Bài tập học kì môn THƯƠNG mại 1 - Pdf 38

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………………………..……………………………………………1
NỘI DUNG……………………………...…………………………………………1
I.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ VÀ
QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC
XÃ…………………..…1
1.1. Khái quát về thành viên hợp tác xã……………………….….…………1
1.1.1 Khái niệm ………………………………………….…….……………1
1.1.2 Đặc điểm……………………………………………………..………..1
1.1.3 Vai trò của thành viên hợp tác xã…………………………………...…2
1.2. Khái quát về quy chế pháp lý về thành viên hợp tác xã……………….2

II.

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ THEO QUY
ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH……………………………………....3
2.1 Xác lập tư cách thành viên hợp tác xã……………………………..……3
2.2Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã………………………..…6
2.3Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã……………………………....12

III.

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH…………………………………….14

KẾT LUẬN……………………...……………………………………...15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………….16

1


2


nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần thúc đẩy sự phát triển của hợp tác
xã.
1.1.3 Vai trò của thành viên hợp tác xã.
Với vai trò là chủ HTX., thành viên hợp tác xã là người góp vốn để thành
lập, xây dựng HTX. Đây chính là nguồn tài chính cơ bản, tạo điều kiện cho HTX
hoạt động được thông suốt. Ngoài ra, các thành viên hợp tác xã có vai trò điều
hành, kiểm tra, giám sát hoạt động của HXT, giúp hợp tác xã tạo ra các sản phẩm,
dịch vụ ổn định, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của HTX.
Bên cạnh vai trò là chủ HTX, các thành viên còn là khách hàng thường
xuyên, ổn định của HTX. Thành viên HTX sẽ trực tiếp sử dụng sản phẩm, dịch vụ
của HXT, họ được coi là mối khách hàng , đối tượng tiêu thụ sản phẩm của HXT.
Qua việc sử dụng này, các thành viên sẽ có những trải nghiệm về các sản phẩm do
chính mình, HTX của mình sản xuất ra, từ đó sẽ có những đóng góp cho sự cải tiến
các sản phẩm ngày càng hợp lý, hữu hiệu, hiện đại hơn.
1.2. Khái quát về quy chế pháp lý về thành viên HTX
Quy chế pháp lý thành viên HTX là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của
thành viên trong HTX được quy định trong các văn bản pháp luật và điều lệ HTX
do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Đại hội thành viên HTX ban hành,
được đảm bảo thực hiện và tuân thủ thực tế.
Quy chế pháp lý thành viên HTX có đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể ban hành quy chế pháp lý thành viên HTX bao gồm: cơ
quan nhà nước và HTX. Cơ quan nhà nước là quốc hội, chính phủ, các bộ trưởng,
thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp. Theo
đó, Quốc hội ban hành Luật Hợp tác xã để điều chỉnh quy chế về thành viên HTX.
Chính phủ, các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân và ủy
ban nhân dân các cấp ban hành nghị định, thông tư, chỉ thị để hướng dẫn, chỉ đạo

từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Theo BLDS, người từ đủ
4


18 tuổi trở lên là người thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được tham
gia vào tất cả các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Thành viên hợp tác xã là người đại diện cho hợp tác xã tham gia vào các giao dịch
dân sự. Do đó, luật yêu cầu thành viên của hợp tác xã phải là người đã thành niên,
có năng lực hành vi dân sự. Ngoài ra, về tư cách chủ thể, luật HTX 2012 đã mở
rộng thêm đối tượng thành viên HTX là người nước ngoài. Do là nhóm đối tượng
đặc biệt nên theo nghị định 193/2013/NĐ-CP đặt ra thêm điều kiện để trở thành
thành viên HTX Việt Nam, người nước ngoài phải đang cư trú hợp pháp tại Việt
Nam. Đây là một quy định phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện
nay, nhằm tạo điều kiện cho cá nhân nước ngoài cư trú ở Việt Nam nếu có nhu cầu
có thể tham gia vào hợp tác xã, đồng thời cũng tạo thêm cơ hội phát triển HTX.
Đối với hộ gia đình phải có người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp
luật. Theo Điều 107 BLDS thì người đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch
dân sự vì lợi ích chung của hộ là chủ hộ. Chủ hộ có thể là Cha, mẹ hoặc một thành
viên khác đã thành niên. Người đại diện của hộ gia đình phải có đủ các điều kiện
như đối với cá nhân theo điểm a khoản 1 Điều 13 và điều lệ HTX. Chủ hộ có thể
uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân
sự.
Đối với pháp nhân. Theo Luật HTX để trở thành thành viên của HTX thì cơ
quan, tổ chức phải là pháp nhân Việt Nam. Pháp nhân phải có người đại diện.
Người đại diện của pháp nhân tại hợp tác xã là người đại diện hợp pháp (đại diện
theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền) của pháp nhân đó. ( Khoản 3 Điều 3
Nghị định 193/2013/NĐ-CP)
Đối với hợp tác xã tạo việc làm thì thành viên chỉ là cá nhân mà không thể là
hộ gia đình hay pháp nhân. Bởi xuất phát từ yêu cầu của mô hình HTX này, chỉ có
cá nhân mới trực tiếp tham gia lao động, làm việc cho HTX mà các hộ gia đình, cơ



định rõ ràng dẫn đến thực trạng có thành viên chỉ góp vốn, có thành viên chỉ góp
sức thì theo Luật HTX năm 2013, các thành viên tham gia vào hợp tác xã bắt buộc
phải góp vốn và góp sức vào HTX. Luật cũng quy định mức vốn góp vào hợp tác
xã không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã.( khoản 1 Điều 17 Luật HTX năm
2012), mức góp vốn này hiện nay đã được giảm xuống ( Luật HTX năm 2003 là
30%, Luật HTX năm 2012 là 20%).
Trong trường hợp người nước ngoài góp vốn vào HTX đối với những ngành
nghề kinh doanh hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn của người nước ngoài thì việc tham
gia của người nước ngoài vào hợp tác xã phải tuân thủ các quy định của pháp luật
đầu tư liên quan tới ngành nghề đó.( Điều 4 Nghị định 193/2013/NĐ-CP).
Ngoài ra, còn có các điều kiện khác do điều lệ HTX quy định.
Khi đáp ứng đủ các điều kiện trên, cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân sẽ được
Hội đồng quản trị xét kết nạp và Đại hội thành viên thông qua để trở thành thành
viên của HTX. Thành viên HTX không phân biệt giàu nghèo, nam nữ, dân tộc, tôn
giáo. Mọi cá nhân tham gia đều được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, địa vị pháp
lý. Ngoài ra, nhà nước cũng tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có
thể là thành viên của nhiều hợp tác xã trừ trường hợp điều lệ hợp tác xã có quy
định khác.( Khoản 3 Điều 13 Luật HTX 2012). Đối với pháp nhân Việt Nam và cá
nhân là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam, Quốc Hội đã giao cho
Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục trở thành thành viên HTX nhằm trách nguy
cơ người nước ngoài, các pháp nhân tận dụng các ưu thế gây thiệt hại với các chủ
thể trong nước, với các doanh nghiệp khác.
2.2 Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã
Quyền và nghĩa vụ của thành viên HTX là hai mặt không thể tách rời. Thành
viên được hưởng quyền đồng thời phải làm tròn nghĩa vụ đối với HTX. Điều này
thể hiện mối liên hệ về trách nhiệm pháp lý giữa HTX với thành viên của HTX đó.
7


viên và khi thành viên không sử dụng sản phẩm, dịch vụ trong thời gian liên tục
theo quy định thì cũng sẽ chấm dứt tư cách thành viên. Quy định này cũng xuất
phát từ tính xã hội của HTX, HTX có nghĩa vụ chăm lo, quan tâm giúp các thành
viên cải thiện cuộc sống. Hơn nữa quy định này cũng góp phần bảo đảm cho sự
vận hành ổn định của HTX.
Về vấn đề vốn góp: Khoản 2 Điều 15 quy định thành viên có nghĩa vụ góp
đủ, đúng thời hạn vốn góp đã cam kết theo quy định của điều lệ. Đồng thời có
quyền được chia giá trị tài sản được chia còn lại của hợp tác xã theo quy định của
Luật HTX và điều lệ (khoản 11 Điều 14), được nhận lại vốn góp khi ra khỏi hợp
tác xã theo quy định của Luật HTX năm 2012 và điều lệ. (khoản 10 Điều 14),
Trong mọi trường hợp, khi ra khỏi HTX, thành viên đều được trả lại vốn góp nhằm
đảm bảo quyền lợi về mặt tài sản của các thành viên này. Tuy nhiên, thành viên chỉ
được trả lại vốn góp sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính của mình đối
với hợp tác xã. Việc trả lại vốn góp cho thành viên, hợp tác xã thành viên chỉ được
thực hiện sau khi hợp tác xã đã quyết toán thuế của năm tài chính và bảo đảm khả
năng thanh toán các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính của hợp tác xã.
Về phân phối thu nhập và trách nhiệm tài sản: thành viên HTX có quyền
được hưởng phân phối thu nhập theo quy định của Luật HTX và điều lệ ( Khoản 2
Điều 14). Mức phân phối thu nhập được tính chủ yếu theo mức độ sử dụng sản
phẩm, dịch vụ; theo công sức lao động đóng góp của thành viên với HTX tạo việc
làm; phần còn lại được chia theo vốn góp; tỷ lệ cụ thể do điều lệ quy định. Để có
quyền được phân phối thu nhập, các thành viên phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính
theo quy định của pháp luật. Thu nhập đã phân phối cho thành viên là tài sản thuộc
sở hữu của thành viên, hợp tác xã thành viên. Thành viên có thể giao thu nhập đã
phân phối cho hợp tác xã quản lý, sử dụng theo thỏa thuận với hợp tác xã.

9


Khi tham gia vào HTX, các thành viên được hưởng lợi nhuận theo sự phân

Đồng thời, các thành viên phải có nghĩa vụ tuân thủ điều lệ, quy chế của hợp
tác xã, nghị quyết đại hội thành viên và quyết định của hội đồng quản trị hợp tác
xã. ( khoản 5 Điều 15). Ngoài những quy định chung của pháp luật, mỗi HTX
cũng đặt ra những điều lệ, nghị quyết, quyết định riêng cho tổ chức của mình
nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với thực trạng hoạt
động của HTX. Khi một chủ thể bắt đầu tham gia vào một HTX cũng đồng nghĩa
với việc họ đã tán thành điều lệ của HTX. Do đó, trong suốt quá trình tham gia
HTX, các thành viên cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh các điều lệ mà mình đã
tán thành trước đó cũng như các quyết định, nghị quyết mà mình đã biểu quyết tại
đại hội thành viên. Có thể nói, điều lệ, nghị quyết, quyết định của HTX phản ánh
một cách rõ nét quy mô hoạt động HTX, vậy nên khi các thành viên chấp hành
nghiêm chỉnh sẽ phản ánh được tính kỹ luật, quy mô hoạt động của HTX đó. Đây
được coi là một nghĩa vụ vừa mang tính tự giác, vừa mang tính bắt buộc đối với tất
cả các thành viên.
Ngoài ra, các thành viên HTX có quyền và nghĩa vụ khác:
Khi tham gia vào HTX các thành viên có quyền hưởng các phúc lợi của hợp
tác xã (khoản 3 Điều 14). Theo từ điển tiếng Việt, phúc lợi là lợi ích mà mọi
người có thể được hưởng không phải trả tiền hoặc chỉ phải trả một phần xây dựng
quỹ phúc lợi các công trình phúc lợi bao gồm phụ cấp gia đình, chăm lo đời sống
tinh thần, vui chơi giải trí,….
Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện theo quy định của pháp luật. ( khoản 12 Điều
14). Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện là quyền của mỗi công dân, được ghi nhận trong
Hiến pháp và được bảo đảm thực hiện. Quy định này thể hiện quyền dân chủ của
các thành viên HTX. Qua đó cũng là nền tảng cho các thành viên HTX có thể giám
11


sát các hoạt động, cơ cấu tổ chức của HTX, góp phần giảm vi phạm, tham nhũng
trong hoạt động của HTX.
Các thành viên có quyền được cung cấp thông tin cần thiết liên quan đến hoạt

2.3 Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã
Chấm dứt tư cách thành viên hợp tác xã là việc kết thúc mối quan hệ giữa xã
viên với HTX của mình, từ đó cũng chấm dứt luôn những quyền và nghĩa vụ của
hai bên. Hành vi chấm dứt này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền của thành viên và từ
đó cũng có thể ảnh hưởng sâu sắc tới sự tồn tại, hoạt động của HTX. Bởi vậy, để
chấm dứt tư cách thành viên thì tùy vào trường hợp sẽ do hội đồng quản trị hoặc
đại hội thành viên quyết định khi xảy ra một trong các trường hợp quy định tại
khoản 1 Điều 16 Luật Hợp tác xã năm 2012, cụ thể là:
Thứ nhất, khi thành viên là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố là đã chết, mất
tích, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị kết án phạt tù theo quy
định của pháp luật; thành viên là hộ gia đình không có người đại diện hợp pháp
theo quy định của pháp luật; thành viên là pháp nhân bị giải thể, phá sản. Chính sự
tồn tại hay không tồn tại, khả năng điều khiển hành vi hoặc không có khả năng, có
người đại diện hay không có đã là yếu tố quyết định việc còn hay chấm dứt tư cách
thành viên HTX của cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân. Vì chủ thể này không còn
khả năng để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ đã thiết lập trước đó đối với
HTX. Việc chấm dứt tư cách thành viên HTX trong trường hợp này thực chất là để
bảo vệ quyền con người đối với thành viên cũng như bảo vệ lợi ích của HTX.
Thứ hai, khi hợp tác xã bị giải thể, phá sản thì đương nhiên tư cách thành
viên sẽ chấm dứt.

13


Thứ ba, thành viên tự nguyện ra khỏi hợp tác xã. Các thành viên hợp tác xã
tự nguyện tham gia vào HTX thì cũng được quyền tự nguyện ra khỏi HTX, chấm
dứt tư cách thành viên của mình. Quy định này tạo điều kiện cho thành viên khi họ
không còn điều kiện, hoàn cảnh để tiếp tục tham gia HTX thì họ có thể xin ra khỏi
HTX. Việc chấm dứt tư cách thành viên này nhằm tránh sự gò bó khi tham gia vào
HTX, đảm bảo tính linh hoạt, tôn trọng sự tự nguyện của công dân.

không góp đủ vốn, không góp hoặc góp thấp hơn vốn góp tối thiểu sẽ không đủ
điều kiện làm thành viên HTX do đó bị chấm dứt tham gia vào HTX.
Ngoài ra, các trường hợp chấm dứt tư cách thành viên khác sẽ do điều lệ quy
định.
III. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ THÀNH VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH.
Kể từ ngày 01/7/2013 Luật HTX 2012 chính thức có hiệu lực đã giải quyết
được một số vướng mắc của Luật Hợp tác xã năm 2003. Một trong những điểm
mới của Luật hợp tác xã năm 2012 về quy chế thành viên hợp tác xã là sửa tên gọi
đối tượng tham gia hợp tác xã từ “xã viên hợp tác xã” trở thành “thành viên hợp
tác xã”. Việc quy định này làm tạo sự thống nhất tên gọi giữa thành viên hợp tác
xã, hợp tác xã thành viên, thành viên hợp tác xã. Ngoài ra, về vai trò của thành
cũng thay đổi. Nếu như ở luật hợp tác xã năm 2003, xã viên hợp tác xã có thể chỉ
cần góp vốn hoặc góp sức. Còn ở Luật Hợp tác xã năm 2012, thành viên hợp tác xã
vừa phải góp vốn, vừa góp sức vào hợp tác xã. Thành viên hợp tác xã sẽ đóng hai
cương vị: vừa là chủ hợp tác xã, vừa là khách hàng của hợp tác xã. Do đó, tư tưởng
của nhà làm luật đã có sự phân định rõ ràng của thành viên của hợp tác xã với
thành viên của doanh nghiệp.

15


Tuy nhiên, Luật Hợp tác xã cũng còn một số bấp cập về quy chế thành viên
sau đây: Về quyền khiếu nại của thành viên hợp tác xã. Theo khoản 12 ĐIều 14
Luật hợp tác xã năm 2012 quy định thành viên hợp tác xã có quyền khiếu nại, tố
cáo theo quy định của pháp luật. Quy định này còn mang tính hình thức, quy định
chung về quyền khiếu nại, tố cáo của thành viên hợp tác xã. Ở Việt Nam, số lượng
hợp tác xã nông nghiệp rất lớn, những người nông dân không am hiểu sâu về pháp
luật, khi quyền và nghĩa vụ của họ bị xâm phạm khó có thể biết về trình tự, thủ tục,
khiếu nại tố cáo tại cấp nào. Thiết nghĩ, nhà làm luật nên quy định cụ thể thành

4. Nguyễn Thị Ngọc Hà – Chế độ pháp lý xã viên hợp tác xã – những vấn đề lý
luận và thực tiễn – luận văn thạc sĩ luật học, trường đại học Luật Hà Nội,
năm 1997.
5. Nguyễn thị hồng anh- Quy chế pháp lý thành viên hợp tác xã năm 2012,
khóa luận tốt nghiệp, trường đại học Luật Hà Nội.
6. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
7. Bộ luật dân sự năm 2005.
8. Luật hợp tác xã năm 2012.
9. Luật Hợp tác xã năm 2003.
10. Luật doanh nghiệp năm 2014.
11.Nghị định 193/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác

12. Kinh tế tập thể ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp phát triển:
http://luanvan.co/luan-van/kinh-te-tap-the-o-viet-nam-hien-nay-thuc-trangva-giai-phap-phat-trien-4134/

17


13. Xây dựng hợp tác xã gắn liền với lợi ích xã viên:
http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Det
ail.aspx?ItemID=776
14. Liên minh hợp tác xã Việt Nam: http://www.vca.org.vn/

18


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

ĐƠN XIN GIA NHẬP HỢP TÁC XÃ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status