CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
CỦA NGÀNH NGÂN HÀNG
KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TPP
Lớp
: Cao học K25
Kinh doanh thương mại
Môn học
: Marketing Quốc tế
GVHD
: Nguyễn Đông Phong
Hoàng Cửu Long
Thực hiện : Lưu Yến Diễm
Trần Thanh Huy
TP.HCM
THÁNG 01/2016
MỤC LỤC
2
2
II.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Như đã trình bày ở phần Mở đầu, đề tài này tập trung phân tích nhũng cơ hội và thách thức mà
ngành ngân hàng Việt Nam sẽ gặp phải khi gia nhập TPP. Đồng thời, thông qua việc phân tích
thực trạng ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn trước khi gia nhập TPP. Đề tài sẽ chỉ ra những
điểm mạnh, điểm yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện tại. Từ đó, đề ra những kiến nghị
và giải pháp nhằm nắm bắt những cơ hội và đối phó với những thách thức để tăng cường năng
lực cạnh tranh cho các ngân hàng Việt Nam.
III.
3
NỘI DUNG
3
1. Giới thiệu tổng quan Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
(TPP)
1.1.
Khái niệm
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific
Strategic Economic Partnership Agreement - viết tắt là TPP) là một hiệp đinh, thỏa thuận
thương mại tự do được ký kết giữa 12 nước với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộc khu
vực châu Á-Thái Bình Dương. TPP được kỳ vọng là mô hình mới về hợp tác kinh tế khu vực,
tạo thuận lợi tối đa cho thương mại, đầu tư và nếu có thể sẽ trở thành hạt nhân để hình thành
Hiệp định thương mại tự do (FTA) chung cho toàn khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
1.2.
4
4
khoản hiện tại của TPP dường như được thiết kế để cố tình không cho Trung Quốc có cơ hội
tham gia vào thỏa thuận này.
1.4.
Tầm quan trọng của TPP
Tất cả các quốc gia thành viên của TPP đều thuộc Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình
Dương (APEC) với tổng dân số 650 triệu người, trung bình thu nhập bình quân đầu người đạt
31.481 USD (năm 2011), tổng GDP lên đến hơn 20 nghìn tỷ USD, chiếm 40% GDP của cả thế
giới và 30% khối lượng thương mại toàn cầu. Khi có hiệu lực, TPP tạo ra một thị trường
chung đầy tiềm năng cho các doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, không thể không chú ý đến việc đây là sáng kiến do Mỹ dẫn đầu. Mỹ là nền kinh
tế lớn nhất thế giới và luôn coi khu vực châu Á – Thái Bình Dương là chìa khóa để tăng
trưởng trong tương lai. Một số ý kiến còn cho rằng Mỹ đang cố gắng sử dụng TPP làm công
cụ để tạo ra một nền kinh tế hợp nhất trong khu vực có thể đối trọng lại với sự phát triển quá
nhanh của Trung Quốc. Nhiều người cũng tin rằng các thành viên khác của APEC cũng sẽ
tham gia TPP trong vài năm tới, khiến TPP càng quan trọng hơn.
WTO hiện có tới 161 thành viên, vì vậy một trong những nhược điểm của tổ chức này là sự
khó khăn và dài lâu để tiến đến một thỏa thuận chung liên quan đến bất kỳ vấn đề gì.
Hơn thế nữa, TPP sẽ đặt ra được các luật lệ quốc tế mà vượt qua phạm vi WTO như: chính
sách đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát các công ty nhà nước, chất lượng sản phẩm
và lao động….
Hiện tại, phạm vi đàm phán của TPP đã nới rộng, bao gồm 22 lĩnh vực với các lĩnh vực đàm
phán ưu tiên hiện nay như môi trường, công đoàn, lao động, đầu tư và sở hữu trí tuệ… Đặc
biệt, dịch vụ tài chính là lĩnh vực đàm phán được các nước TPP chú trọng quan tâm. Với kỳ
mình về phát triển, tính cạnh tranh và tính bao hàm; giải quyết tranh chấp; ngoại lệ và các điều
khoản về thể chế. Cụ thể như sau:
1. Các điều khoản ban đầu và định nghĩa chung
2. Thương mại hàng hóa
3. Dệt may
4. Quy tắc xuất xứ
5. Quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại
6. Các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật
7. Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
8. Phòng vệ thương mại
9. Đầu tư
10. Thương mại dịch vụ qua biên giới
11. Dịch vụ tài chính
12. Nhập cảnh tạm thời của khách kinh doanh
13. Viễn thông
14. Thương mại điện tử
15. Mua sắm chính phủ
16. Chính sách cạnh tranh
17. Các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị độc quyền
18. Sở hữu trí tuệ
19. Lao động
20. Môi trường
21. Hợp tác và Nâng cao năng lực
22. Cạnh tranh và Tạo thuận lợi kinh doanh
23. Phát triển
24. Doanh nghiệp vừa và nhỏ
25. Sự đồng nhất về quy định
26. Minh bạch hóa và Chống tham nhũng
27. Các điều khoản về hành chính và thể chế
28. Giải quyết tranh chấp
•
toán thẻ điện tử và chuyển thông tin để xử lý dữ liệu.
Hiệp định TPP bao gồm các ngoại lệ duy trì quyền linh hoạt lớn cho các nhà quản lý
tài chính của TPP thực hiện các biện pháp thúc đẩy sự ổn định tài chính và sự toàn vẹn
của hệ thống tài chính.
2. Thực trạng ngành Ngân hàng Việt Nam trước thềm gia nhập TPP
2.1.
Năng lực tài chính
Tính đến Quý III năm 2015, các chỉ số về sức khoẻ tài chính của các ngân hàng Việt Nam đã
tương đối ổn định. Nhờ đề án tái cơ cấu hệ thống do Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo, hệ thống
ngân hàng Việt Nam đã loại bỏ được nhiều ngân hàng yếu kém, nâng cao năng lực cạnh tranh
cho các ngân hàng còn lại. Trong năm qua, hàng loạt các vụ mua bán, sáp nhập trong ngành
ngân hàng đã và đang diễn ra sôi nổi hơn bao giờ hết (MHB - BIDV, PG Bank - Vietinbank,
Mekong Bank - Maritime Bank, Southern Bank – Sacombank,....). Cùng với các diễn biến sáp
nhập, mua bán như vậy, năng lực tài chính của các ngân hàng cũng được tăng lên đáng kể
thông qua việc tăng vốn điều lệ, tăng tổng tài sản.... Các ngân hàng nằm ngoài làn sóng sáp
nhập trên cũng ráo riết tự tái cấu trúc, làm sạch và làm mạnh bản thân mình thông qua việc
tăng vốn điều lệ từ nhiều nguồn, nhiều hình thức khác nhau, đồng thời tái định vị thương hiệu
và tạo dựng hình ảnh hoàn toàn mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Theo đó, sau khi PGBank sáp nhập vào VietinBank thì vốn điều lệ của VietinBank tăng thêm
3.000 tỷ đồng, đạt hơn 42.000 tỷ đồng. Tổng tài sản của ngân hàng này sẽ tăng thêm 25.000 tỷ
đồng, nợ tín dụng tăng thêm 15.000 tỷ đồng, huy động vốn tăng 18.000 tỷ đồng. Sau khi MHB
sáp nhập BIDV, thì BIDV có vốn điều lệ là 31.512 tỷ đồng. Hoặc bằng phương án mời thêm
nhà đầu tư, DongABank đã cùng Công ty cổ phần Kinh Đô tăng vốn từ 5.000 tỷ đồng lên
6.000 tỷ đồng và mục tiêu đến cuối năm, DongABank sẽ tăng vốn lên 8.000 tỷ đồng. Tính đến
phần, trong khi ngân hàng 100% vốn và ngân hàng liên doanh chỉ chiếm tương ứng khoảng
3% và 0,75% tổng thị phần (xét theo tổng tài sản). Về tốc độ tăng thị phần, mặc dù vốn điều
lệ/vốn được cấp có xu hướng tăng khá nhanh từ mức 13% lên đến 19,1% (chưa kể gần 5%
vốn góp, mua cổ phần của khối ngân hàng nước ngoài tại các ngân hàng thương mại cổ phần
Việt Nam), tuy nhiên, thị phần tổng tài sản và huy động vốn của khối ngân hàng nước ngoài
chỉ tăng nhẹ (thị phần tổng tài sản tăng từ 10,4% năm 2009 lên 10,67% năm 2014, thị phần
huy động vốn tăng từ 7,9% năm 2009 lên 8,19% năm 2014).
Có thể thấy, tuy hiện tại chưa xuất hiện nguy cơ chiếm lĩnh thị trường và cạnh tranh quá mức
đối với các tổ chức tín dụng Việt Nam từ các ngân hàng nước ngoài nhưng với hàng loạt các
hiệp định tự do thương mại và kinh tế dự kiến có hiệu lực, các ngân hàng nước ngoài, nhất là
các ngân hàng khu vực, sẽ tập trung nhiều hơn vào Việt Nam. Từ đó, bức tranh thị phần ngành
ngân hàng ở Việt Nam hoàn toàn có thể thay đổi nếu các ngân hàng trong nước không có
chiến lược kinh doanh thích hợp.
2.3.
8
Tốc độ tăng trưởng
8
Năm
Doanh thu
Tăng
2007
26,746.36
trưởng
19.47%
gian và kể từ năm 2007 qui mô tín dụng/GDP trong nền kinh tế luôn ở mức hơn 80%, đồ thị 1.
Bảng 2: ROE trung bình ngành, và của nhóm ngân hàng đại diện.
Qui mô ngành tăng lên, đi kèm với mức lợi suất ROE toàn ngành cũng được duy trì ở mức rất
cao, trung bình ngành ở mức trên 10%, trong cả điều kiện xấu của nền kinh tế, và suy thoái
9
9
của ngành theo nền kinh tế, và nếu xét theo trung bình một chu kỳ kể từ năm 2008 - 2014 thì
ROE trung bình ngành Ngân hàng ở mức 15,42%, như số liệu ở bảng 2.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu cao hơn tốc độ tăng trươn̉ g GDP, ROE ngành cao hơn các ngành
còn lại trong nền kinh tế, cho thấy rằng ngành Ngân hàng đang ở giai đoạn tăng trưởng.
Cho tới thời điểm hiện tại, nguồn thu từ lãi vay của hệ thống các ngân hàng Việt Nam chiếm
khoảng 75% - 80% tổng doanh thu, và điều này dẫn tới kết quả kinh doanh của các ngân hàng
biến động theo chu kỳ của nền kinh tế và các chính sách thắt chặt hay nới lỏng tiền tệ của
NHNN.
Tốc độ tăng trươǹ g doanh thu của ngành hoàn toàn biến động theo tốc độ tăng trưởng GDP
của Việt Nam, khi nền kinh tế suy thoái ngay lập tức doanh thu hệ thống ngân hàng sụt giảm,
và ngược lại khi tốc độ tăng trươn̉ g nền kinh tế tăng lên thì doanh thu toàn ngành phục hồi. Từ
đó, có thể thấy chu kỳ biến động kinh tế có tác động mạnh đến chu kỳ kinh doanh ngành Ngân
hàng.
Đồ thị 2: Tăng trưởng doanh thu ngành và tăng trưởng GDP.
2.4.
Chất lượng sản phẩm, dịch vụ
Dịch vụ tiền gửi: là một trong những sản phẩm đầu vào mang tính cạnh tranh cao của các
trình độ chuyên môn còn hạn chế, tác nghiệp chưa chuyên nghiệp tạo nên sự chênh lệch giữa
các ngân hàng trong nước. Một số ngân hàng như Vietcombank, Sacombank là một trong
những ngân hàng hàng đầu trong lĩnh vực thanh toán, chuyển tiền trong nước và quốc tế. Tiểu
biểu là Vietcombank đã 2 lần liên tiếp (gần nhất vào tháng 4 năm 2015) nhận Giấy chứng
nhận Ngân hàng đạt chất lượng cao trong xử lý thanh toán tự động điện STP từ Ngân hàng
Standard Chartered (SCB).
Dich vụ khác như mua bán ngoại tệ, giữ hộ vàng… cũng được phát triển nhưng không mạnh,
các ngân hàng vẫn còn e dè, nhạy cảm trước những biến động tình hình ngoại tê trên thế giới.
11
11
2.5.
Công nghệ
Theo một kết quả khảo sát cuối năm 2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về thực trạng
ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các ngành cho thấy: Ngành ngân hàng được xem
là một trong những ngành ứng dụng CNTT sâu rộng nhất: 98% các chi nhánh đã tham gia kết
nối mạng WAN, 96% ngân hàng đã có hệ thống đảm bảo an ninh mạng, 92% ngân hàng có
chính sách quản lý rủi ro dựa trên nền tảng CNTT,…
Hiện tại, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã xây dựng được một hạ tầng
CNTT tương đối hiện đại theo mô hình tập trung hóa tài khoản, nhiều tiện ích ngân hàng đã
được sử dụng phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và chủ động hội nhập với khu vực và
thế giới. Không dừng lại ở những thành quả đã đạt được, các ngân hàng thương mại VN vẫn
tiếp tục đầu tư đẩy mạnh ứng dụng những công nghệ hàng đầu của thế giới để tăng cường tính
bảo mật và chất lượng dịch vụ khách hàng. Đến cuối năm 2014, Techcombank đã ký kết thỏa
thuận hợp tác cùng Integro Technologies để triển khai hệ thống Quản lý Tài sản đảm bảo và
Hạn mức tín dụng SmartLender (CLIMS) với mục đích cải thiện hệ thống quản trị.
Việc ứng dụng CNTT có thể đem lại cho khách hàng rất nhiều lợi ích khác nhau. Lợi ích nhìn
đến giai đoạn sa thải hàng loạt nhân viên do khó khăn trong năm 2013, 2014. Tuy nhiên, báo
cáo tài chính 2 năm này của ACB lại cho thấy một kết quả khác hơn. Năm 2013, ACB sa thải
nhiều nhất với số lượng nhân viên lên đến 1.144 người. Nếu năm 2012, ACB có 10.275 nhân
viên thì năm 2013 chỉ còn 9.131 nhân viên. Bắt đầu từ năm 2014, ACB bắt đầu tuyển người
trở lại. Tất nhiên, số lượng tuyển khá khiêm tốn và chưa về trở lại với số lượng nhân viên của
năm 2012. Cụ thể, năm 2014 là 9296 nhân viên, 6 tháng đầu năm 2015 có 9767 nhân viên.
6 tháng đầu năm 2015 ghi nhận sự tăng đột biến về nhân sự của Ngân hàng TMCP Đầu Tư và
Phát Triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) do sáp
nhập. Cụ thể, BIDV nhận MHB và nhân sự tăng lên 22.952 người, trong khi năm 2014 là
18.681 người, tăng thêm 4.271. VPBank cũng có sự tăng đột biến về nhân sự trong 6 tháng
đầu năm 2015 với con số lên 11.331 người, trong khi cuối năm 2014 chỉ có 9.501 người, tăng
thêm 1.830 người. Sự tăng về nhân sự này là do VPBank mua lại Công ty tài chính Than –
Khoán sản Việt Nam (CFM). Ngoài ra, VPBank liên tục tuyển nhân sự trong những năm qua
với số lượng khá lớn như năm 2013 có 6.795 nhân viên, tăng thêm 2.468 người so với năm
2012. Năm 2014 cũng ghi nhận tăng thêm 2.706 nhân sự.
Tính đến thời điểm hiện nay, đội ngũ nhân lực trên đã cơ bản đáp ứng được sự phát triển của
ngành ngân hàng, tuy nhiên so với sự phát triển của ngành tài chính hiện nay thì chất lượng
nguồn nhân lực vẫn còn thấp. Đối với các sinh viên sau khi tốt nghiệp đi làm tại các ngân
hàng còn thiếu một số kỹ năng (thái độ làm việc, kỹ năng làm việc nhóm, trình độ tiếng Anh,
khả năng giao tiếp) và chưa nắm vững kiến thức về lĩnh vực ngân hàng, tài chính. Do đó, hầu
như các ngân hàng đều phải mất thời gian đào tạo lại mới có thể đáp ứng được yêu cầu công
việc. Đối với nguồn nhân sự hiện hữu, một số lĩnh vực chuyên sâu, đòi hỏi chuyên môn cao,
13
13
ngân hàng vẫn còn thiếu và các ngân hàng phải mất nhiều chi phí để thuê chuyên gia nước
ngoài tư vấn, thực hiện.
Tuy nhiên, với nhiều áp lực và thách thức trong công việc đã thúc đẩy các cán bộ, nhân viên
lại hoặc sát nhập với một số ngân hàng trong nước. Các ngân hàng đang suy yếu sẽ có cơ hội
gia tăng lợi thế cạnh tranh cũng như cơ hội tiếp cận nguồn vốn, tăng cường thanh khoản, gia
tăng danh mục đầu tư .
3.1.2. Các NHTM Việt Nam sẽ có thêm nguồn thu lớn dịch vụ thanh toán quốc tế và cơ hội
14
14
phát triển các mảng dịch vụ liên quan.
Doanh thu của dịch vụ thanh toán quốc tế của các ngân hàng chủ yếu từ hoạt động thương mại
giữa các công ty xuất nhập khẩu trong nước với công ty nước ngoài. Hiệp định TPP sẽ tạo
triển vọng cho ngành thương mại Việt Nam đạt mức tăng trưởng mạnh mẽ vì TPP được đánh
giá như một hàng rào giảm sự lệ thuộc thương mại giữa Mỹ và các nước trong TPP với Trung
Quốc. Khi tham gia TPP, Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi thuế khi xuất khẩu sang các
nước trong TPP, điều đó giúp thúc đẩy, khuyến khích gia tăng sản xuất. Với năng lực sản xuất
hiện tại, trong tương lai Việt Nam vì thế có cơ hội thay thế cho Trung Quốc trong việc cung
cấp hàng hóa cho TPP. Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng của giao dịch mua bán hàng
hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức thuộc các quốc gia khác nhau. Khi ngành thượng mại
tại Việt Nam phát triển, thì dịch vụ thanh toán quốc tế là phương thức duy nhất và tốt nhất
trong việc giải quyết vấn đề thanh toán tiền tệ giữa hai công ty ở hai quốc gia khác.
Khi hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện tốt, ngân hàng sẽ có thêm cơ hội mở rộng
hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu, phát triển hoạt động kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh ngân
hàng trong ngoại thương, tài trợ thương mại và các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế khác…
Hoạt động thanh toán quốc tế là kênh tiếp cận tốt nhất với thị trường tài chính quốc tế. Nếu
ngân hàng Việt Nam nắm bắt được cơ hội phát triển thì ngân hàng Việt Nam sẽ mở rộng quan
hệ với các ngân hàng nước ngoài, nâng cao uy tín của mình trên trường quốc tế, trên cơ sở đó
khai thác được nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường tài
chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu về vốn của ngân hàng.
3.1.3. Thị trường mở rộng, cơ hội đầu tư ra các quốc gia khác.
VPĐD tại Singapore
Đức (2 CN), Lào (1 CN)
VPĐD (Lào, Campuchia, Myanmar, CH
Séc)
15
Sacombank
8
MB
2
Lào (1 CN, 1 PGD), Campuchia (1 SGD,
5 CH) (số liệu tính đến 31/3/2013)
Lào (1 CN), Campuchia (1 CN)
Lào (1 CN), Campuchia (1 CN)
SHB
1
Bảng 4: Số lượng văn phòng đại diện/chi nhánh tại nước ngoài của một số ngân hàng
Việt Nam ( TÍNH ĐẾN 31/12/2012)
(Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên năm 2012 của các ngân hàng Vietcombank, BIDV,
Vietinbank, Sacombank, SHB, MB)
Từ các con số trên, chúng ta có thể thấy các ngân hàng trong nước đang bắt đầu đẩy mạnh
việc thâm nhập thị trường thế giới. Gia nhập TPP, các ngân hàng Việt Nam sẽ có thêm cơ hội
mở rộng hoạt động đến các thị trường tiềm năng, rộng lớn của các thành viên trong TPP. Tuy
nhiên, nếu xét các yếu tố về nguồn lực và sức mạnh cạnh tranh thì ngân hàng Việt Nam khó có
Với sự tham gia ngày càng sâu rộng của ngân hàng nước ngoài, đặc biệt các định chế tài chính
đến từ Mỹ, Nhật Bản và Úc thì áp lực cạnh tranh trong ngành sẽ ngày càng tăng lên. Các ngân
hàng nước ngoài với tiềm lực tài chính và khả năng quản trị chuyên nghiệp sẽ gia tăng sức ép
đối với khối ngân hàng trong nước. Những nổ lực trong việc cải tổ hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã cho thấy sự chuyển biến tích cực về sức khoẻ tài chính của các ngân hàng. Tuy nhiên,
những sự thay đổi này vẫn là chưa đủ so với yêu cầu đặt ra cho cả ngành ngân hàng khi Việt
Nam gia nhập TPP. Cụ thể:
Tỷ lệ vốn tự có/tổng tài sản chứa rủi ro (CAR) của ngân hàng thương mại Việt Nam so với
khu vực vào thời điểm 31/12/2014 theo công bố của NHNN là 12,8%, thấp hơn hầu hết các
nước trong TPP, tương đương với Trung Quốc và Ấn Độ. Ngay cả những nước có điều kiện
kinh tế tương tự như Indonesia các ngân hàng cũng có hệ số CAR trung bình cao hơn:19,8%;
Philippines là 17%; Thái Lan là 15,6%.
Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam là 3% thời điểm 30/9/2015 theo NHNN, so
với con số của các ngân hàng khu vực thời điểm 31/12/2014 thì chỉ đứng sau Nga (6,7%),
Pakistan (12,3%) và Ấn Độ (4,3%).
ROE (lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu) cuối năm 2014 của Việt Nam thấp nhất trong khu vực, ở
mức 5,5% trong khi ở các nước khác: Thái Lan 16,2%, Singapore 17,1%, Trung Quốc 19%,
Indonesia 18%, Malaysia và Philippines 13,5%.
Quy mô tổng tài sản của ngân hàng Việt Nam theo thống kê trên trang web của các ngân hàng
này cho thấy, ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất Việt Nam (Agribank) có tổng tài sản chưa
bằng một nửa ngân hàng trung bình của Indonesia (Bk Mandiri) hay Thái Lan (Bangkok
Bank).
Quy mô thị trường tài chính Việt Nam (gồm cả ngân hàng, bảo hiểm, trái phiếu và chứng
khoán) so với khu vực đứng thứ 10 trong 14 nước. Quy mô thị trường tài chính Việt Nam so
với GDP khoảng 130% GDP, chỉ lớn hơn Lào, Indonesia và Campuchia. Trong khi đó, quy mô
thị trường tài chính Nhật Bản gần 500% GDP, Trung Quốc khoảng 220% GDP, Hàn Quốc
17
yếu so với các nước trong khu vực. Xét về hệ thống quản trị rủi ro, hiện nay các ngân hàng
trên Thế giới đã dần hoàn thành chuẩn Basel II và đang tiệm cận đến chuẩn Basel III. Trong
khi đó, các ngân hàng Việt Nam vừa mới hoàn thành chuẩn Basel I và đang loay hoay áp dụng
chuẩn Basel II.
18
18
4. Một số giải pháp và kiến nghị
4.1.
Đẩy nhanh và thực hiện quyết liệt hơn nữa đề án tái cơ cấu hệ thống ngân
hàng Việt Nam
Năm 2015 là một năm thành công về mặt ngoại giao của Việt Nam. Hàng loạt hiệp định
thương mại tự do đã được ký kết và sắp có hiệu lực như AEC, TPP... Lộ trình thực hiện các
hiệp định này đang đến rất gần. Trong khi đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn còn tồn tại
rất nhiều điểm yếu cần khắc phục. Như đã trình bày ở các phần trước, năng lực nội tại của các
ngân hàng Việt Nam còn cách khá xa so với các ngân hàng trong khu vực. Các hệ số về sức
khoẻ tài chính vẫn chưa tốt và còn thấp hơn mức trung bình so với các nước khác. Bên cạnh
đó, vấn đề sở hữu chéo trong hệ thống ngân hàng chưa được giải quyết triệt để, gây ra tính
không minh bạch trong hoạt động kinh doanh ngành ngân hàng. Thêm nữa, số lượng ngân
hàng tại Việt Nam là quá nhiều so với mức cần thiết để hoạt động nền kinh tế có hiệu quả.
Chất lượng của các ngân hàng trong hệ thống không đồng đều và chênh lệch quá xa. Khoảng
cách giữa các ngân hàng mạnh, top đầu ngành so với các ngân hàng yếu kém là rất lớn. Vì
vậy, đẩy nhanh tốc độ thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam là điều cần
thiết và cấp bách. NHNN và bản thân các ngân hàng Việt Nam cần ý thức hơn nữa trong hoạt
động tái cấu trúc hệ thống này. Chuẩn bị được một hệ thống ngân hàng “mạnh” và “khoẻ” mới
Một trong những sai lầm mà hầu hết các ngân hàng Việt Nam thường mắc phải là việc xác
định thị trường mục tiêu và chiến lược kinh doanh phù hợp. Khối ngân hàng nội địa lâu nay
vẫn loay hoay trong việc tìm ra sự độc đáo và tạo ra nét riêng của mình. Đa số các ngân hàng
đều đặt mục tiêu trở thành ngân hàng “bán lẻ” hàng đầu hoặc ngân hàng “đa năng”, “hiện
đại”... Ví dụ:
•
Sacombank xác định tầm nhìn của mình như sau: “Trở thành Ngân hàng bán lẻ hiện
•
đại và đa năng hàng đầu Khu vực”.
Techcombank công bố tầm nhìn của mình là: “Trở thành Ngân hàng tốt nhất và doanh
•
nghiệp hàng đầu Việt Nam”.
Tầm nhìn của MBBank: “Trở thành Ngân hàng thuận tiện cho Khách hàng”
Những định hướng này nhìn chung rất bao quát, thiếu tính tập trung và cụ thể. Vì vậy, chiến
lược kinh doanh mà các ngân hàng nội địa đề ra cũng sẽ thiếu tính khả thi và khó định hướng
hành động. Trong tương lai, khi thị trường TPP mở ra, các ngân hàng nước ngoài sẽ ồ ạt đầu
tư vào Việt Nam. Thị trường tài chính – ngân hàng Việt Nam vốn dĩ đã rất đông về số lượng sẽ
ngày càng đông hơn. Nếu vẫn kinh doanh một cách thiếu tập trung và chuyên môn hoá, các
ngân hàng nội địa sẽ dễ dàng mất dần thị phần vào tay các ngân hàng ngoại.
Mặt khác, một thực trạng dễ dàng nhận thấy hiện nay là hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy có
số lượng lớn nhưng mật độ bao phủ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các khu đô thị lớn,
đông dân cư, dẫn đến khả năng tiếp cận các sản phẩm tài chính – ngân hàng không cao. Ở
những nơi đông dân, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng lại diễn ra rất gay gắt. Để thu hút và
Vì vậy, để chuẩn bị kỹ càng cho môi trường cạnh tranh khóc liệt mà TPP mang lại, các ngân
hàng Việt Nam cần tăng cường năng lực quản trị rủi ro bằng một số biện pháp sau:
•
Thiết lập và triển khai hoạt động quản trị chiến lược chuyên nghiệp, thông qua xác lập
tính thống nhất về nhận thức trong quản trị kế hoạch chiến lược và gắn kết mối quan
•
hệ với kế hoạch kinh doanh hàng năm.
Xây dựng những quy trình cụ thể nhằm hình thành hoạt động quản trị chiến lược
•
chuyên nghiệp.
Tăng cường và nâng cao chất lươṇ g công tác dự báo, nghiên cứu thị trường phục vụ
•
cho công tác quản trị, điều hành.
Tiếp tục nâng cao năng lực quản trị rủi ro thị trươǹ g và tác nghiệp theo thông lệ quốc
tế: Tách bạch triệt để chức năng nhiệm vụ giữa hai bộ phận kinh doanh và quản trị rủi
•
ro.
Nâng cao vai trò độc lập của hệ thống quản trị rủi ro, từng bước áp dụng quản trị rủi ro
theo định lượng và các mô hình kiểm nghiệm khủng hoảng.
21