Luận văn phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại quận thốt nốt cần thơ - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH
  

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ
KINH TẾ CỦA HỘ NUÔI CÁ TRA TẠI
QUẬN THỐT NỐT – CẦN THƠ

Giáo viên hướng dẫn:

VÕ HỒNG PHƯỢNG

Tháng 05/2009

Sinh viên thực hiện:


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo xu thế chung của thế giới ngày nay, sự tăng trưởng mạnh của nền kinh
tế toàn cầu cùng với sự gia tăng về dân số kéo theo sự gia tăng mạnh mẽ nhu cầu
tiêu dùng của con người mà đặc biệt là những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết
yếu hằng ngày. Do đó nhu cầu sử dụng sản phẩm thủy sản trên thế giới ngày càng
tăng. Mức tăng của các sản phẩm thủy sản nhiều hơn so với các sản phẩm trên cạn

Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

Thốt Nốt là nơi có điều kiện thuận lợi để nuôi cá tra và cá ba sa, bởi những
điều kiện tự nhiên về môi trường nước, sinh thái... Mỗi năm diện tích nuôi cá tra,
ba sa đều tăng. Năm 2007 giá cá tra, ba sa khá cao, có lúc lên đến 17.000 đồng/kg,
nên người nuôi thu lợi nhuận cao, có tổng diện tích nuôi cá tra, ba sa trên 5.000 ha.
So với năm 2000 diện tích này đã tăng trên 10 lần và dự báo sẽ tiếp tục tăng nhanh
trong những năm sắp tới. Tuy nhiên, nếu đánh giá tổng quan về thực trạng nuôi và
tiêu thụ cá tra thì còn rất nhiều khó khăn, thách thức. Một số khó khăn, thách thức
điển hình như: thứ nhất, chi phí nguyên nhiên liệu đầu vào ngày càng tăng, gây
khó khăn trong quá trình nuôi của người dân; thứ hai, sự biến động về giá trên thị
trường, khiến giá cả bấp bênh, không ổn định; thứ ba, thiếu sự hỗ trợ, phối hợp của
các cơ quan có chức năng và còn nhiều những khó khăn, trở ngại khác chưa được
đề cập đến. Trước những thách thức trên, việc nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân
về tình hình nuôi cá tra là vấn đề hết sức cần thiết. Vì vậy, đề tài “Phân tích thực
trạng và hiệu quả kinh tế của người nuôi cá tra ở quận Thốt Nốt – Thành phố
Cần Thơ” được thực hiện.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của người nuôi cá tra ở Quận Thốt
Nốt- Tp Cần Thơ. Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế
cá tra trong thời gian tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Đánh giá thực trạng chung của nông dân nuôi cá tra ở Q. Thốt Nốt- Tp Cần
Thơ.
Phân tích chi phí, doanh thu, lợi nhuận đạt được của nông dân và các nhân tố
ảnh hưởng đến quá trình nuôi cá tra ở Q. Thốt Nốt- Tp Cần Thơ.
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hoá ở Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2002:
trường hợp sản phẩm heo ở tỉnh Cần Thơ. Tác giả đã áp dụng phương pháp phân
tích tần số, hồi qui tương quan và kiểm định sự phù hợp, để phân tích hiệu quả sản
xuất và xác định những thuận lợi, khó khăn, đánh giá các chính sách đối với hoạt
động triển khai và áp dụng kỹ thuật mới trong quá trình sản xuất.
2. Ths. Lê Quang Viết, Ths. Huỳnh Trường Hu, Cn. Huỳnh Nhựt
Phương: Thực trạng nuôi cá không theo quy hoạch ở An giang, Động Tháp và
Tp Cần Thơ năm 2007. Đề tài đã được tác giả áp dụng theo phương pháp thống kê
mô tả, để thấy được tính hiệu quả khi nông hộ ứng dụng các mô hình khoa học kỹ
thuật vào sản xuất cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, lợi nhuận của
nông hộ trên địa bàn nghiên cứu.

GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 3

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1. Một số thuật ngữ kinh tế
- Hiệu quả: là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho




Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

- Cùng tiến hành sản xuất chung.
Ở Việt Nam, cho đến nay chưa có một cuộc thảo luận nghiêm túc nào về khái
niệm hộ và các phương pháp nghiên cứu hộ. Hầu như từ trước tới nay người ta
mặc nhiên thừa nhận “hộ” là “gia đình”, “kinh tế hộ” là “kinh tế gia đình”.
2.1.3. Vai trò của kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển.
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của
nông nghiệp và nông thôn. Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ
trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài
ra còn do truyền thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm lí đạo đức gia
đình, dòng họ. Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các
mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lí và quan hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là
quan hệ lợi ích kinh tế. Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng
lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có. Trong
mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và
phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp. Các thành viên
trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn
cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hiệp tác lao
động một cách hợp lí.
Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai
trò hết sức quan trọng. Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao - phần lớn
nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ nông
trại và các thành viên trong gia đình. Động lực lớn nhất thúc đẩy sản xuất ở nông
trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia đình. Ở Việt Nam, kinh
tế nông hộ mặc dù còn ở quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết
sức quan trọng để phát triển nông nghiệp. Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội
khoảng 90% sản lượng thịt và cá, khoảng 90% sản lượng trứng, 90% sản lượng rau

nhằm biết thu nhập có bù đắp được chi phí công lao động nhà hay không.
Tỷ số giữa thu nhập ròng trên chi phí chưa có công lao động nhà
(TNR/∑CLDN): một đồng chi phí bỏ ra sẽ cho bao nhiêu đồng thu nhập.
Tỷ số giữa lợi nhuận ròng trên chi phí công lao động nhà (LNR/CPLDN):
lợi nhuận đạt được có đủ bù đắp chi phí công lao động nhà hay không.
Tỷ số giữa lợi nhuận ròng trên tổng chi phí đã có công lao động nhà
(LNR/∑CP): một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Đây
chính là tỷ suất lợi nhuận của việc nuôi cá.
Tỷ số giữa thu nhập ròng trên tổng doanh thu (TNR/∑DT): trong một đồng
doanh thu tạo ra có bao nhiêu đồng thu nhập ròng.
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2.2.1. Chọn địa bàn nghiên cứu:

Địa bàn khảo sát tại Q. Thốt Nốt là thị trấn Thốt Nốt gồm xã Tân Hưng và
Tân Lộc. Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu dựa theo một số tiêu chí sau:

GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 6

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

- Tham khảo số liệu từ các báo cáo kinh tế, niên giám Thống kê Q. Thốt
Nốt năm 2007. Đồng thời tham khảo sự giới thiệu của các cô, chú, anh, chị
Phòng kinh tế quận, trạm khuyến ngư quận để chọn địa bàn có diện tích nuôi cá tra

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

2.2.3. Phân tích dữ liệu
Sử dụng phương pháp hồi quy bội tuyến tính đa chiều là phương pháp dùng
để dự đoán, ước lượng giá trị của một biến (được gọi là biến dự báo hay biến phụ
thuộc) theo giá trị của một hay nhiều biến khác (được gọi là biến dùng
để dự báo, biến độc lập, biến mô tả). Mô hình tổng quát hàm thu nhập có dạng:
Y1= β0 + β1X1i + β2X2i + … + βpXpi + ui = f(X1i, X2i,…,Xpi)
Ký hiệu Xpi biểu hiện giá trị của biến độc lập thứ p tại quan sát thứ i. Các
hệ số β là các tham số không biết và thành phần u i là một biến độc lập ngẫu nhiên
2

có phân phối chuẩn với trung bình là 0 và phương sai không đổi σ .
Áp dụng cụ thể đối với các nông hộ nuôi cá tra ở Q. Thốt Nốt- Tp Cần Thơ
nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ thì hàm thu nhập từ hoạt
động nuôi cá tra sẽ có dạng:
Y= f(X1, X2, X3, X4, X5, X6, X7, X8, X9, X10 )
Các biến số X1…X7 được thiết lập trên cơ sở tập hợp các yếu tố ảnh hưởng
đến chi phí và doanh thu của hoạt động nuôi cá tra, bởi vì thu nhập là hiệu số giữa
doanh thu và chi phí chưa tính công lao động nhà. Còn biến số X 8,X9 là kinh
nghiệm thể hiện trình độ kỹ thuật của người nuôi nên cũng có tác động đến doanh
thu và chi phí do đó cũng có ảnh hưởng đến thu nhập.
Kết quả in ra từ phần mềm SPSS có các thông số sau:




Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

CHƯƠNG 3
TỔNG QUAN VỀ QUẬN THỐT NỐT– THÀNH PHỐ CẦN THƠ

3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1.Vị trí địa lý
Theo niên giám thống kê Tp Cần Thơ 2007, Quận Thốt Nốt là một trong chín
đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ. Quận có vị trí địa lý như sau:

- Phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp.
- Phía tây giáp huyện Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ.
- Phía nam giáp huyện Cờ Đỏ, quận Ô Môn.
- Phía bắc giáp tỉnh An Giang, Đồng Tháp.

Quận Thốt Nốt có mặt tiền đường bộ nằm trải dài theo Quốc lộ 91, phía sau
sông hậu trên dưới 500m là dòng sông Hậu hiền hòa quanh năm mang phù sa,
dòng nước ngọt là điều kiện để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
3.1.2. Lịch sử hình thành
- Thời Pháp, Thốt Nốt là tên thuộc tỉnh Long Xuyên. Thời Việt Nam Cộng
Hòa, Thốt Nốt là quận của tỉnh An Giang. Sau năm 1975 là huyện của tỉnh An
Giang,sau đó lại thuộc tỉnh Cần Thơ.Cuối năm 2003 Cần Thơ trở thành thành phố
trực thuộc trung ương thì quận Thốt Nốt cũng được tách thành 2 huyện là
Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh thuộc ngoại ô thành phố Cần Thơ.
3.1.3. Khí hậu
- Quận Thốt Nốt có đặc tính khí hậu nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng
miền Nam bộ của Việt Nam. Có hai mùa rõ rệt: mùa khô (bắt đầu từ khoảng tháng
12 đến khoảng tháng 04 của năm sau) và mùa mưa (bắt đầu từ khoảng tháng 05 và
chấm dứt vào khoảng cuối tháng 11).

bảo cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác.
3.1.4. Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi lớn nhỏ chi chít rất thuận lợi, nước ngọt quanh năm.
Mưa kiệt vào tháng 4, lưu lượng nước sông Hậu 1970 m3/giây, lưu lượng nước
xuống thấp, gây tình trạng thiếu nước. Mùa lũ thường xây ra vào tháng 9, lưu
lượng nước sông Hậu đến 38.000 m3/ giây, hàm lượng phù sa 0,2 - 0,37 kg/m3.
Thời kỳ này mưa tập trung gây ngập lụt góp phần cải đất. Tình trạng thủy văn trên
đây ảnh hưởng quan trọng đến sản xuất, nhất là nông nghiệp và đời sống.
3.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI
3.2.1. Đơn vị hành chánh

-Theo niên giám thống kê Q. Thốt Nốt, 2007. Quận Thốt Nốt hiện nay có
17.110,08 ha diện tích tự nhiên. Quận Thốt Nốt gồm 9 đơn vị hành chánh trực
thuộc là các xã,phường: Hới Thuận, Thuận An, Thốt Nốt, Thạnh Hòa, Trung Nhứt,
Trung Kiên, Thuận Hưng, Tân Hưng và Tân Lộc.
3.2.2. Dân Số
- Theo niên giám thống kê Q. Thốt Nốt, 2007. Quận Thốt Nốt có mật độ
dân số trung bình là 1.149/Km2. Với dân số toàn quận là 196.610 người. Trong

GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 10

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ


GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 11

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

đến mức 14,04%, vượt 0,58% so với kế hoạch. GDP bình quân đầu người đạt
khoảng 3,89 triệu đồng/người/năm vào năm 2000 đã tăng lên đạt khoảng 6,537
triệu đồng năm 2005, tốc độ tăng GDP bình quân đầu người xấp xỉ 11%/năm.
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch dần theo xu hướng thương mại – dịch vụ,
công nghiệp – xây dựng, nông nghiệp – lâm nghiệp – thủy sản, theo đúng quy định
phát triển kinh tế của quận Thốt Nốt. Phấn đấu để đạt tốc tăng trưởng kinh tế của
huyện từ 13,64% đến 16% từ 2007 đến 2010.
3.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRONG QUẬN THỐT NỐT
3.3.1. Trồng trọt

- Theo niên giám thống kê quận Thốt Nốt năm 2007. Diện tích trồng trọt là
29.717 ha, giảm so với năm 2006 là 3.272 ha. Trong đó tổng diện tích xuống giống
lúa 03 vụ là 23.063 ha. Tổng sản lượng đạt được là 137.479 tấn giảm so với cùng
kì năm trước là 3.139 tấn.
3.3.2. Chăn nuôi
Đàn gia súc gia cầm bước đầu được phục hồi, công tác phòng chống dịch
bệnh cúm trên gia cầm, lở mồm long móng trên gia súc được khống chế; triển khai
các biện pháp nhằm tổ chức lại đàn chăn nuôi theo hướng bền vững.Tổng đàn gia
cầm có 293.250 con (150.203 con vịt, 143.047 con gà), tăng 5,53% so với năm

ở nông thôn (cùng với Đồng Tháp) có nguồn cá tra giống phong phú vớt trên sông
và nghề cá tra giống phát triển nhất trong cả nước. Tài liệu của Ủy hội sông
Mê Kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cá tra ở miền nam Việt Nam những thập
kỷ 1940- 1970. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá tra để chủ động cung cấp giống
cho người nuôi và góp phần bảo vệ nguồn lợi tự nhiên đã là một nhu cầu quan
trọng và cấp thiết. Từ năm 1978 với sự phối hợp nghiên cứu giữa khoa Thủy sản
trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh và trường Trung học kỹ thuật Nông
nghiệp Long Định (nay là Viện cây ăn quả miền nam) lần đầu tiên đã nuôi nhân
tạo thành thục cá tra bố mẹ trong ao và năm 1979 đã cho đẻ thành công. Từ năm
1980 Viện Nghiên cứu NTTS II cũng bắt đầu chương trình nghiên cứu sinh sản
nhân tạo cá tra, suốt thập niên 1980- 1990 qui trình nuôi vỗ thành thục cá bố mẹ
trong ao và cho đẻ nhân tạo đã tương đối hoàn chỉnh, năm 1997 công nghệ sản
xuất giống và ương nuôi cá tra đã đạt kết quả tốt, năm 2002 công nghệ sản xuất
giống cá tra nhân tạo đã được chuyển giao cho nhiều tỉnh trong cả nước. Năm
1999, sản lượng cá tra bột sản xuất nhân tạo của các tỉnh ĐBSCL đã cao hơn số
lượng vớt ngoài tự nhiên. Công nghệ ương cá tra bột lên thành cá giống đã phổ cập
và xã hội hoá, và bắt đầu từ năm 2000 các tỉnh ĐBSCL nơi có nghề truyền thống
vớt và ương cá bột bắt đầu chấm dứt vớt cá tra bột trên sông. Hiện nay với
GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 13

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

những tiến bộ về kỹ thuật nuôi, năng suất nuôi cá tra đạt rất cao, ở các tỉnh An

chuyển đổi loại thức ăn. Trong ao nuôi cá tra có khả năng thích nghi với nhiều loại
thức ăn bắt buộc phế phẩm, phân hữu cơ, động vật đáy .

GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 14

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

4.1.5. Đặc điểm sinh sản của cá tra
Tuổi thành thục: cá tra đực ở 2t, cá tra cái ở 3t trở lên, trọng lượng khi đó
đạt trung bình 3kg trở lên. Tuy nhiên sự thành thục ở cá còn phụ thuộc rất nhiều
vào điều kiện môi trường sống, trong đó nhiệt độ là yếu tố tiên quyết. Cá tra không
có cơ quan sinh dục phụ, nên nhìn hình thái ngoài khó phân biệt đực cái. Cá đẻ tự
nhiên ở lưu vực sông Mekong tại Campuchia từ tháng 3 đến tháng 8, trong tự
nhiên không thấy hiện tượng tái phát dục. Trong sinh sản nhân tạo, ta có thể cho
thành thục sớm, cho đẻ sớm khoảng tháng 3, có thể cho đẻ tái phát dục 1-2 lần
trong năm. Hệ số thành thục cá đực 1- 3%, cá cái có thể đạt tới 20%. Sức sinh sản
tương đối của cá tra có thể từ 200 ngàn đến vài triệu trứng. Sức sinh sản tuyệt đối
dao động từ 70- 150 ngàn trứng.

4.2. THÔNG TIN VỀ HỘ NUÔI CÁ TRA
Mẫu số liệu dùng để xử lý, phân tích trong đề tài được thu thập trực tiếp từ
các hộ nuôi cá tra tại địa bàn quận Thốt Nốt, tổng số mẫu thu được là 49 mẫu.
4.2.1. Tổng quan về hộ nuôi cá tra

0,5 ha chiếm đến 57.1%. Trong khi đó, các hộ có diện tích đất trồng nhiều nhất tại
vùng nghiên cứu chỉ chiếm 4,1%. Điều này cho thấy nguồn lực về đất sản xuất tại
vùng khảo sát tương đối không đồng đều. Đa số các hộ có diện tích đất nuôi nhỏ
nhưng các hộ này không có điều kiện về vay vốn để mở rộng diện tích hoặc một số
hộ có diều kiện vay vốn để mở rộng diện tích nhưng họ không vay vì họ mang tâm
lí đầu tư càng lớn thì họ càng lỗ vì biến động giá cả cá tra trên thị trường rất thất
thường nhất là trong tình hình hiện nay. Chỉ có một số hộ có diện tích đất tương
đối lớn. Đồng thời, thực trạng trên cũng cho thấy diện tích đất nuôi cá tra tại địa
bàn nghiên cứu còn manh mún, quy mô nhỏ lẻ, thường mang tính tự phát. Điều
này cũng là một hạn chế về nguồn lực sản xuất của nông hộ.
4.2.1.2 Vị trí ao nuôi:
Vị trí ao nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi cá, ao nuôi nên gần
nguồn cấp – thoát nước, thuận lợi nhất là gần sông lớn. Hiện nay đa số ao nuôi cá
tra được xây dựng trên đất bãi ven sông Hậu, ao nuôi có hình chữ nhật, diện tích
2

tùy theo khả năng, nhưng thích hợp nhất là từ 500-1.500m , chiều sâu 3.5-4.0m.
Bờ ao cần cao hơn đỉnh lũ cao nhất hàng năm 0,5m nhằm tránh ngập trong mùa lũ.
Xung quanh ao đắp thêm bờ đất nhỏ nên cao thêm 20cm để ngăn nước ma tràn
xuống làm đục nước ao ảnh hưởng đến hoạt động của cá. Mặt bờ trồng rau muống
để ngăn sạt lở và làm thức ăn cho cá. Tuy nhiên, do việc nuôi cá tra trong những
năm qua đạt lợi nhuận khá nên nhiều người nuôi cũng đào ao tại đất vườn, đất
ruộng nằm sâu trong nội đồng và lấy nước qua hệ thống kênh, rạch nhỏ để nuôi cá
vô tình người dân đã làm giá đất ở Thốt Nốt tăng lên khá cao. Khi đào ao nuôi cá
tra tại đất vườn, đất ruộng một vài vụ đầu tiên có thể vẫn đạt năng suất. Nhưng ở
những vị trí này, khả năng cấp – thoát nước bị hạn chế, kênh rạch không được nạo
vét thường xuyên dễ tích tụ chất thải từ các ao của vụ nuôi trước làm cho cá chậm
lớn, hay mắc bệnh và chất lượng thịt cá không tốt.
GVHD: Võ Hồng Phượng


Bảng 3 : Thông tin về trình độ văn hoá của chủ hộ năm 2008.
Trình độ
Mù chữ
Cấp I
Cấp II
Cấp III
Tổng

GVHD: Võ Hồng Phượng


Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

Nhìn chung, trình độ học vấn của nông dân tại địa bàn nghiên cứu khá cao,
Với trình độ văn hóa phần lớn là bậc trung học cơ sở, bậc phổ thông trung học thì
nông dân hoàn toàn có khả năng tự tìm tòi, học hỏi, tiếp cận thông tin khoa học kỹ
thuật qua các phương tiện truyền thông (sách báo, truyền thanh, truyền hình…),
hoặc được cung cấp kiến thức từ các lớp tập huấn, cán bộ khuyến nông…

4.2.1.5 Yếu tố kĩ thuật:
Qua quá trình phỏng vấn trực tiếp những hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt về
tình hình nuôi cá tra trong năm 2007 - 2008 của hộ (số lượng, con giống, kỹ thuật
nuôi, tiêu thụ…) thấy rằng:
Trong quá trình nuôi cá tra yếu tố kĩ thuật là một khâu rất quan trọng tác
động đến năng suất lợi nhuận. Vì vậy yếu tố kĩ thuật tác động rất lớn đến quá trình
nuôi cá tra của nông hộ nhằm để giảm chi phí và năng cao năng suất của nông hộ
nuôi cá tra ở Quận Thốt Nốt. Vì vậy yếu tố kĩ thuật là một khâu rất quan trọng


những trường hợp cá biệt, thông thường nông hộ thả với mật độ dao động từ 20
2

con đến 40 con/m , Trong thời gian gần đây do mức độ ô nhiễm nguồn nước ngày
càng trầm trọng do đó mức độ rủi ro của việc nuôi cá cũng cao hơn nên có một số
2

hộ chủ trương nuôi cá với mật độ thấp (có thể từ 15 - 20 con/m ) để đạt mức an
toàn cao nhưng vẫn cho kết quả tốt, bên cạnh đó cũng có những hộ nâng mật độ
2

nuôi ngày càng cao để nâng cao năng suất và sản lượng cá nuôi (trên 50 con/m ),
tuy nhiên việc thả cá với mật độ dày hộ nuôi cho rằng sẽ sinh lợi, tiết kiệm diện
tích nuôi nhưng sẽ làm cho cá bị stress và phát sinh dịch bệnh. Khi đó, người nuôi
phải sử dụng hóa chất, thuốc men rất nhiều trên diện tích ao nuôi làm gia tăng chi
phí, gây ô nhiễm môi trường nuôi, tồn lưu thuốc, hóa chất độc hại trong thịt cá và
năng suất ao nuôi ngày càng thấp.
b. Kích cỡ thả nuôi:
Giống là yếu tố rất quan trọng trong quá trình thả nuôi của nông hộ. Bởi
nguồn giống không đạt tiêu chuẩn chất luợng về kích cỡ (nếu kích cỡ thả nuôi nhỏ
quá thì làm cho con giống tăng trưởng chậm hay lớn quá làm cho giảm đầu con
trên một diện tích). Qua kết quả điều tra cho ta thấy kích cỡ thả nuôi trung bình là
53,98 gam, trong đó kích cỡ thả nuôi thấp nhất là 10 gam và kích cỡ thả nuôi cao
nhất lên đến 80 gam là tương đối phù hợp với điều kiện của vùng, hay nói khác
hơn kích cỡ nguồn con giống đạt tiêu chuẩn.
c. Thời gian nuôi
Ngoài những yếu tố nêu trên thì thời gian nuôi cũng góp phần quyết định
dến năng suất cũng như lợi nhuận đạt được của nông hộ. Bởi nếu thời gian nuôi
ngắn quá thì sẽ làm cho năng suất thấp bởi tốc độ tăng trưởng của cá không phù

trường.
e. Sản lượng thu hoạch:
Qua kết quả điều tra 49 hộ nuôi trồng thủy sản trên địa bàn nghiên cứu cho
thấy sản lượng thu hoạch trung bình là 298,08 tấn, trong đó sản lượng thấp nhất là
46 tấn và cao nhất lên đến 1.200 tấn. Điều đó cho thấy được tình hình về thu hoạch
được trong năm qua là tương đối thấp. Nguyên nhân là do năm qua chịu ảnh
hưởng của điều kiện tự nhiên: nguồn nước, mầm bệnh, nguồn thức ăn không đảm
bảo nguồn dinh dưỡng cho cá tăng trưởng. Mặt khác, phần lớn nông hộ nuôi với
mật độ khá cao nên làm cho cá lớn không đồng đều. Vì vậy mà sản lượng thu
hoạch vừa qua của nông hộ không khả quan.
f. Tỷ lệ sống của hộ nuôi cá tra
Tỷ lệ sống là một trong những yếu tố quyết định không nhỏ đến năng suất,
doanh thu cũng như lợi nhuận của nông hộ nuôi cá tra, bởi vì tỷ lệ sống của cá là
phần trăm cá còn sống sau khi thu hoạch, nếu tỷ lệ sống của cá tra thấp sẽ làm
giảm năng suất, lợi nhuận của nông hộ nuôi cá tra. Trong 49 hộ điều tra thì tỷ lệ
sống của cá tra thấp nhất là 38.3%/vụ và tỷ lệ sống cao nhất là 92.4%/vụ, tỷ lệ
sống của cá tra trung bình của 49 hộ nuôi là 67.48%/vụ tương đối phù hợp với tình
hình nuôi cá tra ở Thốt Nốt, vì tỷ lệ sống của cá tra còn bị ảnh hưởng rất

GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 20

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ


trở sang giai đoạn tích mỡ và tăng trọng nhanh, hàm lượng đạm trong thức ăn
GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 21

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()


Phân tích thực trạng và hiệu quả kinh tế của hộ nuôi cá tra tại Q.Thốt Nốt – TP Cần Thơ

thời kỳ này giảm xuống 15-20%. Cho cá ăn hai lần/ngày và cần cho cá ăn đến no
thì thôi, thường là lượng thức ăn bằng 4-6% trọng lượng cá. Thành phần thức ăn
của cá như sau: 20% rau xanh, 50% cám, 30% cá, ốc, hến, đầu cá... xay nhỏ.
Thức ăn được nấu chín, nhồi dẻo, cho ăn ở dạng viên.
Thực tế khi khảo sát cho thấy nông hộ nuôi không quan tâm nhiều đến các
định mức kỹ thuật khi cho cá ăn như trên, mà thông thường họ cho cá ăn đến khi
no thì thôi gây ra việc ô nhiễm do thức ăn thừa cộng với lãng phí thức ăn đẩy giá
thành lên cao. Hơn nữa việc bảo quản thức ăn tương đối còn kém, kho bảo quản
thường không hợp vệ sinh làm cho thức ăn dễ bị nấm mốc nhất là trong mùa mưa
làm cá dễ bị bệnh do thức ăn đã bị hư.
h. Chất lượng nguồn nước
Bảng 6:Thông tin chất lượng nguồn nước ở Thốt Nốt năm 2008.

Tốt
Không tốt
Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra, 2009


4.2.1.6 Nguồn vốn vay
Hiện nay, trên địa bàn xã có nhiều đại lý bán thức ăn, thuốc, con giống
thường bán cho người nuôi dưới hình thức là bán chịu với lãi suất tương đối phù
hợp cho đến khi thu hoạch mới thanh toán một lần nếu như người nuôi có nhu cầu.
Chi phí thức ăn, chi phí giống chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng quá trình nuôi cá
mà có đến khoảng 80% nông hộ được phỏng vấn là mua thức ăn theo hình thức
này, nên nhu cầu về vốn vốn vay của hộ nuôi rất cao, họ thường vay vốn của các
ngân hàng với lãi suất 1,74%/ tháng trong năm 2008, tuy nhiên định mức cho vay
ưu đãi lại rất thấp không đủ vốn để người nuôi có thể đầu tư nuôi cá chính vì vậy
nông hộ thường vay bên ngoài và chịu lãi suất cao tư 3-6% tùy vào số tiền và uy
tín của người vay. Hơn nữa vốn vay ngân hàng nông nghiệp còn phải chịu thêm
chi phí vay tương đối cao trong năm 2008.
4.3 PHÂN TÍCH DOANH THU, CHI PHÍ, LỢI NHUẬN VÀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG
4.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 2007-2008
Để đánh giá hiệu quả kinh tế của nông hộ nuôi cá tra, ta nghiên cứu dựa vào
3 yếu tố : Doanh thu, năng suất, lợi nhuận và một số yếu tố khác.

GVHD: Võ Hồng Phượng

Trang 23

SVTH: Lý Đức Minh

Create PDF files without this message by purchasing novaPDF printer ()



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status