ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO
HỆ SINH THÁI TẠI HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN THỊ NGỌC ÁNH
THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU DỰA VÀO
HỆ SINH THÁI TẠI HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Tài
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao
LỜI CAM ĐOAN ................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................... ii
MỤC LỤC ........................................................................................................... iii
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH ........................................................................ iv
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu ...................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................ 2
4. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 3
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 3
6. Vấn đề nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu .................................................... 5
CHƯƠNG 1........................................................................................................... 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA THÍCH ỨNG VỚI BĐKH DỰA
VÀO HỆ SINH THÁI ........................................................................................... 6
1.1. Khái niệm thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái ................................... 6
1.2. Những nội dung cơ bản của thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái ....... 7
1.3. Kinh nghiệm thực tế thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái................. 10
1.4. Xây dựng qui trình, nội dung và nguyên tắc thích ứng với BĐKH dựa vào
hệ sinh thái ở cấp huyện ...................................................................................... 18
1.5. Tiểu kết Chương I ........................................................................................ 23
CHƯƠNG 2......................................................................................................... 25
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BĐKH DỰA VÀO HỆ SINH
THÁI TẠI HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE ................................................. 25
2.1. Khái quát về huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre .................................................... 25
2.2. Các hệ sinh thái của huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre ......................................... 32
2.3. Tác động của BĐKH tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre .................................. 37
2.4. Khả năng thích ứng với BĐKH của các hệ sinh thái tại huyện Ba Tri, tỉnh
Bến Tre ................................................................................................................ 48
2.5. Tiểu kết Chương 2 ........................................................................................ 62
CHƯƠNG 3......................................................................................................... 64
các loài nhuyễn thể hai mảnh vỏ của hộ gia đình giai đoạn 2009 – 2014 .......... 47
Bảng 2.5. Đánh giá tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái tại huyện Ba Tri
............................................................................................................................. 49
Bảng 2.6. Tri thức cộng đồng về thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Ba Tri
............................................................................................................................. 52
Bảng 2.7. Đánh giá việc quản lí hệ sinh thái tại huyện Ba Tri ........................... 54
Bảng 2.8. Đánh giá các hoạt động sinh kế tại huyện Ba Tri ............................... 55
Bảng 2.9. Tổng hợp kết quả đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu
của các hệ sinh thái tại huyện Ba Tri .................................................................. 59
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Ba Tri ......................................................... 26
Hình 2.2: Diện tích rừng ngập mặn và ao nuôi tôm của huyện Ba Tri năm 2004
............................................................................................................................. 34
Hình 2.3: Biến thiên nhiệt độ trung bình tháng trong 5 năm (2010 – 2014) tại
huyện Ba Tri ........................................................................................................ 39
Hình 2.4: Biến thiên lượng mưa trong 5 năm (2010 – 2014) tại huyện Ba Tri .. 40
Hình 2.5: Tình trạng xâm nhập mặn ở tỉnh Bến Tre năm 2009
..........................42
iv
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang tác động nghiêm trọng đến sự phát triển
kinh tế, xã hội của Việt Nam; là một trong những thách thức lớn nhất cho việc thực
hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, các mục tiêu thiên niên kỷ của đất nước. Theo
đánh giá của Ngân hàng Thế giới (2007), Việt Nam là một trong năm nước sẽ bị
ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng, trong đó vùng đồng bằng
sông Hồng và sông Mê Công bị ngập chìm nặng nhất. Dự báo, nếu mực nước biển
dâng từ 0,75 đến 1m thì khoảng 60 đến 70% diện tích tự nhiên của tỉnh Bến Tre bị
BĐKH dựa vào hệ sinh thái là sử dụng hợp lý các hệ tự nhiên và các dịch vụ hệ
sinh thái như một hợp phần quan trọng trong chiến lược tổng thể để giúp con người
dần thích nghi với các tác động bất lợi từ BĐKH. Cách tiếp cận dựa vào hệ sinh
thái thể hiện mối liên hệ mật thiết giữa BĐKH, đa dạng sinh học và sử dụng hợp lý
tài nguyên trong phát triển kinh tế – xã hội với bảo tồn và duy trì các hệ sinh thái.
Đề tài của luận văn: “Thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái tại
huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và xuất phát từ yêu
cầu thực tiễn hiện nay của địa phương đã được lựa chọn để nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn xác định 03 mục tiêu nghiên cứu, bao gồm:
- Luận giải được cơ sở lí luận và thực tiễn về thích ứng với BĐKH dựa vào
hệ sinh thái;
- Đánh giá được thực trạng hệ sinh thái và khả năng thích ứng với BĐKH
dựa vào hệ sinh thái tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre;
- Đề xuất được các giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái tại
huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là cách tiếp cận dựa vào hệ sinh
thái để thích ứng với BĐKH.
2
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi học thuật: Giới hạn trong khuôn khổ thích ứng với BĐKH dựa vào
hệ sinh thái.
- Phạm vi không gian: Phạm vi không gian của nghiên cứu là huyện Ba Tri,
tỉnh Bến Tre.
- Phạm vi thời gian:
+ Phạm vi về số liệu, tư liệu sử dụng trong luận văn để nghiên cứu là từ năm
nghiệp ở các khu vực khác nhau trong toàn huyện Ba Tri.
- Sau khi xác định được chính xác khu vực nghiên cứu, luận văn sử dụng
bảng hỏi soạn sẵn (xem Phụ lục 1) để phỏng vấn đại diện 50 hộ gia đình. Các hộ
được lựa chọn điều tra là những hộ mang tính đại diện cho từng loại hình sản
xuất, chịu ảnh hưởng của các loại hình thiên tai và phải bao gồm các hộ khá
giàu, nghèo và trung bình theo hướng dẫn của cán bộ địa phương. Từ đó, học
viên có thể tìm hiểu được các thông tin cơ bản về các hộ gia đình, các hệ sinh
thái, sinh kế, tác động của BĐKH, những hỗ trợ của chính quyền địa phương và
các giải pháp ứng phó với thiên tai cũng như khả năng ứng phó của người dân.
Ngoài ra, luận văn cũng phỏng vấn một số lãnh đạo địa phương (xã và thôn) để
phục vụ cho việc đề xuất giải pháp thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái.
Với cách tiếp cận như trên, thông tin về các hệ sinh thái, lịch sử thiên
tai… sẽ được thu thập và điều tra khảo sát hộ gia đình thông qua bảng hỏi. Do
đó, bảng hỏi này cần phải được thiết kế sao cho bao quát được cả hai nội dung
trên. Yêu cầu của một bảng hỏi vừa phải có tính khái quát (tính đại diện cho
điểm nghiên cứu) vừa phải có tính đặc thù (sự khác biệt về mức sống, vị trí địa
lí,…) và đáp ứng được mục đích kiểm tra tính lô-gích của hệ thống câu hỏi (tức
tính loại trừ, tính kết hợp,… để kiểm tra chéo, phát hiện những sai sót, đánh giá
được độ tin cậy,…).
- Đối với số liệu định tính: Tổng hợp, sàng lọc và phân loại theo từng chủ đề,
theo mục đích nghiên cứu.
- Đối với số liệu định lượng (bảng hỏi): Chuẩn bị bảng hỏi để thảo luận với 50
người dân huyện Ba Tri, tương đồng về các hoạt động sản xuất, sự phụ thuộc vào
4
tài nguyên thiên nhiên… để đảm bảo sự đồng nhất về nhận thức và có mối quan
tâm chung trong quá trình thảo luận. Xử lý, phân tích và trình bày dưới dạng bảng,
biểu đồ.
5.3. Phương pháp tham vấn chuyên gia
Thích ứng dựa vào hệ sinh thái (EbA) được Nhóm chuyên gia kỹ thuật đặc
biệt lần thứ 2 của Công ước Đa dạng sinh học định nghĩa là “việc sử dụng đa
dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái nhằm giúp con người thích ứng với các
tác động xấu của BĐKH như một phần của chiến lược thích ứng tổng thể”. Theo
đó, Nhóm chuyên gia khẳng định phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái là
nhằm để thích ứng, hạn chế các tác động của BĐKH lên đa dạng sinh học và
giúp hỗ trợ người dân thích ứng với các ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH.
Theo định nghĩa trên, thích ứng dựa vào hệ sinh thái dựa trên các cơ hội để
quản lý bền vững, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái nhằm cung cấp các dịch vụ
giúp con người thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu. Quá trình này
nhằm mục đích duy trì, tăng cường khả năng thích ứng và giảm thiểu tính dễ bị tổn
thương của các hệ sinh thái cũng như của con người khi phải đối mặt với những tác
động xấu của biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, mặc dù tập trung vào duy trì các chức
năng và dịch vụ hệ sinh thái, đây vẫn là một phần không thể thiếu trong chiến lược
thích ứng chung của con người. Thích ứng dựa vào hệ sinh thái có thể được xem là
hiệu quả về mặt chi phí và tạo ra lợi ích xã hội, kinh tế, văn hóa, bao gồm giảm
nguy cơ thiên tai, duy trì sinh kế và an ninh lương thực, dự trữ các bon và quản lý
nước bền vững. Bảo vệ, tăng cường các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên và được quản
lý nhằm hỗ trợ sinh kế, các cộng đồng dễ bị tổn thương có thể duy trì các mạng
lưới an toàn tại địa phương, tăng khả năng đệm của các hệ sinh thái địa phương và
mở rộng các lựa chọn để xây dựng khả năng thích ứng trước những cú sốc và xu
thế đột ngột [Berkes & Folke, 1998].
Hiện nay, nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng các hệ sinh thái và dịch
vụ hệ sinh thái đóng vai trò quan trọng trong thích ứng với BĐKH [IPCC, 2014;
IUCN, 2009; UNEP, 2012; Doswald & Osti, 2011]. Đó là do người dân cũng như
6
khu vực dễ bị tổn thương nhất do BĐKH thường phụ thuộc nhiều vào các hệ sinh
thái và dịch vụ hệ sinh thái để phục vụ cho cuộc sống và sinh kế của họ. Các hệ
- Bảo tồn và khôi phục hệ thực vật rừng và tự nhiên để duy trì độ bền
vững của các vùng đất dốc và điều tiết dòng chảy, ngăn ngừa lũ quét, sạt lở đất
khi mức độ và cường độ mưa gia tăng;
- Thiết lập hệ thống nông lâm sản đa dạng và bền vững (lồng ghép sản
xuất lương thực vào lâm nghiệp) để đương đầu với những điều kiện khí hậu thay đổi.
1.2.1. Các lợi ích từ thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái
Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái khai thác khả năng
của tự nhiên để bảo vệ cho cộng đồng dân cư phòng tránh các tác động tiêu cực
của biến đổi khí hậu thông qua các hệ sinh thái. Tập trung vào các dịch vụ hệ
sinh thái cụ thể với khả năng giảm thiểu độ phơi nhiễm trước biến đổi khí hậu,
các hình thức thích ứng có thể được sử dụng là quản lý, bảo tồn, phục hồi có
mục tiêu. So với các biện pháp thích ứng khác, thích ứng với biến đổi khí hậu
dựa vào hệ sinh thái có ba lợi ích chính là có thể đem lại nhiều lợi ích cùng lúc,
tránh được thích ứng không phù hợp và là giải pháp “đáng giá” khi giải quyết
vấn đề biến đổi khí hậu. Không giống như các biện pháp thích ứng tập trung vào
mặt kỹ thuật công trình như xây đê biển, thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào
hệ sinh thái cùng lúc có thể thích ứng và giảm thiểu các tác động của biến đổi
khí hậu, bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế bền
vững. Các lợi ích khi áp dụng thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh
thái bao gồm:
- Đẩy mạnh hợp tác sâu rộng, hiệu quả giữa các lĩnh vực tham gia quản lý
hệ sinh thái và hưởng lợi từ các dịch vụ hệ sinh thái;
- Huy động sự tham gia thực sự của các viện nghiên cứu, các bên liên
quan vào quá trình lập quy hoạch thích ứng;
- Kết hợp hài hòa tri thức truyền thống với thực tiễn trong lập kế hoạch
thích ứng;
- Tăng cường thật hiệu quả sự hợp tác và chuyển giao tài chính giữa các
nền kinh tế phát triển và đang phát triển;
8
9
Các vấn đề về mặt tài chính bao gồm việc thiếu nguồn tài chính để triển
khai các chương trình, dự án cũng như tăng cường năng lực thực hiện thích ứng
với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái. Vì vây, cần tăng cường phân bổ tài
chính cho thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái từ các nguồn tài
chính mới và hiện có, phổ biến thông tin về thích ứng với biến đổi khí hậu dựa
vào hệ sinh thái và giáo dục, nâng cao nhận thức.
Vấn đề về thể chế chính là các rào cản liên quan đến các quyết định chính
sách hiện có. Vẫn còn thiếu các định hướng chính sách quan trọng đề cập đến
phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái cấp quốc gia. Ngoài ra, giữa các lĩnh
vực chính sách khác nhau (như nông nghiệp, đa dạng sinh học, thủy sản, giao
thông v.v...) cũng còn thiếu sự đồng bộ trong định hướng và triển khai. Thêm
vào đó, việc quá coi trọng báo cáo và thủ tục hành chính theo các quy định cũng
hạn chế việc áp dụng thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái. Để giải vấn đề
này, có thể thiết lập các biện pháp tổng hợp khi lập kế hoạch thích ứng và phát
triển bền vững, hợp lý hóa các quy trình, áp dụng phương pháp tiếp cận từ dưới
lên và thúc đẩy quan hệ đối tác công tư.
1.3. Kinh nghiệm thực tế thích ứng với BĐKH dựa vào hệ sinh thái
1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế
Tác động của biến đổi khí hậu, từ việc mực nước biển dâng cao đến việc
gia tăng tần suất bão và hạn hán, đã thực sự ảnh hưởng đến hàng triệu con người
trên thế giới. Do đó, nhiều quốc gia đã áp dụng thích ứng với biến đổi khí hậu
dựa trên hệ sinh thái như một trong những chiến lược hữu hiệu để thích ứng với
một thế giới đầy thay đổi. Tại châu Âu, một trong các biện pháp chính đang
được sử dụng để thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái là điều tiết
sông. Điều tiết sông bao gồm các hoạt động như: cải tạo lòng sông, xây dựng lại
hệ thống đê điều, phục hồi môi trường sống và loại bỏ sinh vật ngoại lai. Dự án
phục hồi sông Regge tại Hà Lan đã cải tạo được một số đoạn lòng sông uốn
đối với người nghèo tại nông thôn và có thể hiệu quả về mặt chi phí. Các cách
tiếp cận này bao gồm nông nghiệp bền vững, quản lý tổng hợp tài nguyên nước
và các biện pháp quản lý rừng bền vững nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương
trước biến đổi khí hậu. Năm 2010, Nê-pan đã ban hành Chương trình hành động
quốc gia nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó xác định các hành động
11
ưu tiên để thích ứng; nhiều hành động có liên quan đến thích ứng dựa vào hệ
sinh thái (4 trong số 9 hồ sơ dự án ưu tiên bao gồm các hợp phần về hệ sinh
thái). Hầu hết các hành động thích ứng dựa vào hệ sinh thái đều nhằm quản lý
tài nguyên thiên nhiên trong lĩnh vực nông nghiệp, tài nguyên nước, lâm nghiệp
hoặc bảo tồn đa dạng sinh học. Băng-la-đét là một trong số các quốc gia khác tại
châu Á đã ban hành Chương trình hành động quốc gia nhằm thích ứng với biến
đổi khí hậu. Trong đó, Dự án Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
thông qua trồng rừng ven biển là dự án ưu tiên của Chương trình. Dự án tập
trung giảm thiểu tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu thông qua tăng
cường tính chống chịu của các cánh rừng ven biển và năng lực thích ứng của các
cộng đồng. Với tổng số 6.100 ha rừng ngập mặn trồng mới và giới thiệu 10 loài
cây ngập mặn quan trọng trong khu vực độc canh hiện có, dự án đã tăng độ che
phủ rừng bảo vệ và giàu các-bon, cũng như tăng chức năng của thảm thực vật
ven biển để thích ứng với những biến động khí hậu hiện tại và tương lai. Tại
Mông Cổ, một dự án đã được tiến hành nhằm đánh giá tác động của việc thay
đổi sử dụng đất và biến đổi khí hậu lên những người dân du mục; các phương
pháp, cơ hội thích ứng của họ và nâng cao khả năng chống chịu của cừu và các
hệ sinh thái đồng cỏ chăn bò. Dự án cũng nhằm mục đích nâng cao tính bền
vững về sinh kế của người dân chăn cừu và năng lực của cộng đồng du mục
trong việc thích ứng với biến động sử dụng đất và biến đổi khí hậu. Nhìn chung,
các dự án thích ứng với biến đổi khí hậu đang được tiến hành tại châu Á đều
nhằm giải quyết các vấn đề về xã hội và hệ sinh thái nhằm đạt được các lợi ích
trợ. Dự án được thực hiện từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 12 năm 2013 với mục
tiêu xây dựng mô hình quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh, lồng ghép
với phương pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái thích ứng với BĐKH của Việt
Nam. Đồng thời, dự án cũng giúp tăng cường kiến thức, kinh nghiệm về phương
pháp tiếp cận dựa vào hệ sinh thái nhằm nâng cao quản lý đa dạng sinh học, các
dịch vụ hệ sinh thái; tăng cường năng lực về bảo tồn đa dạng sinh học trong bối
cảnh BĐKH cho Việt Nam và Thụy Điển. Cơ quan chủ quản của dự án là Tổng
cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Một dự án khác là Dự án “Tăng cường khả năng phục hồi trước tác động
của BĐKH thông qua xây dựng khung hướng dẫn thích ứng với BĐKH dựa vào
13
hệ sinh thái tại Lào và Việt Nam” do Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và
môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Quỹ Quốc tế Bảo vệ
thiên nhiên (WWF) thực hiện dưới sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của Ngân hàng
Thế giới (WB), là một trong những dự án đầu tiên nghiên cứu về phương pháp
thích ứng này. Mục đích chính của dự án là hỗ trợ hai quốc gia Lào và Việt Nam
nhận biết rõ ràng hơn hiệu quả của phương pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái
nhằm lồng ghép phương pháp này vào quá trình xây dựng các kế hoạch và chiến
lược phát triển quan trọng. Nghiên cứu đã thực hiện thí điểm về tính hiệu quả và
kinh tế của thích ứng dựa vào hệ sinh thái so với các giải pháp công trình hiện
đang được ưu tiên triển khai để tăng cường khả năng chống chịu và phục hồi của
các cộng đồng dễ bị tổn thương tại hai tỉnh Chăm-pa-sắc của Lào và Bến Tre
của Việt Nam. Dự án được triển khai trong vòng một năm, từ tháng 6 năm 2012
đến tháng 6 năm 2013, với những mục tiêu cụ thể là xây dựng hướng dẫn kỹ
thuật về thực hành thích ứng dựa vào hệ sinh thái thông qua việc xây dựng một
khung hướng dẫn và thực hiện thí điểm tại một khu vực cụ thể; đánh giá tính
hiệu quả về mặt chi phí và tính bền vững của thích ứng dựa vào hệ sinh thái,
cung cấp khuyến nghị hướng dẫn về mặt chính sách để lồng ghép thích ứng dựa
cả nước, đã xuất hiện nhiều mô hình được thử nghiệm về sử dụng thích ứng dựa
vào hệ sinh thái trong thích ứng với BĐKH. Ví dụ như Mô hình sáng kiến chống
mất rừng và suy thoái rừng tại Kiên Giang. Tỉnh này thực hiện mô hình chi trả
dịch vụ môi trường rừng, nhằm chia sẻ lợi ích giữa các đối tượng được hưởng
lợi từ rừng và sống dựa vào rừng (REDD; REDD +). Khu dự trữ sinh quyển
Kiên Giang được UNESCO công nhận từ năm 2006, có diện tích 36,935 ha
vùng lõi; 172,57 ha vùng đệm; 978,59 ha vùng chuyển tiếp bao gồm: Vườn
Quốc gia U Minh Thượng, rừng phòng hộ ven biển An Minh; Vườn Quốc gia
Phú Quốc và rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương. Đây là nơi điều tiết nguồn
nước cho các hồ chứa, bảo vệ tuyến đê biển và cảnh quan môi trường. Hay mô
hình chọn tạo giống lúa để thích ứng với BĐKH và an ninh lương thực. Mô hình
được tiến hành từ năm 2006 với sự tài trợ của Dự án Bảo tồn và phát triển đa
dạng sinh học cộng đồng (CBDC). Mô hình này tập trung nâng cao năng lực cho
nông dân về chọn giống, cải thiện giống lúa và sản xuất trao đổi hạt giống phục
vụ sản xuất ở cộng đồng, thích ứng với BĐKH bằng cách huấn luyện thiết lập
các tổ giống cộng đồng, tổ chức các mô hình trình diễn quy trình sản xuất giống,
15
kỹ thuật canh tác tại ruộng cho nông dân. Đặc biệt là xây dựng mạng lưới sản
xuất hạt giống ở cộng đồng, hướng tới xã hội hóa công tác giống ở Đồng bằng
sông Cửu Long và góp phần an ninh nguồn giống cho sản xuất nông nghiệp, cải
thiện sinh kế cho nông dân nghèo ở nông thôn. Ngoài ra, việc xây dựng “Làng
sinh thái” trên quan điểm tiếp cận hệ sinh thái đã góp phần xoá đói giảm nghèo
trong các hệ sinh thái khắc nghiệt. Một trong các mô hình làng sinh thái điển
hình đã được xây dựng là làng sinh thái ở vùng trũng úng ngập quanh năm (Phú
Điền, Hải Dương). Mô hình đã chứng tỏ được hiệu quả trong việc giúp bà con
nông dân phát triển kinh tế, cải thiện môi trường sinh thái và thích ứng với biến
đổi khí hậu. Một mô hình làng sinh thái điển hình khác đã được xây dựng là làng
sinh thái vùng cát khô ven biển (Hải Thủy, Quảng Bình). Mô hình do cơ quan
tạo điều kiện thuận lợi để triển khai các biện pháp này. Theo đó, nếu thích ứng
với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái được xem xét trong một bối cảnh rộng
(bao gồm các yếu tố môi trường, kinh tế, xã hội), được cung cấp hỗ trợ đầy đủ
(về mặt tài chính và thể chế), năng lực của địa phương được tăng cường thông
qua các hướng dẫn, chia sẻ kiến thức và điển hình thực tế hiệu quả, chắc chắn sẽ
đạt được thành công.
Thứ ba, cần lồng ghép và thúc đẩy việc duy trì và phục hồi tính đa dạng
của các hệ sinh thái khỏe mạnh trong những lãnh thổ rộng lớn hơn, môi trường
nước ngọt và nước mặn trong các chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cách tiếp cận dựa vào hệ sinh thái chỉ ra hướng đi quan trọng để hoạch định
chính sách và có các hành động bền vững nhằm thích ứng với những thảm họa
không hồi phục được do biến đổi khí hậu.
Thứ tư, cần quan tâm đến chiều hướng xã hội khi xây dựng và thực hiện
các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái. Một đặc điểm
quan trọng của thích ứng dựa vào hệ sinh thái so với các cách tiếp cận khác là
không những quan tâm đến lợi ích môi trường và thích ứng mà còn quan tâm
đến các lợi ích xã hội của cộng đồng địa phương bao gồm các nhóm dễ bị tổn
thương như phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật (ví dụ: tăng thu nhập, đa dạng
hóa các loại hình nghề nghiệp, cơ hội học tập và bình đẳng giới).
17
Các bài học kinh nghiệm trên được rút ra sau khi nghiên cứu các công
trình cũng như thực tiễn áp dụng thích ứng với biến đổi dựa vào hệ sinh thái trên
thế giới và ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ áp dụng những bài học kinh
nghiệm này khi xây dựng qui trình, nội dung và nguyên tắc thích ứng với BĐKH
dựa vào hệ sinh thái ở cấp huyện trong phần sau.
1.4. Xây dựng qui trình, nội dung và nguyên tắc thích ứng với BĐKH dựa
vào hệ sinh thái ở cấp huyện
- Dự tính biến đổi khí hậu trong tương
lai ở cấp huyện
- Tìm hiểu tác động của biến đổi khí
hậu lên những yếu tố chính ở cấp
huyện
- Tìm kiếm sự đồng thuận của các bên
liên quan chính ở huyện về tương lai
mong đợi
Tiến hành hoạt động
- Thu thập thông tin về đặc điểm của
hệ sinh thái và các dịch vụ hệ sinh thái
- Xác định rõ vấn đề cần được giải
quyết khi áp dụng thích ứng với biến
đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái tại
huyện
- Xác định rõ các mục tiêu thích ứng
Các hoạt động của giai đoạn 1 đều nhằm tìm hiểu bối cảnh thích ứng với
biến đổi khí hậu dựa vào hệ sinh thái. Cần xem xét các hệ sinh thái và các dịch
vụ mà chúng cung cấp để xác định được nội dung vấn đề. Xác định được vấn đề
mà giải pháp thích ứng mong muốn giải quyết thông qua “lăng kính” sinh thái sẽ
giúp cho việc đánh giá các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào hệ
sinh thái so với các kỹ thuật thích ứng truyền thống khác trở nên “công bằng” hơn.
19