Rèn luyện kĩ năng sử dụng một số thiết bị dạy học địa lí ở tiểu học - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

MÙI THỊ CÚC

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ
DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

MÙI THỊ CÚC

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ
DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC

Chuyên ngành: Phương pháp dạy học Tự nhiên - Xã hội

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: ThS. Lê Văn Đăng

SƠN LA, NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 4
3. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................... 6
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .................................................................. 6
5. Giả thiết khoa học ............................................................................................. 6
6. Nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................................ 6
7. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................... 6
8. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 6
9. Đóng góp của khóa luận .................................................................................... 7
10. Cấu trúc khóa luận........................................................................................... 7
PHẦN NỘI DUNG .............................................................................................. 8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC RÈN LUYỆN KĨ
NĂNG SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC . 8
1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................... 8
1.1.1. Thiết bị dạy học ........................................................................................... 8
1.1.2. Một số đặc điểm về quá trình nhận thức của học sinh tiểu học giai đoạn
lớp 4, lớp 5........................................................................................................... 18
1.1.3. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng sử dụng các thiết bị
dạy học Địa lí ...................................................................................................... 20
1.2. Cơ sở thực tiễn ............................................................................................. 21
1.2.1. Mục tiêu của phân môn địa lí .................................................................... 21
1.2.2. Những nội dung chính của môn Địa lí lớp 4, lớp 5 .................................. 21
1.2.3. Cấu trúc sách giáo khoa ............................................................................ 23
1.2.4. Thực trạng việc rèn luyện kĩ năng sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình
dạy học phân môn Địa lí ở nhà trường tiểu học .................................................. 24
Tiểu kết chương 1................................................................................................ 29

1. Kết luận ........................................................................................................... 72
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 74
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời đại hội nhập và phát triển hiện nay, nền kinh tế nước ta đã
chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường. Công cuộc
đổi mới này đã đề ra những yêu cầu mới đối với hệ thống giáo dục. Nghị quyết
trung ương lần thứ IV về “tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo”[15] đã chỉ rõ
phải xác định lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch, nội dung, PP giáo
dục và đào tạo.
Mục tiêu cơ bản của đổi mới giáo dục nước ta là phát triển tối đa năng lực
của người học trên cơ sở khơi dậy, rèn luyện và bồi dưỡng khả năng suy nghĩ,
tìm tòi, khả năng làm việc một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong
hoạt động học tập ở nhà trường. Để thực hiện mục tiêu nói trên trong dạy học,
nhà trường cần phát huy tốt khả năng sở trường của người học, khắc phục hạn
chế, xây dựng niềm tin trong hoạt động học tập của người HS. Trong đó, nội
dung và PP học tập là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến kết quả
thực hiện mục tiêu trên. Chính vì vậy, Luật Giáo Dục (1998) chỉ rõ: “nhà
trường cần phải đào tạo ra những con người lao động tự chủ, năng động sáng
tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thiết thực góp phần xây dựng đất nước”[13].
Để đạt được điều đó, ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường HS phải luyện khả
năng suy nghĩ, hoạt động một cách tự chủ, năng động và sáng tạo. Giáo viên cần
từng bước áp dụng phương tiện dạy học tiên tiến hiện đại vào quá trình dạy học,
đảm bảo thời gian tự học và tự nghiên cứu cho HS để HS biết ứng dụng những
điều đã học vào thực tế.
Đối tượng nghiên cứu của khoa học địa lí cũng như đối tượng của môn

trọng thậm chí SGK rất ít kênh hình nên việc tìm ra kiến thức mới của HS một
cách tích cực, chủ động thông qua TBDH là rất hạn chế. Mặt khác, trước đây do
tình hình kinh tế nước ta chưa phát triển nên TBDH còn hạn chế và không được
coi là phương tiện thiết yếu của dạy học.
Hiện nay, theo định hướng chung là tích cực hóa hoạt động học tập của
HS - với PP dạy học lấy HS làm trung tâm bằng cách thay đổi chức năng hoạt
động của GV và HS phù hợp với cấu trúc và đặc tính của PP dạy học. Vai trò
của TBDH vô cùng quan trọng, nó được coi là “chìa khóa” của sự thành công
trong PP dạy học lấy HS làm trung tâm.
2


Thực tế phân môn địa lí hiện nay, nhiều GV chỉ sử dụng TBDH ở mức độ
minh họa cho các bài giảng hoặc làm cơ sở cho việc xuất phát hình thành khái
niệm. Dạy học lấy HS làm trung tâm có những yêu cầu cao đối với việc sử dụng
thiết bị trong dạy học, chúng được coi là công cụ để HS hoạt động độc lập, chủ
động, tích cực và là nguồn dẫn tới kiến thức bằng con đường khám phá. Phương
tiện dạy học là nguồn kiến thức quan trọng, dưới sự tổ chức chỉ đạo của GV khai
thác tìm kiếm những kiến thức cần thiết phục vụ cho việc nhận thức các mối liên
hệ, khái niệm, tính chất, quy luật… Chính vì lí do đó, mà TBDH ngày nay đã
nhiều và đa dạng hơn, gần gũi thực tế hơn.
Việc đa dạng hóa các biện pháp và phương tiện dạy học đã trở thành yêu
cầu thiết yếu trong dạy học hiện nay. Khi giảng dạy phân môn Địa lí nếu không
có tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng số liệu… GV khó có thể hình thành cho HS
những biểu tượng khái niệm và khắc sâu nội dung dễ dàng. Trong phân môn Địa
lí luôn có những sự vật, hiện tượng mà HS không thể trực tiếp quan sát được mà
phải thông qua tranh ảnh như hình dạng thực của Trái Đất được chụp qua vệ
tinh, các hoạt động như động đất, núi lửa… Do đó, việc sử dụng TBDH còn có
tác dụng hình thành tri thức, kĩ năng, phát triển tư duy cho HS.
Phần Địa lí nhằm giúp cho HS hiểu biết về thiên nhiên, về môi trường

là một yêu cầu cấp thiết hiện nay ở các trường tiểu học nhằm góp phần nâng cao
chất lượng dạy học.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Rèn luyện kĩ năng sử
dụng một số thiết bị dạy học Địa lí ở tiểu học”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong các đề tài về đổi mới phương pháp dạy học Địa lí đều có đề cập
đến việc sử dụng TBDH, trong đó có thể kể đến một số đề tài như: “Phương
pháp dạy học Địa lí” của tác giả Nguyễn Dược, Đặng Văn Đức, Nguyễn Trọng
Phúc, Nguyễn Thị Thu Hằng và Trần Đức Tuấn, “đổi mới phương pháp dạy học
Địa lí ở trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Đức Vũ và Phạm Thị Sen...
và nhiều báo cáo trong các tạp trí, tập san khoa học của các trường Đại học đã
nêu kết quả về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học
Địa lí nói riêng. Đặc biệt, trong đó có phần nào hướng dẫn cách thức rèn luyện
kĩ năng sử dụng TBDH Địa lí.

4


Phương pháp dạy học địa lí ở tiểu học theo hướng chủ động, tư duy sáng
tạo, có một số đề tài nghiên cứu của tiến sĩ Nguyễn Tuyết Nga như: “Phương
pháp dạy học địa lí ở trường tiểu học Việt Nam theo hướng cho HS tự phát hiện
tri thức”. Một số vấn đề chung như: “Dạy học địa lí ở tiểu học” (Nguyễn Tuyết
Nga, Phạm Thị Sen).
Đi cùng với phương pháp dạy học Địa lí, có nhiều tác giả đã đề cập đến
cách sử dụng TBDH địa lí như: Lâm Quang Dốc (1996), Sử dụng bản đồ, NXB
Giáo dục; Nguyễn Trọng Phúc (1997), Phương pháp sử dụng các phương tiện
dạy học địa lí ở nhà trường phổ thông, NXB Giáo dục; Nguyễn Trọng Phúc
(2001), Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học Địa lí, NXB Đại học Quốc
gia Hà Nội; Ngoài ra còn một số tác giả: Trần Xuân Trường, “Khai thác kênh
hình trong dạy học Địa lí lớp” (2007); Nông Thị Ngọc Ánh, “Sử dụng một số

Nếu vận dụng linh hoạt và hợp lí các TBDH địa lí ở tiểu học thì sẽ nâng
cao chất lượng dạy học phân môn Địa lí ở nhà trường tiểu học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn việc rèn luyện kĩ năng sử dụng
TBDH địa lí ở tiểu học.
- Đưa ra nguyên tắc rèn luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học.
- Nghiên cứu cách thức sử dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học.
- Thiết kế và tổ chức thực nghiệm một số bài dạy Địa lí ở tiểu học có sử
dụng TBDH.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung Địa lí ở tiểu học được đề cập đến từ lớp 1 đến lớp 5. Tuy nhiên
trong thời gian hạn hẹp khóa luận chỉ nghiên cứu về việc rèn luyện kĩ năng sử
dụng một số TBDH địa lí ở lớp 4 và lớp 5.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài. Kế thừa và phát huy lí luận
đề tài đi trước.
8.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Khảo sát thực tế việc sử dụng TBDH địa lí. Thu thập thông tin, số liệu
thống kê và những vấn đề liên quan trực tiếp đến đề tài nghiên cứu.
- Tham khảo ý kiến GV về hướng nghiên cứu của đề tài.
6


- Tiến hành thực nghiệm để xem xét hiệu quả và tính khả thi của việc rèn
luyện kĩ năng sử dụng một số TBDH học địa lí ở tiểu học.
8.3. Phương pháp thống kê
Dùng PP thống kê để phân tích và xử lí các kết quả thu được qua điều tra
và thực nghiệm.
9. Đóng góp của khóa luận

được dùng trong quá trình dạy học để làm dễ dàng cho sự truyền đạt và tiếp thu
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Thiết bị dạy học là một bộ phận của cơ sở vật chất trường học, bao gồm
những đối tượng vật chất được thiết kế sư phạm mà GV sử dụng để điều khiển
hoạt động nhận thức của HS, đồng thời là nguồn tri thức, hình thành kĩ năng
đảm bảo cho việc thực hiện mục tiêu dạy học.
Thiết bị dạy học được giáo viên và học sinh sử dụng trong quá trình
dạy và học.
Như vậy có thể hiểu một cách tổng quát: Thiết bị dạy học là những công cụ
mà GV và HS sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học.
1.1.1.2. Vai trò của thiết bị dạy học
Tổ chức các hoạt động nhận thức:
Nhận thức là sự phản ánh thực tiễn trong bộ não con người. Trước khi học
về một đối tượng địa lí nào đó, HS đã tích luỹ được một số biểu tượng ban đầu
do quan sát thực tiễn hoặc do trao đổi, học tập mà có. Nhận thức của HS được
tích lũy theo nhiều mức độ khác nhau. Do đó, người GV cần chú trọng việc hình
8


thành khái niệm, biểu tượng từ quan sát trực tiếp sự vật, hiện tượng địa lí.
Chúng ta thấy, trong phân môn Địa lí việc quan sát hiện tượng thực tiễn cần phải
sử dụng các dụng cụ, máy móc như: tranh ảnh, mô hình, bản đồ, băng hình,…
học sinh mới có thể quan sát được con người trên khắp các vùng miền đất nước,
hoạt động sản xuất, môi trường thiên nhiên; thấy được hình dạng, vị trí của đất
nước Việt Nam, các châu lục và đại dương trên thế giới…
TBDH giúp học sinh thu nhận được thông tin về sự vật, hiện tượng địa lí
một cách sinh động tạo điều kiện hình thành biểu tượng, khái niệm địa lí cho
học sinh. Biểu tượng về các sự vật, hiện tượng càng rõ ràng càng đầy đủ thì
chúng giúp cho việc nhận thức, tư duy của học sinh càng tốt. Trong quá trình
dạy học Địa lí ở tiểu học, TBDH là công cụ giúp GV tổ chức, hướng dẫn và

cuộc sống của con người nên dân cư ở đây thưa thớt”. Rõ ràng là cùng một
nguồn tri thức nhưng mức độ nhận thức của HS lại khác nhau. Chỉ khi trải qua
quá trình tư duy tích cực, HS mới có thể thu được những khái niệm đầy đủ,
chính xác nhất.
Việc sử dụng TBDH đúng phương pháp, đúng mục đích sẽ có tác động
hết sức quan trọng trong việc phát huy tính tích cực tư duy, phát triển trí tuệ của
HS và nhận thức của HS trong phân môn Địa lí.
1.1.1.3. Yêu cầu đối với thiết bị dạy học
Trong dạy học Địa lí cũng như trong dạy học các môn học khác, việc vận
dụng và tiến hành các PP dạy học luôn gắn liền việc sử dụng TBDH. TBDH
được sử dụng thường xuyên phục vụ cho việc lĩnh hội tri thức của HS. Để việc
sử dụng được thuận lợi và hiệu quả, trong mỗi giờ học địa lí ở tiểu học TBDH
phải đáp ứng yêu cầu sau đây:
Đảm bảo tính sư phạm:
Thiết bị dạy học địa lí phải đảm bảo tính sư phạm, phải giúp HS tiếp thu
được kiến thức, kĩ năng, giúp HS có thể tự học. Đồng thời, TBDH còn giúp
GV truyền đạt những kiến thức cơ bản, phân tích các mối quan hệ trừu tượng,
phát triển khả năng nhận thức và tư duy cho HS.
Đảm bảo tính trực quan:
TBDH phải đủ lớn để HS ngồi ở hàng ghế cuối lớp cũng nhìn rõ được.
Nhờ đó HS có thể làm việc với TBDH theo hình thức cá nhân, làm việc theo
nhóm, tổ. Do vậy, TBDH yêu cầu không chỉ nhìn rõ mà còn phải gọn, dễ di
10


chuyển và không chiếm nhiều diện tích trên bàn cũng như phải phù hợp với HS
từng khối lớp.
Đảm bảo tính khoa học:
TBDH địa lí phải đảm bảo tính khoa học. Sự vật, hiện tượng địa lí được
thể hiện trên TBDH phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng địa lí trong thực tế,

- Các vật tạo hình kể cả các thiết bị hiện đại: tranh ảnh, mô hình, hình vẽ,
video,.... thay cho các vật khó nhìn thấy trực tiếp (biển, đại dương,...) các sự vật
hiện tượng không thể thấy (Trái Đất).
Song cũng có những tác giả coi TBDH là những đồ dùng dạy học trực
quan được khái quát bằng mô hình vật chất được dựng lên một cách nhân tạo.
Nhằm giúp chúng ta nghiên cứu đối tượng gốc khi không có điều kiện tri giác
trực tiếp đối tượng này.
Một số tác giả lại phân loại TBDH theo 3 nội dung như sau:
- Những tài liệu địa lí (ví dụ: sách, tạp chí, báo, băng ghi âm, video, đĩa từ,
các loại bản đồ,...). Là kết quả của sự khái quát các công trình của một hay tập
thể nhà khoa học Địa lí, nhà Sư phạm – Tâm lí hay cán bộ khoa học kĩ thuật...
theo những mục đích riêng, với những nội dung xác định có liên quan đến một
hoặc nhiều vấn đề của khoa học địa lí.
- Những TBDH kĩ thuật gồm các máy móc và thiết bị (vô tuyến truyền
hình, video, máy chiếu, máy vi tính,...) giúp cho việc dạy học Địa lí đạt hiệu quả
cao. Chính vì vậy, phải hiểu nếu không có tài liệu khoa học dùng để dạy học thì
nó chỉ là thiết bị kĩ thuật thuần túy.
- Cơ sở vật chất dùng để dạy học gồm: phòng triển lãm, câu lạc bộ, lớp
học, phòng bộ môn,… vì đây là điều kiện tiền đề để GV và HS làm việc. Chính
vì lí do trên, các cơ sở vật chất phải tuân thủ những yêu cầu riêng của lĩnh vực
kiến trúc như diện tích, bài trí, ánh sáng, âm thanh,…
N. N. Branxki – nhà nghiên cứu và giảng dạy Địa lí, ông đưa ra khái niệm
TBDH. Ông cho rằng “TBDH là những phương tiện trực quan, nó là một nhân
tố ảnh hưởng lớn đến sự tổ chức và kết quả của việc giảng dạy Địa lí trong nhà
trường”.
Các thiết bị đó bao gồm: Bản đồ giáo khoa, tranh, ảnh, biểu đồ, đồ thị, quả
địa cầu,...
12



13


- Về phương pháp trình bày: Trên bản đồ, đối tượng địa lí được khái quát
cao. Nhiều kí hiệu tượng trưng, tượng hình nhiều màu sắc đẹp, gần gũi đối
tượng được sử dụng, làm cho bản đồ có tính trực quan cao, gây hứng thú cho
việc học tập địa lí.
Nhìn chung, nội dung kiến thức và phương pháp trình bày trên bản đồ phù
hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
Tranh ảnh:
Tranh ảnh dùng trong dạy học địa lí có các loại như sau: tranh ảnh treo
tường, tranh ảnh địa lí trong sách giáo khoa, tranh ảnh do GV sưu tầm… Trong
đó, thì tranh ảnh địa lí trong sách giáo khoa có ý nghĩa quan trọng và phù hợp
với HS và nội dung, ý nghĩa của bức tranh ảnh này đã được xuất bản lựa chọn
rất kĩ lưỡng, cẩn thận mang tính giáo dục cao, đẹp và hình thức phù hợp với nội
dung, bài học trong chương trình.
Tranh ảnh địa lí là phương tiện thể hiện hình ảnh, cấu trúc, đặc tính… của
sự vật hiện tượng địa lí được nghiên cứu trong nhà trường. Mục đích của tranh
ảnh là hình thành biểu tượng địa lí, cung cấp kiến thức cho HS. Đồng thời, cũng
là công cụ để người giáo viên tổ chức các hoạt động học tập.
Tranh ảnh cũng là nguồn tri thức địa lí đa dạng phong phú, giúp HS khai
thác, củng cố, phát triển tư duy, hình thành và rèn luyện kĩ năng cho quá trình
học tập của HS.
Qua đó, GV hình thành cho HS biểu tượng, khái niệm địa lí một cách
chính xác, khoa học và sâu sắc nội dung bài học, giúp HS giảm thiểu việc ghi
nhớ máy móc. Thông qua đó, giúp HS có những hiểu biết về thiên nhiên, hoạt
động sản xuất và con người ở vùng miền tự nhiên khác nhau… Việc nhận thức
của HS còn tùy thuộc vào khả năng khai thác của HS.
Bảng số liệu:
Bảng số liệu là bảng thể hiện mối quan hệ giữa các số liệu với nhau theo

được phát minh ngày càng nhiều và trở thành thiết bị dạy học có hiệu quả cao.
Một mặt, TBDH góp phần mở rộng nguồn tri thức địa lí cho HS, giúp cho việc
lĩnh hội tri thức của HS nhanh chóng hơn với một khối lượng tri thức đa diện và
to lớn; mặt khác TBDH góp phần vào việc đổi mới PP dạy học của giáo viên địa
lí hiện nay. Do vậy, TBDH địa lí hiện đại tạo điều kiện rộng rãi cho việc dạy học
theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
15


Thiết bị hiện đại được sử dụng trong dạy học địa lí ở nhà trường tiểu học
hiện nay gồm có: phim video giáo khoa, máy chiếu Overhead, máy vi tính.
Video cùng băng hình:
Phim video giáo khoa là phương tiện được sử dụng rộng rãi trong dạy học
địa lí ở tiểu học hiện nay, HS không chỉ nhận thức bằng thính giác mà còn nhận
thức bằng thị giác, nên ấn tượng về nội dung học tập rõ nét và sâu sắc hơn.
Hiện nay, trong danh mục TBDH địa lí đã có những phim video giáo khoa
có nội dung phù hợp với bài học cụ thể trong chương trình. Điều đó cho phép sử
dụng phim video giáo khoa như một cuốn sách địa lí thứ hai của HS. Nếu như
với SGK HS phải đọc, sau đó tìm nội dung chính, chủ yếu hoặc thông tin cần
thiết để trả lời câu hỏi của GV, thực hiện các bài tập ở lớp, ở nhà thì đối với các
phim video giáo khoa, HS quan sát nội dung bài học bằng hình ảnh và lắng nghe
lời thuyết minh, sau đó thực hiện các nhiệm vụ nhận thức theo yêu cầu GV.
Học sinh có thể quan sát được sự vật, hiện tượng trong thiên nhiên hoặc
xã hội khi không có điều kiện quan sát trực tiếp.
Máy chiếu Overhead:
Máy chiếu Overhead là thiết bị sử dụng để phòng to, chiếu văn bản, chiếu
hình ảnh để chiếu các nội dung địa lí được in vào giấy bóng. Đây là phương tiện
được sử dụng rộng rãi ngày nay, nhằm phóng to chữ, hình ảnh, bản đồ để chiếu
cho học sinh cùng thấy rõ.
Trong dạy học ngoài giáo viên sử dụng máy chiếu Overhead còn được

CD-ROM được sử dụng và tra cứu thông tin như trong một thư viện nhỏ
nhưng có tốc độ tìm kiếm thông tin rất nhanh. Nhờ có khả năng lưu trữ một
lượng lớn thông tin theo nhiều dạng khác nhau và tốc độ truy cập lớn mà đĩa
CD-ROM đã được sử dụng cho nhiều mục đích. Với kĩ thuật nén dữ liệu mới, có
thể xếp được 250.000 trang văn bản trong một đĩa CD-ROM. Trong giáo dục
xuất hiện thêm một khái niệm mới: SGK điện tử (E-book); CD-ROM gia sư; học
tập điện tử (E-learning); dạy học có máy tính trợ giúp (computer assisted
instruction); đĩa video tương tác (interactive videodisk). Sự ra đời của hệ thống
đa phương diện đã làm thay đổi diện mạo, vai trò của máy vi tính với tư cách là
một TBDH.

17


1.1.2. Một số đặc điểm về quá trình nhận thức của học sinh tiểu học giai đoạn
lớp 4, lớp 5
Tri giác:
“Tri giác của các em còn rất nhạy và đượm màu cảm xúc”[14]. Điều này
thể hiện ở chỗ cái gì HS thích thì HS tri giác tốt hơn cái gì HS không thích, cái
gì mới lạ được HS tri giác tốt hơn những cái cũ kĩ quen thuộc, cái gì sống động
cũng được HS tri giác tốt hơn những cái tĩnh lặng. Thời kì này, HS thường tri
giác những sự vật hiện tượng bằng các hành động cụ thể như: sờ, nắn, bóp, ngửi,
nếm, tháo gỡ…
Tri giác của HS phát triển mạnh trong quá trình học ở tiểu học và khuynh
hướng phát triển của nó là tri giác ngày càng mang tính chủ định, đi sâu vào chi
tiết của sự vật hiện tượng. Học sinh lớp 4, lớp 5 đã nắm được mục đích quan sát
và trong quá trình quan sát HS đã biết chú ý quan sát các chi tiết của đối tượng
và đi sâu vào chi tiết riêng rẽ, HS đã có thể tổng hợp chúng để có được một biểu
tượng hoàn chỉnh về đối tượng.
Những đặc điểm tri giác trên của HS tiểu học cho thấy, trong giờ dạy học

là ghi nhớ không chủ định. HS thường không ghi nhớ cái bản chất của đối tượng
mà chỉ ghi nhớ những gì mình thích và không chủ định nhớ lại.
Tình cảm cũng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ cũng như sự bền vững của
ghi nhớ. Những gì HS thích thì HS nhớ nhanh và nhớ rất lâu.
Khả năng ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ logic cũng sẽ hình thành và phát
triển dần dần trong quá trình học tập của HS.
Để giúp HS nhớ nhanh và nhớ lâu những nội dung của bài học, GV cần tổ
chức cho HS trực tiếp làm việc với TBDH để HS tự tìm ra kiến thức.
Về tưởng tượng:
Học sinh ở các lớp đầu bậc tiểu học, những chi tiết trong hình ảnh tưởng
tượng của HS còn nghèo nàn, chưa hợp lí. Đến các lớp cuối bậc tiểu học, chi tiết
trong hình ảnh tưởng tượng của HS giàu có hơn, được sắp xếp hợp lí hơn.
Ở giai đoạn cuối bậc tiểu học “HS đã bắt đầu có khả năng tưởng tượng
dựa trên những tri giác đã có từ trước và dựa trên ngôn ngữ”[8]. Dựa vào đặc
điểm này, GV không chỉ sử dụng TBDH để hình thành biểu tượng kí ức mà còn
có thể hình thành biểu tượng tưởng tượng cho HS.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status