SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỊA LÝ - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC NÔNG THỊ NGỌC ÁNH

SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC


học đã tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để
hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 05 năm 2013
Người thực hiện Nông Thị Ngọc Ánh DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1. GV: Giáo viên
2. HS : Học sinh
3. TW: Trung ương
4. TBDH: Thiết bị dạy học
5. NXB: Nhà xuất bản


Bảng kết quả điểm thực nghiệm lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng.
46
4
3.4
Bảng kết quả điểm thực nghiệm lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng.
47
5
3.5
Bảng kết quả điểm thực nghiệm lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng.
47
6
3.6
Bảng kết quả điểm thực nghiệm lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng.
48

Bản đồ khoáng sản Việt Nam trên phần
mềm Dp - map
42
7
3.1
Biểu đồ thể hện chất lượng của lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng
48 MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 2
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7. Phạm vi nghiên cứu 3
8. Phương pháp nghiên cứu 3

1.2.4. Tình hình thực tế sử dụng thiết bị dạy học trong quá trình dạy học phân môn
Địa lí ở nhà trường tiểu học 18
Tiểu kết chương 1 20
CHƯƠNG 2: SỬ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU
HỌC THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC 22
2.1. Nguyên tắc sử dụng thiết bị dạy học theo hướng dạy học tích cực 22
2.2. Quy trình sử dụng một số thiết bị dạy học Địa lí ở Tiểu học theo hướng dạy
học tích cực 22
2.2.1. Tìm hiểu nội dung bài dạy 22
2.2.2. Soạn bài với các thiết bị dạy học 23
2.2.3. Sử dụng thiết bị dạy học trên lớp 23
2.3. Cách sử dụng một số thiết bị dạy học Địa lí ở tiểu học theo hướng dạy học
tích cực 24
2.3.1. Sử dụng bản đồ địa lí 24
2.3.1.1. Khái niệm 24
2.3.1.2. Vai trò của bản đồ trong dạy học Địa lí ở Tiểu học 25
2.3.1.3. Các biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho học sinh 26
2.3.2. Sử dụng tranh ảnh có nội dung Địa lí 33
2.3.2.1. Khái niệm 33
2.3.2.2. Vai trò của tranh ảnh 35
2.3.2.3. Hướng dẫn học sinh làm việc với tranh ảnh 35
2.3.3. Sử dụng biểu đồ 36
2.3.3.1. Khái niệm 36
2.3.3.2. Vai trò của biểu đồ 36
2.3.3.3 Hướng dẫn học sinh làm việc với biểu đồ 37
2.3.4. Sử dụng thiết bị dạy học hiện đại và ứng dụng công nghệ thông tin 38
2.3.4.1. Vai trò của các thiết bị dạy học hiện đại và công nghệ thông tin trong
dạy học Địa lí 38
2.3.4.2. Hướng dẫn học sinh làm việc với các thiết bị dạy học hiện đại và ứng
dụng công nghệ thông tin vào học tập 40

Mục tiêu cơ bản của đổi mới giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay là
phát triển tối đa năng lực của người học trên cơ sở khơi dậy, rèn luyện và bồi
dưỡng khả năng suy nghĩ, tìm tòi, khả năng làm việc một cách tự chủ, năng
động và sáng tạo ngay trong hoạt động học tập ở nhà trường. Để thực hiện mục
tiêu nói trên trong dạy học, nhà trường cần phát huy tốt khả năng sở trường của
người học, khắc phục hạn chế, xây dựng niềm tin trong hoạt động học tập của
người HS. Trong đó nội dung và phương pháp học tập là một trong những yếu tố
quan trọng quyết định đến kết quả thực hiện mục tiêu trên. Chính vì vậy, Luật
Giáo Dục (1998) chỉ rõ: “nhà trường cần phải đào tạo ra những con người lao
động tự chủ, năng động sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề thiết thực góp
phần xây dựng đất nước”. Đồng thời Luật Giáo Dục cũng chỉ ra “phương pháp
dạy học phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của người học,
bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê tự học tập và ý chí vươn lên”.
TBDH địa lí ở tiểu học cũng đã góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao
chất lượng dạy học. Các TBDH chứa đựng trong đó những nguồn tri thức phong
phú và đa dạng, giúp HS lĩnh hội tri thức một cách cụ thể, chính xác phát triển
năng lực tư duy, khả năng tìm tòi, khám phá, vận dụng tri thức. Đồng thời giúp
GV tổ chức, điều khiển quá trình nhận thức cho HS một cách chủ động, sáng tạo
đạt hiệu quả. Ngày nay, những thành tựu của khoa học kĩ thuật và công nghệ
ngày càng thâm nhập vào lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có dạy học. Các
TBDH ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
dạy học trong nhà trường. Để phát huy được vai trò của TBDH trong việc nâng cao
chất lượng dạy học, hai khâu cơ bản nhất là trang bị và sử dụng thiết bị. Trong đó,
vấn đề sử dụng có hiệu quả TBDH có ý nghĩa quyết định. Thực tế cho thấy, hiện
nay ở các trường tiểu học đang tồn tại một mâu thuẫn cơ bản giữa việc sử dụng
không hiệu quả các TBDH của GV với yêu cầu giáo dục ngày càng cao. Việc giải
quyết mâu thuẫn này là một yêu cầu cấp thiết hiện nay ở các trường tiểu học nhằm
góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

2

3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề cơ bản về dạy học tích cực và hệ thống các TBDH
địa lí được sử dụng trong nhà trường tiểu học. Từ đó nghiên cứu cách thức sử
dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học theo hướng dạy học tích cực. 3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Địa lí ở tiểu học.
Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng một số TBDH địa lí theo hướng dạy học
tích cực.
5. Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng linh hoạt và hợp lí các TBDH địa lí ở tiểu học theo hướng
dạy học tích cực thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học phân môn Địa lí ở nhà
trường tiểu học.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn việc sử dụng TBDH địa lí ở tiểu học
theo hướng dạy học tích cực.
- Đưa ra nguyên tắc sử dụng một số TBDH địa lí ở tiểu học theo hướng
dạy học tích cực.
- Nghiên cứu cách thức sử dụng một sốcác TBDH địa lí ở tiểu học theo
hướng dạy học tích cực.
- Thiết kế và tổ chức thực nghiệm một số bài dạy Địa lí ở tiểu học có sử
dụng TBDH theo hướng dạy học tích cực.
7. Phạm vi nghiên cứu
Nội dung Địa lí ở tiểu học được đề cập đến từ lớp 1 đến lớp 5. Tuy nhiên
trong thời gian hạn hẹp luận văn chỉ nghiên cứu về cách sử dụng TBDH địa lí ở
lớp 4 và lớp 5 theo hướng dạy học tích cực.
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

5
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC SỦ DỤNG MỘT SỐ THIẾT BỊ
DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TIỂU HỌC THEO HƯỚNG
DẠY HỌC TÍCH CỰC
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Thiết bị dạy học
1.1.1.1. Khái niệm thiết bị dạy học
"Thiết bị dạy học là phương tiện vật chất cần thiết giúp cho GV và HS tổ chức
quá trình giáo dục, giáo dưỡng hợp lí, có hiệu quả các môn học ở nhà trường"[ 22].
"Thiết bị dạy học là một tập hợp những đối tượng vật chất được GV sử
dụng với tư cách là một phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS.
Đối với HS, đó là nguồn tri thức phong phú, sinh động, là các phương tiện giúp
cho các em lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo"[20].
"Thiết bị dạy học là công cụ lao động của GV và HS".
Như vậy có thể hiểu một cách tổng quát: TBDH là những công cụ mà GV và HS
sử dụng trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục đích dạy học.
1.1.1.2. Vai trò của thiết bị dạy học

phải tiến hành các thao tác quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp để rút ra kết
luận đáng tin cậy. Đây chính là các cơ hội giúp các em hình thành và rèn luyện
các kĩ năng địa lí như: kĩ năng quan sát, kĩ năng sử dụng bản đồ, kĩ năng phân
tích số liệu, kĩ năng phân tích mối quan hệ nhân quả, Việc hình thành và rèn
luyện các kĩ năng, kĩ xảo không chỉ giúp cho các em hoàn thành tốt nhiệm vụ
học tập tốt phần Địa lí trong môn Lịch sử và Địa lí ở tiểu học mà còn có ý nghĩa
rất lớn trong các hoạt động học tập nghiên cứu các cấp học trên và cả ở trong
cuộc sống hàng ngày của các em.
1.1.1.3. Yêu cầu đối với thiết bị dạy học
Trong dạy học nói chung và dạy học Địa lí ở tiểu học nói riêng, TBDH là
một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình dạy học đạt được mục
đích và kết quả cao. Để việc sử dụng được thuận lợi và hiệu quả, trong mỗi giờ
học địa lí ở tiểu học các TBDH phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
* Tính sư phạm
TBDH địa lí phải đảm bảo tính sư phạm, phải giúp HS tiếp thu được các
kiến thức, kĩ năng, giúp HS có thể tự học. Đồng thời, TBDH còn giúp GV
truyền đạt những kiến thức cơ bản, phân tích các mối quan hệ trừu tượng, phát
triển khả năng nhận thức và tư duy cho HS.
* Tính trực quan
Các TBDH phải đủ lớn để HS ngồi ở hàng ghế cuối lớp cũng nhìn rõ
được. Nhờ đó HS có thể làm việc với TBDH theo hình thức cá nhân, làm việc
theo nhóm, tổ. Do vậy, các TBDH yêu cầu không chỉ nhìn rõ mà còn phải gọn,
dễ di chuyển và không chiếm nhiều diện tích trên bàn cũng như phải phù hợp
với HS từng khối lớp.

7
* Tính khoa học
Các TBDH địa lí phải đảm bảo tính khoa học. Các sự vật, hiện tượng địa
lí được thể hiện trên các TBDH phải phản ánh đúng các sự vật, hiện tượng địa lí
trong thực tế, phải chính xác và khoa học.

8
tương tự với đối gốc về một số mặt nhất định nào đó. Nó giúp ta nghiên cứu đối
tượng gốc khi không có diều kiện tri giác trực tiếp đối tượng này.
Một số tác giả lại phân loại TBDH theo 3 nội dung sau:
- Những tài liệu địa lí (ví dụ: sách, tạp chí, báo, băng ghi âm, video, đĩa
từ, các loại bản đồ, ). Là kết quả của sự khái quát các công trình của một hay
tập thể nhà khoa học Địa lí, các nhà Sư phạm – Tâm lí hay cán bộ khoa học kĩ
thuật theo những mục đích riêng, với những nội dung xác định có liên quan
đến một hoặc nhiều vấn đề của khoa học địa lí.
- Những TBDH kĩ thuật gồm các máy móc và thiết bị (vô tuyến truyền
hình, video, máy chiếu, máy vi tính, ) giúp cho việc dạy học Địa lí đạt hiệu quả
cao. Chính vì vậy phải hiểu nếu không có tài liệu khoa học dùng để dạy học thì
nó chỉ là thiết bị kĩ thuật thuần túy.
- Các cơ sở vật chất dùng để dạy học gồm: Phòng triển lãm, câu lạc bộ,
lớp học, phòng bộ môn, Vì đây là điều kiện tiền đề để GV và HS làm việc.
Chính vì lí do trên các cơ sở vật chất phải tuân thủ những yêu cầu riêng của lĩnh
vực kiến trúc như diện tích, bài trí, ánh sáng, âm thanh,
Trong cuốn “Phương pháp giảng dạy Địa lí kinh tế” N. N. Branxki – nhà
nghiên cứu và giảng dạy Địa lí, ông đưa ra khái niệm TBDH. Ông cho rằng
TBDH là những phương tiện trực quan, nó là một nhân tố ảnh hưởng lớn đến sự
tổ chức và kết quả của việc giảng dạy Địa lí trong nhà trường.
Các thiết bị đó bao gồm: các bản đồ giáo khoa, tranh, ảnh, biểu đồ, đồ thị,
quả địa cầu,
Kế thừa và phát triển những quan niệm trên. Giáo trình “Lý luận dạy học
Địa lí” do giáo sư Nguyễn Dược chủ biên và một số tác giả khác đã đưa ra khái
niệm TBDH địa lí. Các thiết bị này bao gồm một phần cơ sở vật chất tạo điều
kiện cho việc giảng dạy bộ môn như: phòng bộ môn Địa lí, vườn Địa lí, tủ sách
Địa lí. Toàn bộ các đồ dùng trực quan như các bản đồ giáo khoa, tranh, ảnh, biểu
đồ, đồ thị, quả địa cầu, Và cuối cùng là các tài liệu cung cấp những tri thức cơ
bản cho GV và HS như sách giáo khoa Địa lí, sách, báo tham khảo, Ngoài ra

phải có, là cơ sở cơ bản để xây dựng mục tiêu chương trình, nội dung và
phương thức giảng dạy. Học trò là nhân vật trung tâm, giáo viên là nhân vật
quyết định chất lượng ”. Nói rộng hơn, thầy đại diện cho nhà trường, đại diện
cho hệ thống giáo dục. Mối quan hệ giữa nhà trường với người học thực chất là
mối quan hệ giữa nhà trường với mối quan hệ xã hội. Do đó, mục tiêu, nội dung,
phương pháp đào tạo đều phải xem xét lại thích nghi với yêu cầu của giai đoạn
mới. Sự thích nghi đó sẽ mở ra nhiều khả năng phát triển mới cho hệ thống giáo
dục quốc dân phát triển. Nói một cách cụ thể hơn: mục tiêu, nội dung, phương
pháp dạy học phải được thay đổi, một mặt đáp ứng yêu cầu mới của xã hội, mặt
khác đáp ứng yêu cầu đặc điểm của người học, để HS thực sự là trung tâm, thực
sự được phát triển. Quá trình dạy học mới là phải tạo cơ hội cho người học phát
huy được trí tuệ, sự thông minh của mình.

10
Về phương diện vi mô: Bản chất của dạy học tích cực là lấy người học làm
trung tâm và được thể hiện qua các nội dung cơ bản sau:
-Việc dạy học phải xuất phát từ người học, tức là phải xuất phát từ nhu cầu,
động cơ, đặc điểm và điều kiện của người học. Những nhu cầu học tập của HS có
phản ánh nhu cầu của xã hội. Dạy học, lấy HS làm trung tâm đầu tiên phải thấy trẻ
em là trẻ em, HS là HS như đã đang tồn tại, với những ưu điểm, nhược điểm,
những điều chưa biết và đã biết. Như vậy có nghĩa là phải tiến hành việc học tập
trên cơ sở có hiểu biết những năng lực đã có của HS. Điều đó đòi hỏi:
+ Không dạy những cái HS đã nắm vững.
+ Phải lấp những lỗ hổng kiến thức của HS (nếu có) trong việc học tập trước đó.
+ Phải đảm bảo cho việc dạy học có hiệu quả hơn, liên tục hơn để tránh
việc lưu ban.
+ Phải chú ý đến sự khác nhau về độ trưởng thành của HS trong cùng một
lứa tuổi.
- Phải để cho HS hoạt động cả về thể chất và tinh thần chứ không để HS
bị động tiếp thu và đòi hỏi học phải tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động.

đề, khám phá ra cái chưa biết. Nhiệm vụ của người thầy là chuẩn bị cho HS thật
nhiều kiến thức vào đầu óc HS”.
Nguyễn Kỳ trong bài “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã
đưa ra những cơ sở lý luận về dạy học tích cực. Tác giả cũng chỉ rõ quá trình tự
học là quá trình tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh dưới sự
hướng dẫn, tổ chức, trọng tài của thầy. Trong bài “phương pháp giáo dục tích
cực” Nguyễn Kỳ cũng chỉ rõ: “Trẻ em là chủ thể học tích cực bằng hành động
của chính mình. Lớp học là cộng đồng của chủ thể. Thầy giáo tự nguyện bỏ vai
trò chủ thể, trở thành người thiết kế, tổ chức, trọng tài, cố vấn.”
Trong bài “Một phương pháp cực kỳ quý báu” đăng trên báo nhân dân,
đồng chí Phạm Văn Đồng cũng đã nhận định: “người ta phải đặt ra những câu
hỏi, đưa ra những câu chuyện có tính hấp dẫn, khêu gợi, đòi hỏi người nghe,
người đọc, dẫu là người suy nghĩ kém cỏi cũng phải chịu khó suy nghĩ, tìm tòi
Phương pháp dạy học tích cực này có khả năng phát triển được những năng lực
đang ngủ yên trong mỗi người”.
Trên đây là một số những ý kiến tiêu biểu về dạy học tích cực của các nhà
lãnh đạo và các nhà nhiên cứu giáo dục Việt Nam. Mỗi tác giả lại có những cách
nhìn về dạy học tích cực ở một khía cạnh, nhưng tựu chung lại đều khẳng định
một điều là: dạy học tích cực là phát huy tính tích cực của HS trong quá trình
dạy học và liên quan tới quan điểm “dạy học lấy hoạt động của người học làm
trung tâm”. Nó được đặt ra do yêu cầu đổi mới mục tiêu giáo dục và cần được
tiến hành đồng bộ với sự đổi mới tất cả các yếu tố của quá trình dạy học trong
đó đặc biệt chú ý đổi mới phương pháp và TBDH.

12
1.1.3. Mối quan hệ giữa thiết bị dạy học với dạy học tích cực
Như đã phân tích ở trên, ta thấy rằng dạy học tích cực là một hệ thống
phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm như: phương pháp gợi mở,
vấn đáp, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp thí nghiệm, phương pháp
trò chơi học tập ; khơi dậy lòng tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Sử

thức được đầy đủ vế tác dụng của các phương tiện, TBDH. Chẳng hạn khi sử

13
dụng máy chiếu projecter GV thường mắc các lỗi: trong một buổi học chiếu quá
nhiều hình ảnh hay trong mỗi sline viết quá nhiều chữ dẫn đến tình trạng HS
chưa kịp nhìn, chưa kịp ghi thì đã lại chuyển sang sline mới. Trong khi đó
nguyên tắc vàng của việc áp dụng chương trình powerpoint là không được viết
câu quá dài và quá nhiều chữ, khi trình diễn cần phải chèn cả sơ đồ, hình ảnh
Điều đó chứng tỏ rằng TBDH luôn chỉ là một công cụ trợ giúp, chuyển tải các
nội dung. Nó không thể quyết định đến toàn bộ chất lượng giảng dạy. Như vậy
dù sử dụng TBDH hiện đại hay truyền thống thì chúng ta không nên quá lạm
dụng các TBDH đó. GV phải biết kết nối các khả năng giao tiếp về mặt nội dung
và phương tiện để mang lại hiệu quả tối ưu nhất.
Tóm lại, giữa phương pháp dạy học tích cực và các phương tiện, TBDH có
mối quan hệ tương trợ lẫn nhau. Điều quan trọng là người GV phải biết được
những nguyên tắc khi áp dụng các phương pháp và TBDH đó, để phát huy một
cách tối ưu vào công tác giảng dạy.
1.1.4. Một số đặc điểm về quá trình nhận thức của học sinh tiểu học giai đoạn
2 (giai đoạn lớp 4, 5)
Tri giác của HS phát triển mạnh trong quá trình học tiểu học và khuynh
hướng phát triển của nó là tri giác ngày càng mang tính chủ định, đi sâu vào chi
tiết của sự vật hiện tượng. HS lớp 4, lớp 5 đã nắm được mục đích quan sát và
trong quá trình quan sát các em đã biết chú ý quan sát các chi tiết của đối tượng
và đi sâu vào chi tiết riêng rẽ, các em đã có thể tổng hợp chúng để có được một
biểu tượng hoàn chỉnh về đối tượng.
Những đặc điểm tri giác trên của HS tiểu học cho thấy: trong giờ dạy học
Địa lí, muốn hình thành một biểu tượng hoặc khái niệm cho HS, GVcần phải tổ
chức cho các em quan sát đối tượng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua
các TBDH như tranh ảnh, mô hình, bản đồ
Tính không chủ định chiếm ưu thế trong chú ý của HS tiểu học. Các em chỉ

- Hình thành cho HS một số biểu tượng, khái niệm, mối quan hệ địa lí
đơn giản thông qua những sự vật, hiện tượng địa lí cụ thể của đất nước và thế
giới (các châu lục, khu vực Đông Nam Á và một số nước tiêu biểu cho các
châu lục).
- Bước đầu hình thành và rèn luyện cho HS một số kĩ năng địa lí như: kĩ
năng quan sát các sự vật, hiện tượng địa lí; kĩ năng quan sát bản đồ; kĩ năng
nhận xét, so sánh, phân tích bảng số liệu, biểu đồ; kĩ năng phân tích các mối
quan hệ địa lí đơn giản.
- Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS thái độ và thói quen ham hiểu biết,
yêu đất nước, thiên nhiên, con người, có ý thức và hành động bảo vệ môi trường.
1.2.2. Những nội dung chính của phân môn Địa lí lớp 4, lớp 5
1.2.2.1. Nội dung chính của phân môn Địa lí lớp 4
Phân môn Địa lí lớp 4 có những nội dung sau:

15
- Nội dung thứ nhất là: Bản đồ và cách sử dụng. Bản đồ địa hình Việt Nam.
- Nội dung thứ hai là: Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền núi
và trung du (dãy núi Hoàng Liên Sơn, Tây Nguyên, Trung du Bắc Bộ).
+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông ngòi).
+ Cư dân (mật độ dân số không lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng
về trang phục, lễ hội).
+ Hoạt động sản xuất gắn với tài nguyên rừng, sức nước, đất, khoáng sản
(khai thác chế biến gỗ, quặng; trồng trọt; chăn nuôi gia súc; thuỷ điện; ). Hoạt
động dịch vụ (giao thông miền núi và chợ phiên).
+ Thành phố vùng cao (Đà Lạt).
- Nội dung thứ ba là: Thiên nhiên và hoạt động của con người ở miền
đồng bằng (đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ).
+ Đặc điểm tiêu biểu của thiên nhiên (địa hình, khí hậu, sông ngòi).
+ Cư dân (mật độ dân số lớn, ba dân tộc tiêu biểu với nét đặc trưng về
trang phục, lễ hội).

nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp.
+ Một số đặc điểm nổi bất về tình hình phát triển kinh tế và sự phát triển
công nghiệp.
+ Một số đặc điểm nổi bật về giao thông, thương mại, du lịch.
Phần Địa lí thế giới gồm:
- Bản đồ thế giới.
- Vị trí và một số đặc điểm đặc trưng từng châu lục, từng đại dương trên
thế giới.
- Vị trí và một số đặc điểm nổi bật của khu vực Đông Nam Á.
- Vị trí, thủ đô và một số đặc điểm nổi bật của một số quốc gia tiêu biểu ở
các châu lục: Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Liên bang Nga, Pháp, Ai Cập,
Hoa Kì, Ô-xtrây-li-a.
1.2.3. Sách giáo khoa Địa lí lớp 4, lớp 5
1.2.3.1. Khổ sách
Sách được trình bày với khổ 17cm x 24cm, cách trình bày thoáng, cỡ chữ
to, số lượng kênh hình nhiều và kích thước các hình phù hợp với HS tiểu học.
Tạo điều kiện để cho GV tổ chức các hoạt động tìm tòi, phát hiện kiến thức mới
của HS thông qua làm việc với bản đồ (lược đồ), bảng số liệu, tranh ảnh, hình vẽ
đồng thời phát hiện các kĩ năng địa lí của HS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status