Kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội - Pdf 38

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Số lượng trẻ em mắc hội chứng tự kỷ đang ngày càng gia tăng một cách
nhanh chóng ở trên thế giới và Việt Nam, trở thành mối quan tâm đặc biệt của toàn
xã hội
Tự kỷ là một hội chứng rối loạn bao gồm một nhóm các chứng rối loạn phát
triển thể hiện ở những khiếm khuyết trong quan hệ xã hội, khó khăn về giao tiếp đi
kèm với các rối loạn hành vi kiểu như có mối quan tâm và hoạt động bó hẹp, định
hình. Người ta gọi là phổ tự kỷ hoặc “hội chứng rối loạn phát triển lan toả” để nói
về những trường hợp này [60,Tr.7]. Hiện nay, tự kỷ được coi là một “căn bệnh” của
thời đại, số lượng trẻ tự kỷ tăng lên nhanh chóng ở tất cả các quốc gia trên thế giới,
trẻ tự kỷ được báo cáo xảy ra trong tất cả các nhóm chủng tộc, màu da, các dân tộc
và nền kinh tế xã hội khác nhau. Các thống kê đều cho thấy tỷ lệ trẻ mắc chứng tự
kỷ gia tăng một cách đáng kể. Thậm chí có tác giả còn gọi đó là một bệnh dịch.
Chẳng hạn ở Mỹ, những năm 80 của thế kỷ trước, người ta thống kê được số trẻ
mắc tự kỷ chỉ chiếm tỷ lệ 1/ 2000 trẻ. Năm 2011ở Mỹ có khoảng 560,000 trẻ bị tự
kỷ, chiếm tỷ lệ khoảng 1/110 trẻ [76]. Đây thật sự là sự gia tăng rất lớn sau 2 thập
kỷ! Thống kê của Anh cũng cho thấy tình cảnh tương tự. Hiện nay, tỷ lệ mắc chứng
tự kỷ ở đất nước này vào khoảng 1/150 trẻ em [23].
Ở Việt Nam trước kia vào khoảng thập kỷ 80, còn có nhiều chuyên gia cho
rằng ở Việt nam không có trẻ bị tự kỷ. Khái niệm tự kỷ còn rất xa lạ đối với các
chuyên gia y tế nói chung và các thầy thuốc nhi khoa nói riêng. Thậm chí vấn đề tự
kỷ mới chỉ được đưa vào nội dung giảng dạy của trường Đại học Y Hà nội trong
mấynăm trở lại đây. Hiện nay, trong thập niên đầu của Thế kỷ 21 ở nước ta cũng
thấy bùng nổ về sự tỷ lệ mắc mới của tự kỷ. Ở Việt Nam cũng chưa có điều tra trên
quy mô toàn quốc. Ở phạm vi tỉnh Thái Bình, một nghiên cứu gần nhất của Trường
Đại học Y Hà nội năm 2012 [18] cho thấy tỷ lệ hiện mắc tự kỷ ở trẻ em từ 18 tháng
đến 24 tháng tuổi là 0,46% (điều tra trong 6583 trẻ). Tỷ lệ mắc tự kỷ tăng theo giới
hạn tuổi của đối tượng khảo sát. Về giới, tỷ lệ trẻ trai/gái là 6,4/1. Một số nghiên

đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Nhân viên công tác xã hội được hiểu là
người được đào tạo về công tác xã hội. Họ sử dụng kiến thức và kỹ năng để cung cấp
các dịch vụ xã hội cho các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng đang gặp những hoàn
cảnh, những vấn đề khó khăn mà bản thân không tự giải quyết được. Nhân viên công
tác xã hội giúp đỡ con người tăng cường năng lực đối phó và giải quyết vấn đề, tìm


3
kiếm các nguồn lực cần thiết, tạo điều kiện cho sự tương tác giữa các cá nhân và giữa
con người với môi trường, thúc đẩy trách nhiệm của xã hội với con người, và tác
động đến các chính sách xã hội. Trong quá trình trợ giúp những cá nhân, nhóm, cộng
đồng gặp những hoàn cảnh khó khăn cần sự trợ giúp, nhân viên công tác xã hội sử
dụng nhiều vai trò, nhiệm vụ khác nhau. Tham vấn nói chung và tham vấn cho gia
đình nói riêng là một trong những vai trò, nhiệm vụ hết sức quan trọng và trọng tâm
của nhân viên công tác xã hộiđặc biệt là đối với nhân viên công tác xã hội khi làm
việc với gia đình trẻ tự kỷ, những người đang gặp phải rất nhiều khó khăn khủng
hoảng về vật chất, đặc biệt là về tinh thần khi trong gia đình có trẻ tự kỷ sinh sống.
1.4. Có nhiều nghiên cứu về tham vấn và kỹ năng tham vấn nhưng kỹ năng
tham vấn cho gia đình trẻ em mắc hội chứng tự kỷ của nhân viên công tác xã hội
còn khá ít ỏi và tương đối mới mẻ.
Tham vấn ra đời từ đầu thế kỷ XX và ngày càng phát triển mạnh mẽ trên thế
giới [16], đem lại sự trợ giúp tâm lý hữu hiệu, giúp con người duy trì được sự thăng
bằng tâm lý, tăng cường khả năng ứng phó với các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
và các mối quan hệ xã hội, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Tham vấn được cho là một hình thức trợ giúp rất phù hợp đối với gia đình đang
gặp những khó khăn khủng hoảng về tinh thần, tình cảm, là một trong những cách can
thiệp tâm lý có ý nghĩa quan trọng đối với việc trợ giúp gia đình, giải quyết những vấn
đề đang tồn tại. Thông qua tham vấn giúp các thành viên trong gia đình cải thiện, giải
quyết những vấn đề khó khăn của mình. Tham vấn hướng tới tạo nên sức mạnh của gia
đình và củng cố khả năng giải quyết vấn đề của gia đình với mục tiêu là giúp họ tương

pháp tác động nhằm nâng cao kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân
viên công tác xã hội khi làm việc với những gia đình này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và xác định những vấn đề lý luận về tham vấn; kỹ năng tham vấn;
kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội; các yếu tố ảnh
hưởng tới các kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
- Khảo sát đánh giá thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của
nhân viên công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn cho gia
đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
- Đề xuất một số biện pháp tác động và tổ chức thực nghiệm tác động nâng
cao một số kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Mức độ và biểu hiện của kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân
viên công tác xã hội.


5
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu biểu hiện và mức độ thực hiện một số kỹ năng
tham vấn cơ bản và kỹ năng tham vấn chuyên biệt của nhân viên công tác xã hội khi
tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ. Các kỹ năng tham vấn cơ bản bao gồm: kỹ năng
thiết lập mối quan hệ, kỹ năng hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng
phản hồi và các kỹ năng tham vấn chuyên biệt là kỹ năng cung cấp thông tin, kỹ
năng đương đầu, kỹ năng can thiệp, kỹ năng vận động và kết nối nguồn lực. Đồng
thời phân tích một số yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến kỹ năng tham vấn
của nhân viên công tác xã hội khi tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ.
3.2.2. Phạm vi về khách thể nghiên cứu
Đề tài khảo sát trên hai nhóm khách thể là nhân viên công tác xã hội và cha

cực, chủ động) và một số yếu tố khách quan (Cơ hội đào tạo nâng cao trình độ; Hình
thức khuyến khích làm việc tại cơ quan; Yêu cầu công việc).
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng phối hợp các
phương pháp sau:
-

Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu

-

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

-

Phương pháp chuyên gia

-

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

-

Phương pháp phỏng vấn sâu

-

Phương pháp thảo luận nhóm tập trung

-

cao một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt cho gia đình tự kỷ của nhân viên công tác
xã hội. Kết quả nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo bổ ích để giảng dạy và học
tập môn công tác xã hội cho người khuyết tật nói chung, kỹ năng tham vấn cho gia
đình người tự kỷ nói riêng trong các trường đại học, cao đẳng Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đã bổ sung và hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận về kỹ năng
tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, đồng thời chỉ ra
những kỹ năng tham vấn cơ bản và một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt của nhân
viên công tác xã hội khi làm việc với gia đình trẻ tự kỷ.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đã đánh giá được thực trạng kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ
tự kỷ của nhân viên công tác xã hội, cũng như phân tích được những yếu tố tác
động đến các kỹ năng tham vấn và chỉ ra được một số biện pháp tác động để nâng
cao một số kỹ năng tham vấn chuyên biệt cho gia đình tự kỷ của nhân viên công tác
xã hội.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận án là tài liệu tham khảo có giá trị đối
với những người làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ
em nói chung, trẻ em tự kỷ nói riêng.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các công trình đã công
bố của tác giả liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng tham vấn cho gia đình
trẻ tự kỷ của nhân viên công tác xã hội
Chương 2: Cơ sở l

kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân

viên công tác xã hội

tham vấn giải quyết vấn đề với 5 bước từ chẩn đoán tới kết thúc và theo dõi. Những
lý luận về phương thức hướng nghiệp của F.Parsons, của G.Wiliamson trở thành
nguyên lý cơ bản cho cách thức tham vấn sau này [dẫn theo 45,Tr.5].
Với việc phát triển của trào lưu hướng nghiệp và tham vấn nghề, nên có sự
phát triển mạnh của các loại trắc nghiệm, phong trào trắc nghiệm được sử dụng
nhiều vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả lĩnh vực tham vấn. Tiêu biểu
như nghiên cứu trắc nghiệm đo lường trí tuệ, năng lực của Alfred Binet (1896),
trắc nghiệm điều chỉnh thích ứng nghề nghiệp của Harry Kitson (1925 ), đo lường
hứng thú nghề nghiệp của Woodworth (1927), sở thích nghề nghiệp của E.K.


9
Strong (1943), trắc nghiệm tính cách của H.J.Eysenck, trắc nghiệm khả năng giao
tiếp của V.P.Dakharov, trắc nghiệm đo lường trạng thái tâm lý hẫng hụt của
Rosenzweig [45].
Tuy nhiên, trắc nghiệm cung cấp những kỹ thuật để hiểu biết về đặc điểm và
khả năng của con người, nhưng có chưa thực sự giúp người tham vấn khám phá
được những yếu tố cội nguồn và định hướng can thiệp sâu hơn cho sự thay đổi ở đối
tượng. Hạn chế này đã được khắc phục bởi những nghiên cứu và ứng dụng của các
kỹ thuật trị liệu khác nhau sau này. Trước tiên là những nghiên cứu của các nhà trị
liệu phân tâm, đại diện là S. Freud (1856 - 1936). Với những khám phá về vô thức,
cấu trúc nhân cách và những cơ chế tự vệ của con người, S.Freud đã cung cấp cho
tham vấn các kỹ thuật can thiệp như phân tích giấc mơ, xử lý hiện tượng chuyển
dịch và chuyển dịch ngược, tự do liên tưởng nhằm tìm tới cội nguồn của vấn đề
thông qua khám phá những mong muốn, mối quan hệ xã hội trong tầng bậc vô thức
của thân chủ. Việc sử dụng những kỹ năng hỏi, lắng nghe một cách tích cực khi
thực hiện các kỹ thuật trên được S.Freud nhấn mạnh trong quá trình tham vấn.
NVCTXHđã vận dụng những lý thuyết của Freud để ứng dụng trong việc giúp đỡ
thân chủ của họ thoát khỏi những rối nhiễu tâm lý. Những thuật ngữ như: bản năng
xung động (vô thức), bản ngã (ý thức), và siêu ngã (siêu thức); các quá trình vô

Trong tâm lý học Xô Viết, những nghiên cứu về cách thức trị liệu tâm lý
cũng đã được phát triển ở thập kỷ 70 và đi sâu vào tìm kiếm những tác động tạo nên
sự tự tin, tâm thế xã hội mang tính giáo dục nhân cách, lao động và đạo đức ở cá
nhân. Nghiên cứu của V.N.Miasishev (1973) hướng tới khám phá xung đột của cá
nhân và xây dựng lại ở họ mối quan hệ tích cực thông qua liệu pháp trò chuyện. Tác
giả V.K.Miager (1973) quan tâm tới trị liệu gia đình trên cơ sở của việc tạo ra sự tác
động tương hỗ giữa các thành viên trong gia đình nhằm giúp họ hiểu biết lẫn nhau
và thay đổi bản thân. Hướng nghiên cứu của X.X.Libix (1967) là trị liệu nhóm
nhằm giúp cá nhân tăng cường nhận thức trong mối quan hệ liên nhân cách. Tác giả
A.I.Zakharov (1971, 1973) lại đưa ra mô hình can thiệp theo xu hướng kết hợp sự
tác động cá nhân, gia đình và nhóm.
Những kỹ thuật trên đã phần nào mô phỏng cách thức can thiệp trong tham
vấn. Tuy nhiên, người ta nhận thấy nó vẫn chỉ là một công cụ đơn giản và sẽ không
đem lại hiệu quả cao, nếu chúng không được sử dụng một cách tinh tế với một nghệ
thuật - kỹ năng tương tác giữa NVCTXH và thân chủ và xem đây là những
KNTVcơ bản. Điều này đã được các nghiên cứu của nhiều tác giả khắc phục vào
những giai đoạn nửa sau của thế kỷ XX [46]. Phần lớn các nghiên cứu ở giai đoạn
này tập trung vào những kỹ năng tương tác cơ bản giữa NVCTXH và thân chủ.
Điển hình như nghiên cứu của R.Carkhuff (1972) về giao tiếp - như là nghệ thuật


11
trợ giúp và vai trò làm mẫu của NVCTXH đối với khả năng học tập hành vi mới
của đối tượng. Các nghiên cứu của M.Thomas Sknovhotlt và A.David Rivers
(2004), G.Egan (1994) [75] tiếp cận từ góc độ nghề trợ giúp và đề cập tới kỹ năng
giúp đỡ trong đó có KNTV cơ bản dưới góc độ của kỹ năng giao tiếp trong tạo lập
môi trường tương tác giữa người trợ giúp với thân chủ.
Robert L.Gibson và Marianne H.Mitchell [94] đưa ra quan điểm để hành
nghề tham vấn thì nhà tham vấn cần phải hội tụ các kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp;
kỹ năng chẩn đoán, đánh giá; kỹ năng thuyết phục và kỹ năng quản lý. Trong đó đặc

H.Ginott (1961), E.Jacbos (1988),G.Corey & Correy (1992). Eward E&Reley L.
(1992) Cappuzzi và Gross (1992) [67].
Trong các tài liệu nghiên cứu có đưa ra một số kỹ năng đặc thù cho tham vấn
gia đình và nhóm nhưng nhiều tác giả đều thống nhất, những kỹ năng cơ bản được
đề cập trong tham vấn cá nhân đều đóng vai trò như những KNTVcơ bản trong
tham vấn nhóm hay gia đình. Các nghiên cứu trên đã tạo ra một hướng đi linh hoạt
và mở rộng cho việc áp dụng những KNTV. Nó không còn bị bó hẹp trong khuôn
khổ của lĩnh vực tâm lý học hay trị liệu tâm lý mà đã được ứng dụng vào hoạt động
trợ giúp của nhiều lĩnh vực.
Tiêu biểu như C.Zastroww (1985) hay D.Helpworth (1997) đã nghiên cứu
những KNTV cơ bản đối với cá nhân, gia đình và nhóm trong công tác xã hội - một
hoạt động trợ giúp chuyên nghiệp [102]. W.Robert và H.Robert (1976) nghiên cứu
kỹ năng can thiệp cá nhân và gia đình bị khủng hoảng và đề xuất phương pháp tạo
nhóm chia sẻ cảm xúc và học hỏi hành vi ứng phó. Nghiên cứu về tham vấn nhóm
gia đình, các tác giả trên đều nhấn mạnh vai trò của kỹ năng tương tác như lắng
nghe, thiết lập mối quan hệ, thấu cảm, phản hồi, hỏi, gợi mở, khích lệ….
1.1.2.2. Tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ
Nghiên cứu về khuyết tật & người khuyết tật nói chung, nghiên cứu về tự kỷ
và TTK nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ rất sớm.
Bắt đầu từ nghiên cứu của nhà tâm lý Leo Kanner năm 1943 khi lần đầu tiên đưa ra
thuật ngữ Autisim (tự kỷ) để chỉ ra một dạng rối nhiễu đặc trưng do khó khăn trong
việc thiết lập các mối quan hệ và tương tác xã hội. Đặc biệt trong thời gian gần đây
khi vấn đề tự kỷ là một trong mối quan tâm hàng đầu của toàn thế giới thì càng có
nhiều nhà nghiên cứu, nhiều nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.
Tham vấn cho gia đình người khuyết tật nói chung và tham vấn cho gia đình
TTK nói riêng cũng chỉ là một hình thức tham vấn gia đình cho một đối tượng cụ
thể là gia đình của người TTK, vì thế, các liệu pháp, cách thức, kỹ năng trong tham
vấn gia đình cũng là liệu pháp, cách thức, kỹ năng để tham vấn cho gia đình người
khuyết tật và gia đình trẻ mắc hội chứng tự kỷ. Tuy nhiên, mặc dù có rất nhiều tài
liệu, nhiều nghiên cứu về phương pháp cách thức trị liệu cho trẻ khuyết tật hay

trên nghiên cứu mô tả tương quan cắt ngang với 38 phụ huynh có con em bị tự kỷ.
Sử dụng mô hình hành vi gia đình của Mc Cubbin và Patternson (1983) để phân tích
mối liên hệ giữa hành vi của trẻ bị tự kỷ với hỗ trợ của cộng đồng dành cho gia đình
và khả năng thích ứng/chống trọi của gia đình (28 bà mẹ và 10 ông bố).
Nghiên cứu chỉ ra những trợ giúp của cộng đồng tăng lên giúp tăng chiến
lược ứng phó của gia đình. Khả năng của gia đình/ bố mẹ để đương đầu với tự kỷ là


14
vô cùng quan trọng. Chi phí nuôi nấng TTK gần như gấp đôi trẻ bình thường. Mức
độ nghiêm trọng của chứng tự kỷ ở con cái ảnh hưởng tới sự căng thẳng, stress ở
cha mẹ, đặc biệt với các bà mẹ. Họ thường buồn phiền, bi quan hơn trong cuộc
sống, suy nghĩ theo hướng tiêu cực và chán nản. Và khi sự căng thẳng ở người mẹ
bị đẩy lên cao, nó có tác động ngược lại đứa trẻ và làm tăng mức độ trầm trọng của
chứng tự kỷ ở trẻ. Tự gây tổn hại cho bản thân và hiếu chiến là hai đặc tính phổ biến
ở TTK gây ra đáng kể sự căng thẳng, lo âu và khả năng phản ứng của cha mẹ.
Vì vậy việc hỗ trợ xã hội cho cha mẹ trẻ em bị tự kỷ là vô cùng quan trọng,
bao gồm việc tham vấn cho họ về hành vi của trẻ và cách thức triển khai các can
thiệp phù hợp. Cũng có một số gia đình cho biết có những hệ quả tích cực từ thực tế
con em họ bị tự kỷ, họ nhìn cuộc sống lạc quan hơn và có thể vẫn duy trì chất lượng
cuộc sống khá tốt. Chính suy nghĩ tích cực là một kỹ thuật phản ứng tốt với việc
giúp đỡ trẻ bị tự kỷ.
Từ những nghiên cứu trêncó thể thấy, hoạt động tham vấn đã được phát triển rất
mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và nhiều nhóm đối tượng ở các
nước trên thế giới. Đã có rất nhiều hướng nghiên cứu về tham vấn, trong đó có một số
hướng liên quan hoặc trực tiếp về KNTV. Các nghiên cứu cho thấy bản chất của các kỹ
năng tham vấn đều nhằm tới việc trợ giúp các thân chủ có khó khăn tâm lý - xã hội tự
đương đầu với vấn đề của họ, tạo ra sự tương tác tích cực giữa NTV và thân chủ;
những nghiên cứu về kỹ năng trong tham vấn cá nhân hay nhóm nói chung đều có thể
được ứng dụng hiệu quả trong tham vấn gia đình.Tuy nhiên, có thể nhận thấy, số

dịch vụ trợ giúp và trị liệu tâm lý chuyên sâu nên có nhiều đối tượng là những
người có vấn đề khó khăn trầm trọng đến đây xin trợ giúp.
Cùng với chủ trương, chính sách của nhà nước và sự trợ giúp của các tổ chức
quốc tế, nhiều văn phòng tư vấn cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn được
thành lập, tuy nhiên, các trung tâm tư vấn tâm lý chủ yếu đặt ở các thành phố lớn
như Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh
Do mới phát triển mạnh mẽ trong một vài năm gần đây, nên phần lớn các
nghiên cứu ở Việt Nam mới chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng, nhu cầu và hiệu
quả của tham vấn nói chungDương Diệu Hoa và cộng sự (2007) [ 24], Nguyễn Thị
Thanh Bình (1997) [4], Phạm Thanh Bình (2014) [3], Phạm Văn Tư (2015) [55].
Những nghiên cứu tiếp theo sau này về lý luận của tham vấn đã phát triển nhiều
hơn. Các nghiên cứu về khái niệm và bản chất của hoạt động tham vấn của các tác
giả Nguyễn Ngọc Phú, Trần Thị Minh Đức, Phạm Tất Dong, Trần Quốc Thành,
Nguyễn Thị Mùi, Trần Thị Lệ Thu, Bùi Thị Xuân Mai, Hoàng Anh Phước… đã
được đề cập, trình bày trong các báo cáo tại các hội thảo khoa học, các tạp chí khoa
học chuyên ngành.


16
Những bài giảng, giáo trình về tham vấn được xuất hiện ở một số trường đại
học với sự trợ giúp của chuyên gia nước ngoài đánh dấu một bước tiến về nghiên
cứu lý luận trong tham vấn tại Việt Nam, trong đó có một số ít công trình nghiên
cứu chuyên sâu về KNTV.
Tác giả Nguyễn Thơ Sinh trong cuốn “Tư vấn tâm lý cơ bản” (2001)[50] đã
chỉ ra một số kỹ năng cần có của nhà tư vấn như: kỹ năng thuyết phục thân chủ, kỹ
năng chia sẻ, kỹ năng giúp thân chủ thay đổi cách nhìn, kỹ năng nắm bắt kịp thời,
kỹ năng chất vấn, kỹ năng nhắc lại tiến trình, kỹ năng hài hước, kỹ năng hợp
đồng… Tác giả cho rằng, đây là những kỹ năng quan trọng giúp thân chủ có được
cách nhìn mới về cuộc sống của họ, có lối tư duy mới, cảm xúc mới, từ đó dẫn đến
hành vi mới lành mạnh và tích cực hơn. Các kỹ năng này có thể sử dụng trong tham

là một nghiên cứu có ý nghĩa rất lớn đối với những người đang nghiên cứu và thực
hành tham vấn.
Đến năm 2010, tác giả Trần Thị Minh Đức đã tiếp tục biên soạn cuốn “KNTV
cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật” [12]. Trong đó tác giả chỉ rõ các
KNTV cơ bản gồm 6 kỹ năng sau: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi,
kỹ năng thấu cảm, kỹ năng xử lý im lặng và kỹ năng thách thức. Các kỹ năng này
được coi là các kỹ năng cơ bản nhất trong tham vấn, giúp các NVCTXH cho người
chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng thực hiện tham vấn có hiệu quả.
Năm 2012, trong luận án tiến sĩ “KNTV của cán bộ tham vấn học đường”
của mình, tác giả Hoàng Anh Phước [45] đã tiến hành nghiên cứu trên nhóm khách
thể là: 45 cán bộ tham vấn học đường ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, 400 thân chủ
(học sinh) đã được tham vấn. Tác giả đã nghiên cứu lý luận tâm lý học về KNTV
của cán bộ tham vấn học đường. Trình bày các yếu tố ảnh hưởng và khảo sát đánh
giá thực trạng KNTV của cán bộ tham vấn học đường, đồng thời lý giải nguyên
nhân cùng biện pháp tác động nâng cao kỹ năng cho cán bộ tham vấn học đường.
Luận án đã chỉ rõ được thực trạng mức độ hiểu biết và mức độ thực hiện
cũng như mức độ chung của KNTV của cán bộ tham vấn học đường, chỉ ra thực
trạng những yếu tố ảnh hưởng tới các KNTV, đồng thời khẳng định được tính khả
thi của biện pháp tác động nâng cao một số KNTV chuyên biệt cho cán bộ tham vấn
học đường. Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo bổ ích để giảng
dạy và học tập về tham vấn học đường nói chung, KNTV học đường nói riêng trong
các trường đại học, cao đẳng, các cơ quan có tập huấn tham vấn ở Việt Nam.
Tác giả Nguyễn Văn Tường (2012) tiến hành nghiên cứu về vận dụng kỹ
thuật tư vấn tâm lý trong can thiệp bạo lực học đường trên nhóm khách thể là 35
học sinh trung học phổ thông có hành vi bạo lực học đường. Nghiên cứu đã đưa đến
kết luận là việc viêc vận dụng kĩ thuật tư vấn tâm lý trong can thiệp bạo lực học


18
đường có ý nghĩa tích cực trong việc điều chỉnh nhận thức, cảm xúc và hành vi của

viên gia đình tỏ ra không hợp tác; kỹ năng hướng dẫn sử dụng mệnh đề tôi…


19
Tác giả Trần Đình Tuấn (2013) trong cuốn “ Tham vấn tâm lý cá nhân và gia
đình” đã đề cập tương đối chi tiết về tham vấn gia đình theo cách trình bày việc ứng
dụng các lý thuyết, các trường phái tham vấn tâm lý vào tham vấn gia đình [54].
Trong tài liệu, tác giả đã chỉ ra những nhu cầu của gia đình và vấn nạn mà gia đình
thường gặp phải cũng như chỉ ra cách vận dụng các trường phái tham vấn tâm lý
nào vào để giải quyết các vấn nạn thường gặp của gia đình.
Nhìn chung các tác giả, các tài liệu cũng như các nghiên cứu về tham vấn
cũng như về tham vấn gia đình được chúng tôi trình bày ở trên đã nói được một số
khái quát cơ bản về tham vấn, tham vấn gia đình cũng như các KNTV. Điều này rất
có ý nghĩa đối với lĩnh vực tham vấn đang còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam. Tuy
nhiên các nghiên cứu, các tài liệu, giáo trình về tham vấn, KNTV cho gia đình
người khuyết tật nói chung và tham vấn, KNTVcho gia đình TTK nói riêng chưa
được quan tâm nghiên cứu mặc dù đây là một nhu cầu hết sức cấp thiết của xã hội
hiện nay.
Khái quát các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài
nước về tham vấn, chúng tôi rút ra kết luận như sau:
- Hoạt động tham vấn theo hướng chuyên nghiệp trên thế giới đã có một
chiều dài lịch sử, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.
Những nghiên cứu về tham vấn đặc biệt là KNTV đã góp phần cho sự phát triển của
hoạt động này ngày một chuyên nghiệp. Ban đầu người ta quan tâm nhiều hơn tới
những kỹ thuật trắc nghiệm, cách thức, quy trình trong tư vấn hướng nghiệp và học
đường. Sau này các tác giả đã đi vào nghiên cứu các kỹ thuật chuyên sâu của trị liệu
tâm lý. Xu hướng nghiên cứu kỹ năng tương tác như những KNTV cơ bản được
phát triển trong giai đoạn về sau là cơ sở để ứng dụng tham vấn trong nhiều lĩnh
vực của cuộc sống. Hoạt động tham vấn gia đình, xu hướng nghiên cứu tham vấn
gia đình đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên, việc nghiên

cứu là cơ sở để chúng tôi kế thừa và tìm ra những khoảng trống cần được tiếp tục
nghiên cứu.


21

Chƣơng 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN CHO GIA ĐÌNH
TRẺ TỰ KỶ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
2.1. Một số vấn đề lý luận về kỹ năng tham vấn cho gia đình trẻ tự kỷ của nhân
viên công tác xã hội
2.1.1. Kỹ năng tham vấn
2.1.1.1. Kỹ năng
* Khái niệm kỹ năng
Kỹ năng được hiểu một cách thông thường là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [59]. Tuy nhiên, khi
nghiên cứu, đánh giá về bản chất của kỹ năng thì các nhà khoa học, nhà nghiên cứu
đưa ra một số quan niệm khác nhau.
- Quan niệm thứ nhất: Xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật của hành
động. Đại diện cho loại quan niệm này là các tác giả V. A. Cruchetxki, V.V
Tsebưseva, A.V. Petrovxki… chẳng hạn, A.V. Petrovxki quan niệm rằng: kỹ năng
là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri thức và kỹ xảo, kỹ năng được hình thành
bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành
động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà trong những điều kiện đã thay
đổi. Xuất phát từ chỗ coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này
quan niệm rằng, khi nắm được kỹ thuật hành động, hành động đúng các yêu cầu kỹ
thuật của nó thì sẽ đạt kết quả. Muốn nắm được kỹ thuật hành động và thực hiện
được hành động theo đúng kỹ thuật thì có phải qúa trình học tập và rèn luyện. Như
vậy, theo loại quan niệm này, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động mà con
người đã nắm vững, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri

- Người có kỹ năng hành động trong một lĩnh vực hoạt động được biểu hiện
ở những dấu hiệu sau đây:
+ Có tri thức về hành động: nắm được mục đích hành động; nắm được cách
thức thực hiện hành động và các điều kiện thực hiện hành động.
+ Thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó.
+ Hành động đạt kết quả cao theo mục đích đề ra.
+ Có thể thực hiện hành động có kết quả trong những điều kiện thay đổi.
Nghĩa là, kỹ năng đòi hỏi, trước hết con người phải có tri thức, kinh nghiệm
cần thiết về hành động. Tuy nhiên tri thức và kinh nghiệm chưa phải là kỹ năng chỉ
có được khi con người vận dụng những tri thức và kinh nghiệm đó vào hoạt động
thực tiễn một cách có kết quả. Có thể nói, tri thức và kinh nghiệm là những điều


23
kiện cần để hình thành kỹ năng việc vận dụng tri thức, kinh nghiệm vào hoạt động
thực tiễn nhằm đạt được mục đích đề ra là điều kiện đủ để hình thành kỹ năng .
- Khi xem xét khái niệm kỹ năng cần phải lưu ý những điểm sau đây:
+ Kỹ năng trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của hoạt động, kỹ năng
bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể và được xem như một đặc điểm của
hành động.
+ Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quan trọng
để xác định sự hình thành và phát triển của kỹ năng . Một hành động chưa thể gọi là
có kỹ năng nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về, các thao tác diễn ra theo một khuôn
mẫu cứng nhắc …
+ Kỹ năng không phải là bẩm sinh của mỗi cá nhân, kỹ năng là sản phẩm của
hoạt động thực tiễn. Đó là quá trình con người vận dụng những tri thức và kinh
nghiêm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đã đề ra.
+ Xét về cấu trúc tâm lý của kỹ năng, kỹ năng có thể bao gồm các thành
phần như sau:
(1) Sự hiểu biết về kỹ năng và về mục đích hình thành kỹ năng

nhờ quá trình ổn định hóa và tiêu chuẩn hóa. Trong quá trình ổn định hóa, kỹ năng
đạt được tính bền vững và không bị phá hủy trong bất kỳ tình huống nào. Còn trong
quá trình tiêu chuẩn hóa kỹ năng dần được định khuôn nhờ lặp đi lặp lại vận động
nhiều lần.
K.K.Platonov và G.G.Golubev đưa ra các giai đoạn phát triển kỹ năng với 5
giai đoạn bao gồm:
- Giai đoạn 1: Kỹ năng còn rất sơ đẳng khi chủ thể mới ý thức được mục
đích và tìm kiếm cách thức hành động dưới dạng “thử và sai”
- Giai đoạn 2: Kỹ năng đã có, nhưng chưa đầy đủ.
- Giai đoạn 3: Kỹ năng chung, song còn mang tính riêng lẻ.
- Giai đoạn 4: Kỹ năng ở trình độ cao, cá nhân sử dụng thành thạo các thao
tác kỹ thuật, cách thức thực hiện để đạt được mục đích.
- Giai đoạn 5: Kỹ năng tay nghề cao, khi cá nhân vừa thành thạo vừa sáng
tạo trong sử dụng các kỹ năng ở những điều kiện khác nhau [36].
Một số tác giả V.A.Cruchetxki, Phạm Minh Hạc, N.Đ.Levitôv, A.V.Petrovxki, Trần
Quốc Thành [51]… cho rằng, quá trình hình thành kỹ năng gồm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.
Giai đoạn 2: Quan sát và làm thử theo mẫu.
Giai đoạn 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu nhằm
đạt được mục đích đặt ra.


25
Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích, cách thức và điều kiện hành
động cực kỳ quan trọng. Vì mục đích là kết quả hành động mà người ta dự kiến
trước khi bắt tay vào hành động. Trên cơ sở xác định mục đích hành động, người ta
sẽ lập kế hoạch và tìm các điều kiện, biện pháp phù hợp để đạt được mục đích. Như
vậy, đây chỉ là bước định hướng hành động. Nếu dừng lại ở bước này thì chưa có kỹ
năng, vì nó chỉ thể hiện mặt lý thuyết, tri thức về hành động, chứ chưa có mặt kỹ
thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status