở thành phức tạp, thậm chí là nguyên nhân xuất hiện những “Điểm nóng” về
dân tộc trong môi trường hiện đại hóa; phòng ngừa, hạn chế vi phạm pháp luật; thay
thế việc kiện tụng bằng việc thỏa thuận, giúp tiết kiệm thời gian, tiền bạc của Nhà
nước và nhân dân cho việc giải quyết tranh chấp đất đai.
1.3. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA VỀ C ÔNG TÁC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở C ơ SỞ
1.3.1. Quan điểm của Đảng
Đoàn kết luôn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đó là lẽ sống của nhân dân
ta. Tinh thần ấy đã được minh chứng trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ
nước của dân tộc. Cho đến ngày nay, chúng ta vẫn còn lưu truyền nhiều câu ca dao
tục ngữ nói lên tinh thần đoàn kết như: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong
một nước phải thương nhau cùng”; “L á lành đùm lá rách”; “Bà con xa không bằng
láng giềng gần”...
Quan điểm của Đảng ta là lấy hòa giải làm phương châm giải quyết các tranh
chấp, xích mích, mâu thuẫn xảy ra trong nội bộ nhân dân. Vì vậy, khi việc tranh chấp,
xích mích, mâu thuẫn của nhân dân đưa đến chính quyền cấp cơ sở thì cách giải quyết
chủ yếu là hòa giải.
Về quan điểm công tác hòa giải ở cơ sở, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng
nhắc nhở cán bộ xử lý tại lớp huấn luyện tư pháp toàn quốc năm 1950 là: “Các cô,
các chú xét xử đúng là tốt nhưng nếu không xét xử thì càng tốt hơn”.
8
Qua đó, Người cũng đã có ý muốn nhắc nhở ch ng ta là phải hết sức ch trọng đến
công tác hòa giải, giúp cho mọi người sống hòa thuận, đoàn kết với nhau, cùng nhau
giải quyết hết các vụ tranh chấp, bất đồng để khỏi phải đưa đến xét xử ở các cơ quan
thẩm quyền.
1.3.2. Qu an điểm củ a Nh à nước
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng khi tiến hành hoạt động công tác giải
quyết tranh chấp đất đai phải tuân thủ một cách đầy đủ, toàn diện và nghiêm túc, phải
phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của
Chính
phủ về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
-
Nghị
định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về
bổ
sửa đổi,
sung Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất.
- Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 065/12/2007 của Bộ Tài Hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123/2007/NĐ-CP
ngày 27/7/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
188/2004/NĐ-CP.
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung
về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
- Thông tư 151/2010/TT-BTC ngày 27/09/2010 của Bộ Tài chính Hướng dẫn
áp dụng các loại thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước đối với quỹ phát triển đất
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất.
- Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền
thuê đất, thuê mặt nước.
- Nghị định 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ
về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29/06/2011 của Bộ Tài chính Sửa đổi, bổ
sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính
hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của
Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ Về sửa đổi, bổ
sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số
187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần.
- Thông tư liên tịch số 01/2003/TTL T-BTNMT-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân về quản lý tài nguyên và
môi trường ở địa phương.
- Quyết định số 25/2010/QĐ-UBND, ngày 29/4/2010 của UBND tỉnh An
Giang về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất trên địa bàn tỉnh An Giang.
- Quyết định số 39/2009/QĐ-UBND, ngày 10/9/2009 của UBND tỉnh An
Giang về việc ban hành Quy chế quản lý đất công trên địa bàn tỉnh An Giang.
- Quyết định số 45/2011/QĐ-UBND, ngày 30/9/2011 của UBND tỉnh An
Giang về việc ban hành quy định về đơn giản hóa các thủ tục hành chính trong quản
lý quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh
An Giang.
- Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND ngày 06/8/2012 của UBND tỉnh An Giang
TR NH CH P Đ T Đ PH N B NH Đ C
2. 2. 1 . Tổ chức hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai ở Phường Bình
Đ
Ban Hòa giải phường Bình Đức được thành lập gồm 11 thành viên.
- Chủ tịch UBND làm Trưởng ban hòa giải.
- Cán bộ Tư pháp làm Phó Trưởng Ban thường trực.
- Mời Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc làm Phó Trưởng ban.
- Các thành viên bao gồm: Chi hội trưởng Chi hội L uật gia, Trưởng ban Thanh
tra nhân dân, Chủ tịch Hội phụ nữ, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Bí thư Phường
đoàn, Trưởng Công an, cán bộ Văn phòng, Địa chính - Xây dựng, Đô thị - Môi
trường - Giao thông.
Tổ Hòa giải ở các khóm: có 06 tổ ở 06 khóm với 64 thành viên.
- Trưởng khóm làm Tổ trưởng Tổ hòa giải.
- Mời các thành viên tham gia: Chi hội trưởng Hội phụ nữ, Bí thư Chi đoàn
thanh niên, Chi hội trưởng Hội cựu chiến binh.
2 . 2 . 2 . Trình tự thủ tụ c khi thực hiện giải quy ết tranh ch ấp đấ t đai
2.2.2.1.
Tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai
Việc tiếp nhận và xử lý đơn thư khiếu nại, tranh chấp đất đai, do cán bộ Một
cửa thuộc Văn phòng UBND phường tiếp nhận, theo quy định tại Điều 5 của Quy
định tiếp công dân, giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết khiếu nại về đất đai,
được ban hành kèm theo Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND, ngày 06 tháng 8 năm
2012 của UBND tỉnh An Giang, cụ thể như sau:
* Tiếp nhận hồ sơ:
Đơn tranh chấp đất đai phải thể hiện nội dung tranh chấp: Diện tích, vị trí đất
tranh chấp; quá trình sử dụng đất; các tài liệu đính kèm nhằm chứng minh
diện ủy quyền. Văn bản ủy quyền có thể nộp sau khi cán bộ thụ lý mời đến.
Trường hợp một người tranh chấp với nhiều người thì mỗi một tranh chấp phải
làm đơn riêng.
Đơn không đúng thẩm quyền gửi qua đường bưu điện thì cán bộ tiếp dân gửi
giấy báo mời người gửi đơn đến hướng dẫn hoặc thông báo bằng văn bản cho người
gửi đơn biết nơi có thẩm quyền giải quyết (chỉ hướng dẫn 01 lần).
Đơn tranh chấp do đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoặc các cơ quan báo chí
chuyển đến, nếu thuộc thẩm quyền giải quyết thì thụ lý giải quyết và thông báo bằng
văn bản cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã chuyển đơn đến biết; nếu đơn tranh
chấp không thuộc thẩm quyền giải quyết thì gửi trả lại và thông báo bằng văn bản
cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã chuyển đơn biết.
2.2.2.2. Thực hiện giải quyết tranh chấp đất đai
Trình tự thực hiện hòa giải thực hiện theo quy định tại Mục II I (từ Điều 10 đến
Điều 14) của Quy định về việc giải quyết tranh chấp đất đai, được ban hành kèm theo
Quyết định số 21/2012/QĐ-UBND, ngày 06 tháng 8 năm 2012 của UBND tỉnh An
Giang, cụ thể như sau:
Cán bộ được phân công thụ đơn phải đọc kỹ nội dung đơn, nghiên cứu kỹ các
giấy tờ liên quan, xác định dạng tranh chấp thuộc dạng nào (thừa kế, đòi đất, ranh
đất, lối đi, ký tên tứ cận, môi trường, không gian,... giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá
nhân với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức) để có hướng giải quyết phù hợp.
Mời trao đổi độc lập với các bên tranh chấp, ghi nhận ý kiến trình bày của
các bên bằng biên bản, từ đó phân tích nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, đồng
thời xác định được những vấn đề cần xác minh. Việc ghi nhận ý kiến trình bày
của các bên đòi hỏi người giải quyết phải có tính kiên nhẫn, nhạy bén phân tích
16
vấn đề, sàn lọc thông tin, đối chiếu thông tin của hai bên và phân tích một cách khách
quan vấn đề. Tránh việc kết luận vấn đề vội vàng, chủ quan dẫn đến kết quả không
2.3.
J.J. Những mặt đạt được
*
Đối với Ban hòa giải
Trong năm 2012 đến nay tháng 4/2013 đã nhận 20 đơn tranh chấp đất đai:
Tranh chấp ranh đất 13 đơn, tranh chấp đòi đất 02 đơn, ký tứ cận 02 đơn, lối đi 02
đơn, tranh chấp đất thừa kế trong gia tộc 01 đơn.
Qua xác minh làm rõ sự việc, Ban hòa giải đã đưa ra hòa giải 20 đơn, đạt tỉ lệ
100%. Ban hòa giải đã tiến hành hòa giải cho các bên tranh chấp tự thỏa thuận về
quyền và lợi ích của mình, qua đó vận động, thuyết phục, đưa ra các lý lẽ thực tế và
các cơ sở pháp lý; kết quả hòa giải của Ban hòa giải trong năm 2012 như sau: Hòa
giải thành 12/20 vụ, đạt tỉ lệ 60%; hòa giải không thành chuyển về trên giải quyết 07
vụ; hòa giải chưa thành tiếp tục hòa giải 01 vụ.
*
Đối với Tổ hòa giải
Trong năm 2012, các Tổ hòa giải khóm đã tiếp nhận tổng số 29 đơn tranh chấp
đất đai. Tổ hòa giải đã đưa ra hòa giải 29 đơn, đạt tỉ lệ 100%. Sau khi hòa giải, kết
quả hòa giải thành 17/29 vụ, đạt tỉ lệ 58,62 %; hòa giải không thành chuyển về Ban
hòa giải phường hòa giải tiếp 12 vụ.
2.3.I.2.
Nguyên nhân
Được sự quan tâm lãnh chỉ đạo của Đảng ủy, UBND phường theo dõi đôn đốc,
nhân trong từng công việc cụ thể, thông qua công tác hòa giải ở cơ sở, hình thành
trong mỗi người dân về nhân cách và ý thức thượng tôn pháp luật.
Ngoài ra thông qua công tác hòa giải, Ban hòa giải và Tổ hòa giải đã làm tốt
công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, tạo ý thức sống và làm việc theo
Hiến pháp, pháp luật trong quần chúng nhân dân.
2.3.2.
Mặt hạn chế và nguy ên nhân
2.3.2.1.
Mặt hạn chế
Trong thời gian qua, công tác hòa giải ở cơ sở đã đem lại kết quả đáng kể, góp
phần rất lớn làm hạn chế vi phạm pháp luật, bảo đảm an toàn xã hội, tăng cường mối
đoàn kết tình làng nghĩa xóm. Tuy nhiên, hoạt động của công tác này còn những hạn
chế nhất định.
Công tác phối hợp Ban hòa giải phường đôi lúc còn hạn chế, do các thành viên
còn phải thực hiện công tác chuyên môn của mình, cán bộ đoàn thể thường không ổn
định, luân chuyển, thay đổi, những người mới được bổ sung và người trẻ thì có kiến
thức, nhiệt tình nhưng thiếu kinh nghiệm và chưa quen việc, giải thích chưa mang
tính thuyết phục cao trong khi đó, các việc hòa giải những năm gần đây có tính chất
phức tạp, từ đó không kế thừa được tính hiệu quả liên tục.
2.3.2.1.
Nguyên nhân
Hòa giải viên ở các tổ hòa giải do tính chất nhân dân, nên thường xuyên thay
đổi không ổn định, trình độ hạn chế nhiều mặt, phải bồi dưỡng thường xuyên mới đủ
sức hoạt động và trình độ dân trí của một bộ phận dân cư thấp, không đồng đều nên
luật chưa đồng bộ dẫn đến việc áp dụng thiếu nhất quán, vẫn còn những vụ việc tồn
đọng, kéo dài.
Việc tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật nói chung trên các phương tiện
thông tin đại chúng, trong cộng đồng dân cư chưa thường xuyên nên nhận thức của
một bộ phận nhân dân về pháp luật còn mơ hồ, cũng dẫn đến phát sinh các khiếu
kiện.
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG
TÁC GIẢI QUYÉ T TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở PHƯỜNG BÌNH
ĐỨC - THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG
Trong thời gian qua, công tác hòa giải tuy đã đạt được một số kết quả nhất định,
nhưng vẫn còn tồn tại những khó khăn và bất cập. Để nâng cao hơn nữa chất lượng
hoạt động hòa giải trong thời gian tới vấn đề bức xúc đặt ra hiện nay là:
Ban hòa giải cần đưa ra giải quyết hết các vụ còn tồn đọng, tránh kéo dài thời
gian nhằm mang lại kết quả tốt đẹp cho các bên tranh chấp, hàn gắn lại tình cảm và
ngăn ngừa đơn thư khiếu kiện vượt cấp do nhân dân chờ lâu chưa giải quyết.
Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ về hoạt động hòa giải giữa các cơ quan nhà
nước với các tổ chức đoàn thể, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng. Có kế hoạch vận
động nhân dân tham gia vào việc hòa giải với phương châm “Ở mọi lúc mọi nơi” khi
xảy ra tranh chấp, xung đột mâu thuẫn của nhân dân trong cùng một địa bàn dân cư.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân để
nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho người dân. Đồng thời trang bị thêm các văn
bản, các quy định pháp luật mới cho tủ sách pháp luật ở phường, khóm, đáp ứng nhu
cầu tìm hiểu pháp luật của nhân dân.
Cần tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở
nhằm củng cố, kiện toàn tổ chức của Ban hòa giải, Tổ hòa giải đổi mới phương thức
hoạt động hòa giải ở cơ sở. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ Tư
gia đình văn hóa, về đoàn kết dân tộc, yêu quê hương đất nước, nêu cao đạo đức xã
hội, tình làng nghĩa xóm để nhân dân tự thỏa thuận và giải quyết khi có tranh chấp
xảy ra.
Tăng cường sự quản lý hành chính về đất đai, kiên quyết xử phạt hành chính đối
với những trường hợp cố tình vi phạp hành chính trong lĩnh vực quản lý và sử dụng
đất đai theo quy định nhằm hạn chế việc tranh chấp đất trong dân.
Thực hiện tốt chế độ tiếp dân theo quy định để giải quyết kịp thời các vụ việc
của công dân, phân công cán bộ chuyên môn và trực tiếp tham gia cùng Ban hòa giải
trong việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong nhân dân.
3.2.2
. T ăng cường sự phối hợp giữa cá c ban, ng ành 1 à th ành viên củ a
Mặt trận T ổ quố c trong ho ạt động giải quy ết tranh ch ấp đất đ ai
Trên cơ sở phát huy vai trò của các thành viên, UBMTTQ phải xây dựng quy
chế hoạt động và phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng cho từng thành viên đảm bảo
tham gia tốt các hoạt động hòa giải ở cơ sở, gắn kết công tác hòa giải với các phong
trào hành động khác ở địa phương, góp phần tăng cường sự đoàn kết trong nội bộ và
quần chúng nhân dân, xây dựng và củng cố tổ hòa giải, giúp đỡ tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động hòa giải ở cơ sở tham gia vào hoạt động hòa giải theo quy định của
pháp luật.
Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng nhân dân tham gia các phong trào
quần chúng ở địa phương như: Phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc xây dựng nếp sống
văn minh, gia đình văn hóa,... gắn kết với công tác hòa giải ở cơ sở. Từ đó tích cực
tham gia vào củng cố, xây dựng tổ hòa giải ở cơ sở, xây dựng tình đoàn kết, tương
thân, tương ái, trong cộng đồng dân cư.
ủy ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp cùng Ban tư pháp phường thường xuyên rà
soát củng cố, nâng chất hoạt động của các Tổ hòa giải, Ban hòa giải, kịp thời tham
3.2.5. Việc X ác minh, điều tra, thu thập chứng cứ trong công tác giải quyết
tranh chấp đất đai
Trong quá trình thu thập chứng cứ, điều tra và xác minh sự việc để đưa ra hòa
giải, chúng ta cần áp dụng những tiến bộ của khoa học để lấy thông tin như: Máy ghi
âm, máy chụp hình, máy quay phim... từ chứng cứ khi thu thập được sẽ rõ ràng, cụ
thể hơn, các hòa giải viên sẽ nắm sự việc và phân tích sâu hơn, vận dụng nó tùy vào
các tình huống phù hợp. Chúng ta có nhiều cơ sở, lý lẽ qua việc cần hòa giải s ẻ
thuyết phục cao được các bên tranh chấp và cuộc hòa giải sẽ có hiệu quả rất nhiều.
3.2.6. Đối với Đảng ủy - UBND Phường
Quan tâm lãnh chỉ đạo hơn nữa đối với hoạt động hòa giải ở địa phương nhất là
đối với các Tổ hòa giải ở khóm. Thường xuyên kiểm tra và góp ý chỉ đạo cán bộ làm
công tác hòa giải luôn có ý thức trách nhiệm, có chuyên môn cao, tôn trọng sự thật
khách quan trong quá trình xác minh sự việc và tham mưu hướng hòa giải tốt.
Tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí cho việc kiện toàn tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ
hòa giải. Tổ chức sơ, tổng kết, thi đua khen thưởng nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải
ở địa phương. Bố trí cán bộ làm công tác hòa giải đảm bảo ổn định lâu dài, đúng trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực đạt yêu cầu đề ra.
Chỉ đạo Ban hòa giải, Tổ hòa giải thường xuyên báo cáo kết quả, những khó
khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện công tác hòa giải để có biện pháp giải quyết
kịp thời; chỉ đạo đài truyền thanh đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật
của Nhà nước và ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở.
Tăng cường công tác quản lý hành chính về đất đai, xử lý triệt để những vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Không thực hiện hòa giải, đồng thời xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
đất đai đối với những trường hợp đã có quyền sử dụng đất nhưng cố tình lấn chiếm
sử dụng đất ngoài phạm vi quyền sử dụng đất.
3.2.7. Đối v ới cán b ộ Tư pháp và Địa chính phường
Tăng cường công tác phối hợp với Mặt trận trong việc tham mưu cho UBND