Áp dụng án treo trong xét xử các vụ án hình sự ở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên – Thực trạng và giải pháp - Pdf 29


1

LỜI NÓI ĐẦU
Trong Luật hình sự Việt Nam, án treo là một chế định vô cùng quan trọng,
thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, mang tính giáo dục cao, thể hiện tính
khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, góp phần đấu tranh phòng chống
và trừng trị tội phạm một cách tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của
hành vi phạm tội. Áp dụng chế định án treo một cách đúng đắn sẽ góp phần vào
việc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, thể hiện tính nhân văn, khoan hồng của
pháp luật, trừng trị tội phạm nhưng đồng thời tạo điều kiện cho người phạm tội hòa
nhập cuộc sống, tạo điều kiện thuận lợi cho họ sớm trở thành người có ích cho xã
hội. Ngược lại, nếu áp dụng chế định án treo sai, áp dụng một cách tùy tiện, không
có cơ sở pháp luật thì chế định án treo mất đi ý nghĩa của nó, không góp phần vào
đấu tranh phòng chống tội phạm, không khuyến khích và tạo điều kiện cho người
phạm tội hòa nhập vào cuộc sống. Áp dụng án treo sai sẽ làm mất đi ý nghĩa trừng
trị và giáo dục người phạm tội.
Chế định án treo đã được Luật hình sự qui định từ lâu, nhưng trong thực tiễn
áp dụng thì luôn có nhiều điều bất cập. Ở các Tòa án khác nhau và ở mỗi thẩm
phán khác nhau, việc áp dụng án treo còn nhiều khác biệt. Có không ít trường hợp,
do không hiểu cặn kẽ về án treo nên hội đồng xét xử áp dụng không đúng và cho
người hưởng án treo một cách tùy tiện và không ít trường hợp lợi dụng qui định
của pháp luật về án treo để vi phạm pháp luật. Cũng có những trường hợp đáng
cho hưởng án treo nhưng hội đồng xét xử không áp dụng.
Vì vậy, việc hiểu qui định của pháp luật về án treo cho đúng và việc áp dụng
án treo vào thực tiễn xét xử như thế nào cho chính xác luôn là vấn đề thời sự và
cần thiết. Chính lý do trên, tôi chọn đề tài:
“Áp dụng án treo trong xét xử các vụ án hình sự
ở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên – Thực trạng và giải pháp”
làm tiểu luận cuối khóa cho lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính.


người đó.

3

3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt
tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được
quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử
thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm
giám sát và giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách.
5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử
thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và
tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này”.
Từ những qui định trên, dưới góc độ pháp luật ta có thể định nghĩa án treo
như sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, kèm theo
một thời gian thử thách nhất định, được áp dụng đối với người bị xử phạt hình phạt
không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm
nhẹ, nếu xét thấy không cần áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội.
1.1.2 Án treo nhìn từ góc độ văn hóa: án treo là một nét đẹp trong cách ứng
xử. Đó là sự tha thứ, nhưng có điều kiện. Nó thể hiện tính nhân đạo, nhân văn
trong cách cư xử, trừng trị cái ác nhưng cũng biết tha thứ nếu họ thấy được lỗi lầm
và biết ăn năn hối cải. Án treo thể hiện tính bao dung cao quí cả người Việt Nam,
sẵn sàng dang rộng tay dìu dắt người lầm lỗi để hướng họ trở thành người lương
thiện và có ích cho xã hội.
1.1.3 Án treo nhìn từ góc độ kinh tế: Án treo là biện pháp đem lại hiệu quả
kinh tế cao vì nhà nước không phải tốn khoản kinh phí cho việc giam giữ người
phạm tội và người phạm tội được ở ngoài xã hội sẽ có khả năng lao động để tạo ra
của cải vật chất.
1.1.4 Án treo nhìn từ góc độ xã hội: Án treo thể hiện tính tích cực nhiều
hơn tiêu cực. Người phạm tội được cho hưởng án treo, đa số đều có những hành vi

dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp
hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt và Nghị định 61/2000/NĐ-CP
ngày 30/10/2000 của Chính phủ qui định về thi hành án treo. Để hiểu rõ hơn những
qui định của pháp luật liên quan đến chế định án treo, chúng ta cùng nhau tìm hiểu
một số nội dung cơ bản của pháp luật về án treo:

5

1.3.1 Bản chất pháp lý của chế định án treo
Từ những qui định của pháp luật về án treo, qua định nghĩa về án treo,
chúng ta có thể hiểu được bản chất pháp lý của án treo. Bản chất này có thể tóm
gọn như sau: án treo là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được
thể hiện trong việc Tòa án miễn chấp hành hình phạt tù đối với người phạm tội đã
được tuyên trong bản án với mức hình phạt tù có thời hạn không quá 03 năm và ấn
định thời gian thử thách từ 01 đến 05 năm đối với người phạm tội khi có đầy đủ
căn cứ và điều kiện do pháp luật hình sự qui định.
1.3.2 Những điều kiện để áp dụng án treo
Việc áp dụng án treo và thực tế xét xử phải được Tòa án cân nhắc một cách
kỹ lưỡng, tuân thủ nghiêm chỉnh vào các qui định trong luật hình sự, không được
áp dụng tùy tiện theo cảm tính chủ quan. Muốn áp dụng chế định án treo thì phải
căn cứ vào qui định tại Điều 60 BLHS. Chỉ khi nào có những căn cứ được qui định
tại Điều 60, đồng thời cân nhắc vào từng thời điểm đấu tranh phòng chống tội
phạm, yêu cầu chính trị tại địa phương, mà áp dụng chế định án treo cho chính xác.
Theo qui định tại Khoản 1 Điều 60 BLHS thì muốn áp dụng án treo phải có
các điều kiện sau:
1.3.2.1 Điều kiện về hình phạt
Người bị kết án chỉ có thể được hưởng án treo nếu người đó bị phạt tù không
quá 03 năm, không phân biệt người đó phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất
nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Tuy pháp luật không qui định, nhưng
thực tiễn xét xử ở Tòa án các cấp thì đa số các trường hợp cho hưởng án treo là

danh khác với khung hình phạt nhẹ hơn. Các tình tiết giảm nhẹ là một căn cứ quan
trọng để Tòa án cân nhắc trong quá trình xét xử xem có áp dụng hay không áp
dụng án treo đối với người phạm tội. Nếu người phạm tội không có tình tiết giảm
nhẹ, hoặc có nhưng không có ý nghĩa đáng kể thì Tòa án không thể cho người
phạm tội được hưởng án treo. Các tình tiết giảm nhẹ để xem xét áp dụng án treo có
thể là các tình tiết được qui định tại khoản 1 hoặc cũng có thể là các tình tiết được
qui định tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
7

1.3.2.4 Về mặt ảnh hưởng của người phạm tội đối với xã hội
Tùy trường hợp, Hội đồng xét xử áp dụng tiểu mục 6.1 mục 6 tại Nghị quyết
số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân
tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản
án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt (sau đây viết tắt
Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007): xét thấy nếu không bắt người
phạm tội đi chấp hành hình phạt tù thì người đó không gây nguy hiểm cho xã hội
cũng như ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đó có thể là
trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, lỗi vô ý, ăn năn hối cải
1.3.3 Thời gian thử thách của án treo
1.3.3.1 Khái quát chung về thời gian thử thách
Án treo khác với các loại hình phạt khác là Tòa án ấn định một thời gian thử
thách đối với người bị kết án, đó là qui định có tính bắt buộc nhằm ràng buộc
người bị kết án phải tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh bản án, tự răn đe mình.
Thời gian thử thách của án treo là một khoảng thời gian mà Tòa án ấn định để thử
thách người bị kết án được hưởng án treo, nếu hết thời gian đó mà người bị kết án
không phạm tội mới, thì hình phạt tù mà Tòa án đã tuyên đối với người bị kết án sẽ
không phải thi hành. Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách mà người bị kết án

thách
Những điều kiện này là những đòi hỏi có tính chất bắt buộc về mặt pháp lý
mà người được hưởng án treo phải chấp hành trong thời gian thử thách. Chỉ khi
nào người được hưởng án treo đã thực hiện đầy đủ những đòi hỏi này, thì người
được hưởng án treo mới được Tòa án miễn chấp hành hình phạt tù và được qui
định cụ thể tại khoản 2 và 3 Điều 60 BLHS như: Phải chịu sự giám sát giáo dục
của cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi
người đó thường trú. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung
là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
được quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.
9

1.3.4 Quyền và nghĩa vụ của người được hưởng án treo
Quyền và nghĩa vụ của người được hưởng án treo không được qui định trong
Bộ luật hình sự 1985 và 1999, nhưng lại được qui định trong Nghị quyết số
01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 và Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày
30/10/2000 của Chính phủ qui định về thi hành án treo. Cụ thể như sau: Chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước; Ghi chép đầy đủ các nội dung quy định
trong sổ theo dõi người được hưởng án treo và nộp lại cho người trực tiếp giám sát,
giáo dục khi hết thời gian thử thách; Người được hưởng án treo được rút ngắn thời
gian thử thách khi có đủ các điều kiện pháp luật qui định
1.3.5 Tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo
phạm tội mới trong thời gian thử thách
Theo qui định tại khoản 5 Điều 60 BLHS, nếu người được hưởng án treo mà
phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành
hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui dịnh
tại Điều 51 BLHS. Qui định này có khác so với qui định trước đây của BLHS

kết, cần cù, năng động, sáng tạo, những năm qua Đảng bộ và nhân dân Long
Xuyên đã đoàn kết nhất trí, phát huy nội lực, tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành, các
cấp, tập trung mọi nguồn lực để xây dựng, phát triển Thành phố xứng đáng với vai
trò và vị trí là trung tâm kinh tế - chính trị của tỉnh An Giang và đạt được những
kết quả đáng kể.
Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang nói chung và ở
Thành phố Long Xuyên chưa đồng đều, đời sống bộ phận không nhỏ dân cư vẫn
còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, nhất là ở những vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào Khơme, trình độ dân trí còn thấp, tỷ lệ thất nghiệp chiếm tỷ lệ
cao, những tác động xấu của nền kinh tế thị trường đến người dân như tâm lý tham
lam, hám lợi, nhu cầu vật chất ngày càng cao, muốn có nhiều tiền tiêu xài nhưng
lười lao động hoặc nghề nghiệp không ổn định, muốn làm giàu bằng mọi cách kể
cả bằng các việc làm phi pháp trong bộ phận dân cư. Đây chính là nhân tố thúc đẩy
bộ phận dân cư tham gia vào con đường phạm tội làm cho tình hình vi phạm pháp
luật, tội phạm hình sự, tệ nạn xã hội gia tăng. 11

2.2 Kết quả áp dụng án treo thời gian qua
2.2.1 Tình hình chung
Theo số liệu báo cáo tổng kết công tác xét xử năm 2012 của Ngành tòa án
nói chung và tỉnh An Giang cũng như tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên
đã nêu cụ thể về kết quả đã đạt được trong công tác của Ngành, cũng như về công
tác xét xử án hình sự, trong đó có việc cho hưởng án treo. Ở đây, tác giả muốn đề
cập đến số liệu án treo như sau:
Tính từ ngày 01/10/2011 đến ngày 30/9/2012, số bị cáo bị phạt tù cho hưởng
án treo thể hiện:
- Toàn ngành Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự quân khu, khu vực đã xét
xử sơ thẩm tổng số 67.369 vụ với 122.960 bị cáo, trong đó xử phạt tù cho hưởng

các cổ động viên khác đã lợi dụng việc cổ vũ bóng để vi phạm pháp luật. Trong đó,
Thảo và Hợp giữ vai trò chính, thực hiện tội phạm rất tích cực, chuẩn bị sẵn pháo
và phát cho các cổ động viên, hò hét, chửi bới, kính động các cổ động viên gây rối
trật tự công cộng, ném gạch đá, vỏ chai, khiêu khích, đập phá tài sản của người đi
đường; cản trở người thi hành công vụ, đập phá xe của Cảnh sát, đèn tín hiệu giao
thông, vòi bơm xăng…Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại lên trên 29 triệu đồng. Như
vậy, các bị cáo đã phạm nhiều tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản
02 Điều 245 BLHS, hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài, tại nhiều địa điểm
khác nhau, gây thiệt hại tài sản của công dân, xâm phạm nghiêm trọng đến an toàn
công cộng, trật tự công cộng. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 02 Điều 245 và
khoản 01 Điều 143 BLHS để xử phạt Hoàng văn Thảo, Hoàng Duy Hợp – mỗi bị
cáo 18 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài
sản”. Tổng hợp hình phạt 02 tội là 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Đỗ Văn
Tú bị xử phạt 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” nhưng cho hưởng án
treo theo khoản 02 Điều 245 BLHS.
Việc xét xử các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình
phạt quy định đã là nhẹ, đồng thời lại cho các bị cáo hưởng án treo là không đánh
giá đúng tính chất nghiêm trọng của vụ án, là gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu
tranh phòng, chống tội phạm. 13

2.2.2.2 Chưa xác định đúng nhân thân của bị cáo
Có thể điển hình vụ án được xét xử vào tháng 7 năm 2012 như sau: Võ
Hoàng Tiếng có hành vi đánh nhau đã bị Cơ quan Công an ra Quyết định xử phạt
hành chính. Một tháng sau, Tiếng lại có hành vi vi phạm tội “Cố ý gây thương
tích” và bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 01 năm 06 tháng tù. Tuy vậy, Tòa án cả hai
cấp đều không xác minh về lời khai của bị cáo là đã có tiền sự. Từ đó, Tòa án cấp
phúc thẩm đã cho hưởng án treo (vì không có tiền án, tiền sự) như vậy là không

thấp nhất của khung hình phạt quy định. (Khoản 02 Điều 135 quy định phạt tù từ
03 năm đến 10 năm). Trong khi đó, Dương được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy
định tại điểm b, p khoản 01 và 02 Điều 46; nhưng lại bị áp dụng tình tiết tăng nặng
quy định tại điểm g khoản 01 Điều 48 BLHS. Đối trừ đi thì Dương chỉ còn 01 tình
tiết giảm nhẹ ở khoản 01 Điều 46 BLHS. Việc áp dụng Điều 47 BLHS để xử phạt
Dương dưới khởi điểm của khung hình phạt như vậy là không đúng pháp luật.
2.2.2.5 Cho treo sai theo hướng nặng hơn
Cũng do nhận thức án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù mà đã
có nhiều trường hợp Tòa án “quên mất” việc áp dụng các loại hình phạt khác nhẹ
hơn hình phạt tù được quy định tại Điều 28 BLHS như: Cảnh cáo, phạt tiền (là
hình phạt chính), cải tại không giam giữ, trục xuất.
Trong trường hợp các bị cáo tham gia thực hiện tội phạm với vai trò thứ yếu,
bị rủ rê, lôi kéo, phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ… (Ví dụ:
Trong một vụ án đánh bạc có nhiều bị cáo tham gia, Tòa án đã phân hóa vai trò và
xác định một số bị cáo chủ mưu cầm đầu để xử phạt tù là đúng, số còn lại đều cho
hưởng án treo, như vậy cũng là không đúng. Cần phân hóa cho một số bị cáo bị
phạt tù, có nhân thân tốt, đủ điều kiện được hưởng án treo, một số bị cáo có vai trò
thấp hơn thì phạt cải tạo không giam giữ, cảnh cáo hoặc phạt tiền. Như vậy, vừa
phân hóa được tội phạm vừa áp dụng đúng pháp luật và tỷ lệ án treo sẽ không cao.
2.3 Một số vƣớng mắc trong thực tiễn xét xử án hình sự áp dụng án treo
Nhìn chung Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn
áp dụng qui định Điều 60 BLHS qua Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày
02/10/2007, nhưng trên thực tiễn khi áp dụng trong công tác xét xử án hình sự vẫn
còn gặp vướng mắc chưa được hướng dẫn thống nhất trong cách áp dụng, cụ thể:

15

Theo quy định tại khoản 5 Điều 60 BLHS thì người nào được hưởng án treo
mà phạm tội mới trong thời gian thử thách (không phân biệt tội cố ý hay vô ý) thì
đều bị Tòa án buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước rồi tổng hợp với

trường hợp một người đã được Tòa án cho hưởng án treo sau đó lại bị xét xử về
hành vi phạm tội xảy ra trước khi có bản án đó và lại được Tòa án cho hưởng án
treo một lần nữa thì Tòa án không được tổng hợp các bản án. Trong trường hợp
này, cả hai bản án xét xử cho người bị kết án được hưởng án treo đều song song
tồn tại và người bị kết án đồng thời phải chấp hành cả hai bản án.
Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần lưu ý tới hướng dẫn của Nghị quyết
số 01/HĐTP ngày 08/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn tại điểm 2 mục IV đó là:
“… Nếu trong thời gian thử thách người được hưởng án treo lại bị phạt tù
về tội đã thực hiện trước khi bị phạt tù và được hưởng án treo thì tùy trường hợp,
Tòa án có thể cho hoặc không cho hưởng án treo một lần nữa”
Như vậy nếu Tòa án không cho hưởng án treo một lần nữa và người bị kết
án chấp hành hình phạt tù trong thời gian thử thách của án treo thì thời gian chấp
hành hình phạt tù được tính vào thời gian thử thách của án treo. Nếu cho người bị
kết án được hưởng án treo một lần nữa, thì Tòa án tổng hợp hình phạt tù của hai
bản án. Trong trường hợp này cần chú ý là chỉ khi hình phạt chung của cả hai bản
án không vượt quá năm năm tù (đối với Bộ luật hình sự năm 1985, còn đối với
khoản 1 Điều 60 BLHS năm 1999 là ba năm tù) thì mới cho hưởng án treo và thời
gian thử thách chung không được dưới một năm, không được quá năm năm và
không được ít hơn mức hình phạt chung.
Cho tới nay, BLHS 1999 (có sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã được thi hành
hơn mười năm, song vẫn chưa có văn bản hay Nghị quyết nào thay cho hướng dẫn
nêu trên, do vậy theo tác giả cho rằng Nghị quyết 01/HĐTP ngày 08/10/1990 vẫn
được vận dụng trong hoạt động xét xử và như vậy một người được hưởng án treo
nhưng phạm tội trong thời gian thử thách cũng như một người đang chấp hành một
bản án cho hưởng án treo nhưng lại bị xét xử về một hành vi phạm tội trước đó,
vẫn có thể cho họ được hưởng án treo một lần nữa và vẫn tổng hợp theo quy định

17


18

CHƢƠNG 3
PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ÁP DỤNG ÁN TREO TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN ĐẾN NĂM 2020
3.1 Phƣơng hƣớng
Theo yêu cầu đổi mới, thời gian qua ngành tư pháp đã có những bước đổi
mới mang tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng hoạt động. Để thực hiện chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó có việc hoàn thiện chính sách, pháp
luật hình sự là một yêu cầu bức thiết nhằm đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính
hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW
ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị, coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và
thủ tục tố tụng tư pháp; giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình
phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm, để từ đó hạn chế việc
cho hưởng án treo không đúng.
3.2. Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lƣợng áp dụng án treo
Để thực hiện được phương hướng trên, cũng như để hoạt động xét xử án
hình sự, trong đó có việc áp dụng án treo ngày càng chính xác hơn, đòi hỏi các cơ
quan tiến hành tố tụng phải đổi mới cả về chất lượng và cơ cấu tổ chức. Ngoài ra,
về mặt lập pháp, cần hoàn chỉnh hơn nữa các qui định về án treo, đặc biệt là cần có
hướng dẫn kịp thời về các vướng mắc trong thực tiễn áp dụng của Tòa án nhân dân
tối cao.
3.2.1 Hoàn thiện qui phạm pháp luật về án treo
Như đã trình bày tại mục 2.3 tiểu luận này, để khắc phục những bất cập và
vướng mắc như trên tác giả kiến nghị cần sớm sửa đổi BLHS theo hướng:
- Cần quy định bổ sung rõ việc tổng hợp giữa hình phạt cho hưởng án treo
với hình phạt tù giam trong điều 51 BLHS, như quy định về việc tổng hợp và quy
đổi hình phạt cải tạo không giam giữ với hình phạt tù giam tại Điều 50 BLHS, cụ
thể: Điểm b Điều 50 quy định “nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam

đợt tập huấn nghiệp vụ, đưa ra những trường hợp áp dụng án treo không chính xác
hoặc sai để trao đổi trong toàn ngành rút kinh nghiệm chung. Đối với những thẩm
phán xét xử có tỷ lệ án bị hủy, sửa cao (ví dụ bị hủy trên 1,16% số án giải quyết)

20

thì kiên quyết không tái bổ nhiệm và phải đưa đi đào tạo lại; nếu thẩm phán nào
đạt yêu cầu thông qua đào tạo lại thì tiến hành thủ tục tái bổ nhiệm lại, không đạt
thì không tái bổ nhiệm.
Đối với từng cá nhân thẩm phán khi xét xử án hình sự cần phải thường
xuyên rèn luyện, học hỏi cập nhật văn bản hướng dẫn mới để áp dụng xét xử đúng
pháp luật, trong đó có việc áp dụng án treo. Cụ thể đòi hỏi ở người thẩm phán cần
phải:
Thứ nhất, nhận thức đúng về án treo.
Trước hết, phải khẳng định “án treo” không phải là một hình phạt. Pháp luật
hình sự của nước ta chưa bao giờ coi “án treo” là một loại hình phạt. Trong các đạo
luật hình sự của nước ta ban hành từ sau Cách mạng tháng tám đến nay đều không
quy định loại hình phạt “án treo”. BLHS gần đây nhất là BLHS năm 1999 quy định
“các hình phạt” tại Điều 28 (Chương V: Hình phạt) gồm có 7 hình phạt chính, 7
hình phạt bổ sung, hoàn toàn không có “án treo”.
“Án treo” chỉ được quy định ở Điều 60 của BLHS trong Chương VIII: Thời
hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, thời hạn chấp hành hình phạt. Và
tại Nghị quyết số 01/HĐTP ngày 18.10.1990, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao đã định nghĩa về án treo như sau: “Án treo là miễn chấp hành hình phạt
tù có điều kiện, tức là căn cứ vào nhân thân của người bị kết án và những tình tiết
giảm nhẹ, Tòa án sẽ miễn cho người bị kết án không phải chấp hành hình phạt tù
nếu trong thời gian thử thách người đó không phạm tội mới”.
Như vậy, “án treo” chỉ với nghĩa là “miễn chấp hành hình phạt tù có điều
kiện” chứ không có khái niệm „tù treo” với tính chất là một loại hình phạt nhẹ hơn
loại hình phạt tù. Đã có Thẩm phán hiểu sai và cho rằng án treo là một loại hình

- Điều 61 BLHS quy định về những trường hợp được hoãn chấp hình phạt tù
như: “Bị cáo bị bệnh nặng; Bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36
tháng tuổi; Bị cáo là người lao động duy nhất trong gia đình…”. Tuy vậy, do
không phân biệt với quy định tại Điều 60 BLHS, nên có một số Hội đồng xét xử đã
căn cứ vào những tình tiết này để cho bị cáo được hưởng án treo, như vậy là không
đúng.

22

* Nắm vững 04 điều kiện khi cho hưởng án treo được hướng dẫn tại tiểu
mục 6.1 Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007.
* Nắm vững việc ấn định thời gian thử thách được hướng dẫn tại tiểu mục
6.2 và 6.4 Mục 6 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã nêu trên và điểm 1 Công văn số
99/TANDTC-KHXX ngày 01/7/2009 của Tòa án nhân dân tối cao, đặc biệt chú ý
trường hợp ấn định thời gian thử thách đối với người bị kết án đã bị tạm giam.
Thứ ba, thấy được hậu quả pháp lý của án treo.
- Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008 thì: Công
chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị
buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Do đó, Tòa án
cũng không nên vì sợ tỷ lệ án áp dụng cho hưởng án treo cao mà lại không mạnh
dạn cho người có đủ điều kiện được hưởng án treo.
- Theo quy định của Điều lệ Đảng thì: Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo
không giam giữ trở lên phải khai trừ ra khỏi Đảng. Và, như tác giả đã đề cập ở
phần trên, trong các loại hình phạt quy định tại Điều 28 BLHS thì không có “án
treo”.
Vì thế, căn cứ vào hai quy định nêu trên thì có thể hiểu là người bị kết án
phạt tù mà được hưởng án treo thì có thể không bị buộc thôi việc và không bị khai
trừ ra khỏi Đảng. Đây cũng là nguyên nhân mà Tòa án ít ra áp dụng hình phạt cải
tạo không giam giữ đối với cán bộ, đảng viên.

treo
Tuy pháp luật có qui định việc giám sát theo dõi người bị kết án cho hưởng
án treo là thuộc về trách nhiệm của chính quyền địa phương hoặc nơi công tác của
người bị kết án nhưng chưa đầy đủ. Do đó, để thực hiện tốt qui định này, thiết nghĩ
cần có qui định pháp luật cụ thể hơn nữa về quyền lợi và trách nhiệm của người
trực tiếp chịu trách nhiệm theo dõi, giám sát người bị kết án được hưởng án treo để
họ thấy rõ nghĩa vụ và quyền lợi nhà nước giao cho, từ đó thực hiện công việc
được giao tốt hơn và có hiệu quả hơn. Đồng thời, các lãnh đạo Tòa án nhân dân
các cấp cần có qui chế phối hợp với các chính quyền địa phương trong tỉnh của
mình để dễ dàng liên hệ gửi hồ sơ thi hành án, theo dõi xác nhận sự tiến bộ của

24

người bị kết án được hưởng án treo để xem xét đưa ra Hội đồng xét giảm thời gian
thử thách cho họ. Ngoài ra, hàng năm nên sắp xếp phối hợp với chính quyền địa
phương tổ chức ít nhất một cuộc tập huấn pháp luật nói chung, liên quan đến công
tác thi hành án đối với người bị kết án được hưởng án treo nói riêng cho cán bộ tư
pháp ở các phường xã,… để họ cập nhật văn bản kịp thời cũng như trao đổi, hướng
dẫn tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật để công tác quản
lý, theo dõi, xác nhận sự tiến bộ của người bị kết án được hưởng án treo ngày càng
hiệu quả hơn và chính xác hơn.

luận về án treo, và từ đó đề ra những giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất
lượng áp dụng án treo trong xét xử án hình sự là rất cần thiết đối với những người
làm công tác xét xử. Vì có như thế, những thẩm phán xét xử án hình sự nói chung
và bản thân nói riêng sẽ có hiểu biết sâu sắc hơn về qui định áp dụng án treo, cũng
như rút ra được những kinh nghiệm trong công tác xét xử thông qua những trường
hợp sai sót cụ thể đã nêu để từ đó tránh rơi vào sai sót đó. Điều đó, góp phần
không nhỏ vào việc người thẩm phán tuyên một bản án đúng đắn và sẽ là một
trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng giải quyết án hình sự, trong đó
có áp dụng án treo của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên trong thời gian tới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status