VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------
NGUYỄN HIỆP THƢƠNG
KỸ NĂNG THAM VẤN CHO GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI – 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-----------------------
NGUYỄN HIỆP THƢƠNG
KỸ NĂNG THAM VẤN CHO GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ
CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ: 62.31.80.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Hồi Loan
2. PGS.TS. Nguyễn Đức Sơn
KNTV
Kỹ năng tham vấn
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
PVS
Phỏng vấn sâu
TP
Thành phố
TTK
Trẻ tự kỷ
NXB
Nhà xuất bản
ĐHYHN
Đại học Y Hà Nội
ĐHQG
2.1.3. Nhân viên công tác xã hội ............................................................................... 39
2.1.4. Kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội ....... 43
2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
của nhân viên công tác xã hội ................................................................................... 65
2.2.1. Nhóm các yếu tố thuộc về chủ thể tham vấn- nhân viên công tác xã hội ....... 66
2.2.2. Nhóm các yếu tố khách quan ......................................................................... 68
Tiểu kết chương 2...................................................................................................... 70
iv
Chƣơng 3. TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 71
3.1. Tổ chức nghiên cứu ............................................................................................ 71
3.1.1. Nghiên cứu lý luận .......................................................................................... 71
3.1.2. Nghiên cứu thực tiễn ....................................................................................... 71
3.2. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 74
3.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu .................................................................... 74
3.2.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn .......................................................... 74
3.2.3. Phương pháp xử lý số liệu............................................................................... 80
3.3. Tiêu chí đánh giá và thang đánh giá .................................................................. 80
3.3.1. Tiêu chí đánh giá ............................................................................................. 80
3.3.2. Thang đánh giá ............................................................................................... 83
Tiểu kết chương 3...................................................................................................... 84
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN
CHO GIA ĐÌNH TRẺ TỰ KỶ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ............. 86
4.1. Thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên
công tác xã hội .......................................................................................................... 86
4.1.1. Thực trạng kỹ năng tham vấn cơ bản cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên
công tác xã hội .......................................................................................................... 86
4.1.2. Thực trạng kỹ năng tham vấn chuyên biệt cho gia đình trẻ tự kỷ
của nhân viên công tác xã hội ................................................................................. 103
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Những vấn đề của gia đình có thể xảy ra trong vòng đời TTK ................ 35
Bảng 2.2: những yêu cầu đối với mỗi mức độ KNTV .............................................. 65
Bảng 3.1: Độ tin cậy của các thang đo KNTV cho gia đình TTK của NVCTXH ... 72
Bảng 3.2: Đặc điểm khách thể nghiên cứu chính thức ............................................. 73
Bảng 3.3: Nhu cầu được tập huấn nâng cao trình độ KNTV
cho gia đình TTK của NVCTXH ............................................................. 77
Bảng 3.4: Những biểu hiện cụ thể của KNTV của NVCTXH ................................. 80
Bảng 3.5: Mức độ thực hiện các KNTV cho gia đình TTK của NVCTXH ............. 83
Bảng 4.1: Mức độ KNTV cơ bản cho gia đình TTK của NVCTXH ........................... 87
Bảng 4.2: Kỹ năng thiết lập mối quan hệ của NVCTXH ........................................... 90
Bảng 4.3: Kỹ năng hỏi của NVCTXH ....................................................................... 94
Bảng 4.4: Kỹ năng lắng nghe của NVCTXH ............................................................. 96
Bảng 4.5: Kỹ năng thấu hiểu của NVCTXH .............................................................. 99
Bảng 4.6: Kỹ năng phản hồi của NVCTXH ............................................................ 101
Bảng 4.7: Sự khác biệt trong đánh giá giữa NVCTXH và cha/mẹ TTK
về KNTV cơ bản cho gia đình TTK của NVCTXH ................................. 102
Bảng 4.8: Mức độ KNTV chuyên biệt cho gia đình TTK của NVCTXH ................. 104
Bảng 4.9: Kỹ năng cung cấp thông tin của NVCTXH ............................................. 107
Bảng 4.10: Kỹ năng đương đầu của NVCTXH ....................................................... 110
Bảng 4.11: Kỹ năng can thiệp của NVCTXH .......................................................... 113
Bảng 4.12: Kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực của NVCTXH ....................... 115
Bảng 4.13: Sự khác biệt trong đánh giá giữa NVCTXH và cha/mẹ TTK
về KNTV chuyên biệt cho gia đình TTK của NVCTXH ......................... 117
Bảng 4.14: Sự say mê, hứng thú với công việc của NVCTXH .............................. 119
Bảng 4.15: Kiến thức chuyên môn được đào tạo, kinh nghiệm thực tiễn
của NVCTXH......................................................................................... 121
Bảng 4.16: Tính tích cực, chủ động của NVCTXH ................................................ 123
Bảng 4.17: Cơ hội đào tạo nâng cao trình độ của NVCTXH .................................... 125
Bảng 4.18: Hình thức khuyến khích làm việc tại cơ quan đối với NVCTXH ........... 126
Biểu đồ 4.5: Kỹ năng thấu hiểu của NVCTXH ....................................................... 98
Biểu đồ 4.6: Kỹ năng phản hồi của NVCTXH ...................................................... 100
Biểu đồ 4.7: Thực trạng KNTV chuyên biệt cho gia đình TTK
của NVCTXH ................................................................................... 103
Biểu đồ 4.8: Kỹ năng cung cấp thông tin của NVCTXH ....................................... 105
Biểu đồ 4.9: Kỹ năng đương đầu của NVCTXH ................................................... 108
Biểu đồ 4.10: Kỹ năng can thiệp của NVCTXH .................................................... 112
Biểu đồ 4.11: Kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực của NVCTXH .................. 114
Biểu đồ 4.12: Thực trạng KNTV chuyên biệt cho gia đình TTK
của NVCTXH trước và sau thực nghiệm........................................... 137
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Số lượng trẻ em mắc hội chứng tự kỷ đang ngày càng gia tăng một cách
nhanh chóng ở trên thế giới và Việt Nam, trở thành mối quan tâm đặc biệt của toàn
xã hội
Tự kỷ là một hội chứng rối loạn bao gồm một nhóm các chứng rối loạn phát
triển thể hiện ở những khiếm khuyết trong quan hệ xã hội, khó khăn về giao tiếp đi
kèm với các rối loạn hành vi kiểu như có mối quan tâm và hoạt động bó hẹp, định
hình. Người ta gọi là phổ tự kỷ hoặc “hội chứng rối loạn phát triển lan toả” để nói
về những trường hợp này [60,Tr.7]. Hiện nay, tự kỷ được coi là một “căn bệnh” của
thời đại, số lượng trẻ tự kỷ tăng lên nhanh chóng ở tất cả các quốc gia trên thế giới,
trẻ tự kỷ được báo cáo xảy ra trong tất cả các nhóm chủng tộc, màu da, các dân tộc
và nền kinh tế xã hội khác nhau. Các thống kê đều cho thấy tỷ lệ trẻ mắc chứng tự
kỷ gia tăng một cách đáng kể. Thậm chí có tác giả còn gọi đó là một bệnh dịch.
Chẳng hạn ở Mỹ, những năm 80 của thế kỷ trước, người ta thống kê được số trẻ
mắc tự kỷ chỉ chiếm tỷ lệ 1/ 2000 trẻ. Năm 2011ở Mỹ có khoảng 560,000 trẻ bị tự
Những mâu thuẫn căng thẳng trong gia đình có người tự kỷ có thể xảy ra giữa vợ
với chồng, chồng với vợ, giữa bố mẹ với con cái…
Bên cạnh đó, những gánh nặng kinh tế, thời gian chăm sóc trẻ tự kỷ cùng
những mâu thuẫn, những khó khăn tâm lý có nhiều nguy cơ xuất hiện làm cho cuộc
sống và bầu không khí trong gia đình trẻ tự kỷcàng trở nên căng thẳng và sẽ nảy
sinh ra nhiều mặt khác của đời sống gia đình nếu không tìm cách giải quyết và vượt
qua nó [25].
1.3. Nhân viên công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc trợ giúp những
đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung và trẻ tự kỷ và gia đình trẻ tự kỷ nói riêng.
Công tác xã hội là một nghề [7], một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường
chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và
dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn
đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Nhân viên công tác xã hội được hiểu là
người được đào tạo về công tác xã hội. Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp
các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng đang gặp những hoàn
cảnh, những vấn đề khó khăn mà bản thân không tự giải quyết được. Nhân viên công
tác xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, tìm
3
kiếm các nguồn lực cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa
con người với môi trường, thúc đẩy trách nhiệm của xã hội với con người, và tác
động đến các chính sách xã hội. Trong quá trình trợ giúp những cá nhân, nhóm, cộng
đồng gặp những hoàn cảnh khó khăn cần sự trợ giúp, nhân viên công tác xã hội sử
dụng nhiều vai trò, nhiệm vụ khác nhau. Tham vấn nói chung và tham vấn cho gia
đình nói riêng là một trong những vai trò, nhiệm vụ hết sức quan trọng và trọng tâm
của nhân viên công tác xã hộiđặc biệt là đối với nhân viên công tác xã hội khi làm
việc với gia đình trẻ tự kỷ, những người đang gặp phải rất nhiều khó khăn khủng
hoảng về vật chất, đặc biệt là về tinh thần khi trong gia đình có trẻ tự kỷ sinh sống.
chủ, khách hàng của mình, đặc biệt là tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ, một trong
những nhu cầu bức thiết hiện nay.
Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu về can thiệp trị liệu cho trẻ tự kỷđang được
nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu, nhưng
hướng nghiên cứu hỗ trợ cho gia đình trẻ tự kỷ đang còn rất hạn chế và rất mới
mẻ,chưa có nhiều công trình nghiên cứu.
Do vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
của nhân viên Công tác xã hội ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷcủa
nhân viên công tác xã hội, các yếu tố chủ quan, khách quan tác động đến kỹ năng
tham vấn cho gia đình của nhân viên công tác xã hội. Trên cơ sở đó đề xuất biện
pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân
viên công tác xã hội khi làm việc với những gia đình này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và xác định những vấn đề lý luận về tham vấn; kỹ năng tham vấn;
kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội; các yếu tố ảnh
hưởng tới các kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
- Khảo sát đánh giá thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của
nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn cho gia
đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
- Đề xuất một số biện pháp tác động và tổ chức thực nghiệm tác động nâng
cao một số kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ và biểu hiện của kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân
viên công tác xã hội.
Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Kỹ năng của con người chịu sự tác động của
nhiều yếu tố khác nhau, có các yếu tố chủ quan và có cả các yếu tố khách quan. Vì vậy,
trong luận án này, kỹ năng tham vấn được xem xét như là kết quả tác động của nhiều
6
yếu tố. Tuy nhiên, trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau có yếu tố tác động
trực tiếp, có yếu tố tác động gián tiếp, có yếu tố tác động mạnh, có yếu tố tác động yếu.
Việc xác định đúng vai trò của từng yếu tố trong từng hoàn cảnh cụ thể là điều cần
thiết. Vì vậy, trong nghiên cứu này, kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân
viên công tác xã hội được xem xét trong mối quan hệ về nhiều mặt: mối tương quan
giữa kỹ năng tham vấn này và một số yếu tố chủ quan (Sự say mê, hứng thú với công
việc kỳ thị; Kiến thức chuyên môn được đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn; Tính tích
cực, chủ động) và một số yếu tố khách quan (Cơ hội đào tạo nâng cao trình độ; Hình
thức khuyến khích làm việc tại cơ quan; Yêu cầu công việc).
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
-
Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu
-
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
-
Phương pháp chuyên gia
Đây là một trong những nghiên cứu đầu tiên về kỹ năng tham vấn cho gia đình
trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, vì vậy nghiên cứu có thể có một số đóng góp:
Nghiên cứu hệ thống hóa và bổ sung một số vấn đề lý luận về kỹ năng tham
vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội chỉ ra những kỹ năng tham
vấn cơ bản và một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt của nhân viên công tác xã hội
khi làm việc với gia đình trẻ tự kỷ.
5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Nghiên cứu sẽ chỉ ra thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của
nhân viên công tác xã hội, chỉ ra được thực trạng những yếu tố ảnh hưởng tới các kỹ
7
năng tham vấn, đồng thời khẳng định được tính khả thi của biện pháp tác động nâng
cao một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt cho gia đình tự kỷ của nhân viên công tác
xã hội. Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo bổ ích để giảng dạy và học
tập môn công tác xã hội cho người khuyết tật nói chung, kỹ năng tham vấn cho gia
đình người tự kỷ nói riêng trong các trường đại học, cao đẳng Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đã bổ sung và hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về kỹ năng
tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, đồng thời chỉ ra
những kỹ năng tham vấn cơ bản và một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt của nhân
viên công tác xã hội khi làm việc với gia đình trẻ tự kỷ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ
tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, cũng như phân tích được những yếu tố tác
động đến các kỹ năng tham vấn và chỉ ra được một số biện pháp tác động để nâng
cao một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt cho gia đình tự kỷ của nhân viên công tác
xã hội.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối
Những người có đóng góp cho sự ra đời của ngành tham vấn có thể kể đến là
Francis Galton, Wilhelm Wundt, James Catell, G.Stanley Hall, Alfred Binet, Jesse
Davis, Frank Parson, Robert Yerkers [16 ].
Thuật ngữ tham vấn (Counseling) được B.Jesse David sử dụng đầu tiên khi
ông thiết lập trung tâm tham vấn hướng nghiệp giáo dục tại Detroit năm 1898. Ông
là người đưa ra nghiên cứu về hướng nghiệp mang tính giáo dục với phương thức
hướng dẫn trong trợ giúp con người tìm việc làm phù hợp với đặc điểm của cá nhân.
Sau này F.Parsons (1854 - 1908) đã nghiên cứu và phát triển cách thức hướng
nghiệp chặt chẽ hơn với ba bước cơ bản: 1/ Nhận thức rõ về bản thân, thái độ, mong
muồn, tiềm lực và hạn chế cá nhân; 2/ Giúp đối tượng nhận thức rõ về công việc,
những khó khăn, thuận lợi, cơ hội và thách thức cũng như hướng phát triển; 3/ Làm
rõ mối quan hệ của các yếu tố trên để đối tượng cân nhắc và quyết định. Trên cơ sở
tư tưởng của F.Parsons, G.Wiliamsom (1900 - 1979) bổ sung và phát triển quy trình
tham vấn giải quyết vấn đề với 5 bước từ chẩn đoán tới kết thúc và theo dõi. Những
lý luận về phương thức hướng nghiệp của F.Parsons, của G.Wiliamson trở thành
nguyên lý cơ bản cho cách thức tham vấn sau này [dẫn theo 45,Tr.5].
Với việc phát triển của trào lưu hướng nghiệp và tham vấn nghề, nên có sự
phát triển mạnh của các loại trắc nghiệm, phong trào trắc nghiệm được sử dụng
nhiều vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả lĩnh vực tham vấn. Tiêu biểu
như nghiên cứu trắc nghiệm đo lường trí tuệ, năng lực của Alfred Binet (1896),
trắc nghiệm điều chỉnh thích ứng nghề nghiệp của Harry Kitson (1925 ), đo lường
hứng thú nghề nghiệp của Woodworth (1927), sở thích nghề nghiệp của E.K.
9
Strong (1943), trắc nghiệm tính cách của H.J.Eysenck, trắc nghiệm khả năng giao
tiếp của V.P.Dakharov, trắc nghiệm đo lường trạng thái tâm lý hẫng hụt của
Rosenzweig [45].
Tuy nhiên, trắc nghiệm cung cấp những kỹ thuật để hiểu biết về đặc điểm và
khả năng của con người, nhưng có chưa thực sự giúp người tham vấn khám phá
âm tính, giải thích hợp lý, giải mẫn cảm hệ thống, huấn luyện nâng cao khả năng tự
tin ở đối tượng [69]...
Khác với cách tiếp cận trực tiếp của các trường phái trị liệu trên, Carl Rogers
(1902 - 1987) với phương pháp thân chủ trọng tâm đã chuyển liệu pháp tham vấn có
định hướng, từ tham vấn nghề nghiệp, tham vấn dựa vào trải nghiệm quá khứ sang
tham vấn tập trung vào giải quyết vấn đề của họ với tập sách “Tham vấn và trị liệu
tâm lý”. Với quan điểm, con người chứa đựng trong họ tiềm năng tự thay đổi, ông
đề xuất phương thức trị liệu bằng trao đổi tâm tình để tạo ra môi trường thân thiện,
từ đó giúp đối tượng hiểu và tự điều chỉnh để đạt được trạng thái cân bằng. Trong
cách tiếp cận này, ông chú ý việc sử dụng kỹ thuật trị liệu thông qua tương tác nhiều
hơn là đo lường tâm lý. Cách tiếp cận và kỹ thuật can thiệp này của Carl Rogers đã
có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động tham vấn và trị liệu tâm lý không những tại thời
điểm đó mà còn cho đến tận ngày nay [54].
Trong tâm lý học Xô Viết, những nghiên cứu về cách thức trị liệu tâm lý
cũng đã được phát triển ở thập kỷ 70 và đi sâu vào tìm kiếm những tác động tạo nên
sự tự tin, tâm thế xã hội mang tính giáo dục nhân cách, lao động và đạo đức ở cá
nhân. Nghiên cứu của V.N.Miasishev (1973) hướng tới khám phá xung đột của cá
nhân và xây dựng lại ở họ mối quan hệ tích cực thông qua liệu pháp trò chuyện. Tác
giả V.K.Miager (1973) quan tâm tới trị liệu gia đình trên cơ sở của việc tạo ra sự tác
động tương hỗ giữa các thành viên trong gia đình nhằm giúp họ hiểu biết lẫn nhau
và thay đổi bản thân. Hướng nghiên cứu của X.X.Libix (1967) là trị liệu nhóm
nhằm giúp cá nhân tăng cường nhận thức trong mối quan hệ liên nhân cách. Tác giả
A.I.Zakharov (1971, 1973) lại đưa ra mô hình can thiệp theo xu hướng kết hợp sự
tác động cá nhân, gia đình và nhóm.
Những kỹ thuật trên đã phần nào mô phỏng cách thức can thiệp trong tham
vấn. Tuy nhiên, người ta nhận thấy nó vẫn chỉ là một công cụ đơn giản và sẽ không
đem lại hiệu quả cao, nếu chúng không được sử dụng một cách tinh tế với một nghệ
thuật - kỹ năng tương tác giữa NVCTXH và thân chủ và xem đây là những
KNTVcơ bản. Điều này đã được các nghiên cứu của nhiều tác giả khắc phục vào
những giai đoạn nửa sau của thế kỷ XX [46]. Phần lớn các nghiên cứu ở giai đoạn
người trong một mối quan hệ xã hội rộng hơn chứ không chỉ bó hẹp trong cá nhân
như một số cách tiếp cận trị liệu được đề cập ở trên. Vì thế, hướng nghiên cứu về
tham vấn gia đình cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu.các nghiên
cứu này đã bổ sung các phương thức can thiệp hành vi suy nghĩ của một cá nhân
thông qua tác động nhằm thay đổi cách thức tương tác trong gia đình. Đó là mô
hình can thiệp cấu trúc quyền lực (sức mạnh, ranh giới và sự liên kết trong gia
đình), hệ thống cấu trúc và chức năng, phương thức giao tiếp trong gia đình, hay mô
12
hình học tập xã hội trong gia đình như của các tác giả: C.Allie Kilpatrick (1999)&
P.Thomas Holland (1993) [1], Ackerman và Satir, M.Bowen (1959), V.Satir,
S.Minuchin [97] hay các nghiên cứu của S.Slavson (1943, J.Moreno (1946),
H.Ginott (1961), E.Jacbos (1988),G.Corey & Correy (1992). Eward E&Reley L.
(1992) Cappuzzi và Gross (1992) [67].
Trong các tài liệu nghiên cứu có đưa ra một số kỹ năng đặc thù cho tham vấn
gia đình và nhóm nhưng nhiều tác giả đều thống nhất, những kỹ năng cơ bản được
đề cập trong tham vấn cá nhân đều đóng vai trò như những KNTVcơ bản trong
tham vấn nhóm hay gia đình. Các nghiên cứu trên đã tạo ra một hướng đi linh hoạt
và mở rộng cho việc áp dụng những KNTV. Nó không còn bị bó hẹp trong khuôn
khổ của lĩnh vực tâm lý học hay trị liệu tâm lý mà đã được ứng dụng vào hoạt động
trợ giúp của nhiều lĩnh vực.
Tiêu biểu như C.Zastroww (1985) hay D.Helpworth (1997) đã nghiên cứu
những KNTV cơ bản đối với cá nhân, gia đình và nhóm trong công tác xã hội - một
hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp [102]. W.Robert và H.Robert (1976) nghiên cứu
kỹ năng can thiệp cá nhân và gia đình bị khủng hoảng và đề xuất phương pháp tạo
nhóm chia sẻ cảm xúc và học hỏi hành vi ứng phó. Nghiên cứu về tham vấn nhóm
gia đình, các tác giả trên đều nhấn mạnh vai trò của kỹ năng tương tác như lắng
nghe, thiết lập mối quan hệ, thấu cảm, phản hồi, hỏi, gợi mở, khích lệ….
1.1.2.2. Tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
chỉ ra bốn cách tiếp cận để hiểu về stress: 1) là các phản ứng tâm sinh lý xã hội đối
với các tình huống căng thẳng; 2) do các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống gây
nên; 3) các vấn đề dồn nén, tích tụ dần dần; 4) Không cân bằng nguồn lực – giữa
yếu tố gây stress và khả năng giải quyết.
Tác giả Sally J. Rogers & Laurie A. Vismara (2008) [98] trong báo cáo về Can
thiệp sớm cho TTK dựa theo các phương pháp trị liệu về nhận thức đã tập hợp lại
các nghiên cứu về hỗ trợ TTK. Trong nghiên cứu tác giả chỉ ra nhiều cách thức để
hỗ trợ TTK tiến bộ thì một trong những yêu cầu quan trọng là cha mẹ, gia đình phải
được hỗ trợ về việc giải tỏa những căng thẳng khủng hoảng để có thể tham gia vào
mọi hoạt động can thiệp, trị liệu cho TTK.
Tác giả Hall, H. R. (2012)[76] trong nghiên cứu về Gia đình TTK: Hành vi
của trẻ, những thách thức phải đương đầu và sự hỗ trợ của cộng đồng “Families of
children with autism: Behaviors of children, community support and coping” đã dựa
trên nghiên cứu mô tả tương quan cắt ngang với 38 phụ huynh có con em bị tự kỷ.
Sử dụng mô hình hành vi gia đình của Mc Cubbin và Patternson (1983) để phân tích
mối liên hệ giữa hành vi của trẻ bị tự kỷ với hỗ trợ của cộng đồng dành cho gia đình
và khả năng thích ứng/chống trọi của gia đình (28 bà mẹ và 10 ông bố).
Nghiên cứu chỉ ra những trợ giúp của cộng đồng tăng lên giúp tăng chiến
lược ứng phó của gia đình. Khả năng của gia đình/ bố mẹ để đương đầu với tự kỷ là
14
vô cùng quan trọng. Chi phí nuôi nấng TTK gần như gấp đôi trẻ bình thường. Mức
độ nghiêm trọng của chứng tự kỷ ở con cái ảnh hưởng tới sự căng thẳng, stress ở
cha mẹ, đặc biệt với các bà mẹ. Họ thường buồn phiền, bi quan hơn trong cuộc
sống, suy nghĩ theo hướng tiêu cực và chán nản. Và khi sự căng thẳng ở người mẹ
bị đẩy lên cao, nó có tác động ngược lại đứa trẻ và làm tăng mức độ trầm trọng của
chứng tự kỷ ở trẻ. Tự gây tổn hại cho bản thân và hiếu chiến là hai đặc tính phổ biến
ở TTK gây ra đáng kể sự căng thẳng, lo âu và khả năng phản ứng của cha mẹ.
Vì vậy việc hỗ trợ xã hội cho cha mẹ trẻ em bị tự kỷ là vô cùng quan trọng,
NVCTXH, trong đó có cung cấp các kỹ năng trợ giúp và KNTVcho học viên. Các
hoạt động công tác xã hội, trong đó có hoạt động tham vấn bị chững lại sau giải
phóng miền Nam 1975 [36].
Từ cuối những năm tám mươi đến đầu những năm chín mươi của thế kỷ XX,
khi nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường,
có nhiều vấn đề xã hội nảy sinh và diễn biến phức tạp như: vấn đề đói nghèo; trộm
cướp; di cư; trẻ mồ côi, lang thang đường phố; tệ nạn mại dâm; người có
HIV/AIDS. Để giải quyết phần nào những vấn đề đó, một số đơn vị tổ chức thành
lập các trung tâm công tác xã hội, trung tâm tư vấn tâm lý, các đường dây tư vấn
điện thoại điện thoại để tiến hành tư vấn trợ giúp tâm lý cho những đối tượng cần
giúp đỡ.
Hoạt động tham vấn có thể đánh dấu bằng sự ra đời của “phòng tư vấn tâm
lý” đầu tiên được thành lập ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1988. Tại đây có các
dịch vụ trợ giúp và trị liệu tâm lý chuyên sâu nên có nhiều đối tượng là những
người có vấn đề khó khăn trầm trọng đến đây xin trợ giúp.
Cùng với chủ trương, chính sách của nhà nước và sự trợ giúp của các tổ chức
quốc tế, nhiều văn phòng tư vấn cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn được
thành lập, tuy nhiên, các trung tâm tư vấn tâm lý chủ yếu đặt ở các thành phố lớn
như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh
Do mới phát triển mạnh mẽ trong một vài năm gần đây, nên phần lớn các
nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng, nhu cầu và hiệu
quả của tham vấn nói chungDương Diệu Hoa và cộng sự (2007) [ 24], Nguyễn Thị
Thanh Bình (1997) [4], Phạm Thanh Bình (2014) [3], Phạm Văn Tư (2015) [55].
Những nghiên cứu tiếp theo sau này về lý luận của tham vấn đã phát triển nhiều
hơn. Các nghiên cứu về khái niệm và bản chất của hoạt động tham vấn của các tác
giả Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Minh Đức, Phạm Tất Dong, Trần Quốc Thành,
Nguyễn Thị Mùi, Trần Thị Lệ Thu, Bùi Thị Xuân Mai, Hoàng Anh Phước… đã
được đề cập, trình bày trong các báo cáo tại các hội thảo khoa học, các tạp chí khoa
học chuyên ngành.