CÁCH sử DỤNG một số THIẾT bị dạy học địa lý THEO PHƯƠNG PHÁP dạy học TÍCH cực lieu 2011+2012 - Pdf 30

Sáng Kiến Kinh Nghiệm

 !"
#$%$$ &'(
$)*+,-.
/(0123)4+56+789:+89+)+7)9;<,
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục là “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân
tài”, hình thành những con người có năng lực, lao động sáng tạo, làm chủ xã hội, làm chủ
đất nước. Vấn đề này ngày càng trở nên bức thiết hơn khi đất nước bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa. Vì vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục, làm thế nào để hình thành
nên những con người phát triển toàn diện để xây dựng, để làm chủ đất nước. Đây là nhiệm
vụ khó khăn mà tất cả những người làm công tác giáo dục đang hết sức băn khoăn trăn trở.
Trong nền giáo dục ở nước ta hiện nay có nhiều phương pháp được cải cách sao cho phù hợp
với xu hướng phát triển của xã hội, nhằm trang bị cho học sinh vốn tri thức cơ bản về xã hội
loài người và những kinh nghiệm tốt để bước vào xây dựng nền kinh tế xã hội nước nhà. Bộ
môn Địa Lý ở bậc THCS đã góp phần không nhỏ vào điều đó, vì Địa Lý là môn khoa học
luôn gắn liền với thực tiễn xã hội.Để làm được điều đó yêu cầu đặt ra đối với học sinh là
phải có khả năng nắm bắt tri thức từ những bản đồ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ…và biết xử lý
thông tin. Nhưng thực tế ở trường hiện nay đa số học sinh chưa có kỹ năng khai thác kiến
thức từ đồ dùng dạy học, do đó chất lượng bộ môn địa lí chưa cao.Vì vậy rèn luyện kĩ năng
khai thác kiến thức Địa lí cho học sinh từ các phương tiện thiết bị dạy học là một yêu cầu
bức thiết trong dạy học Địa Lí hiện nay.Xuất phát từ lí luận đó làm thế nào để sử dụng có
hiệu quả các thiết bị dạy học theo yêu cầu đổi mới của giáo dục hiện nay? nhằm giúp học
sinh dễ hiểu bài, hiểu sâu và thích thú học tập bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng bộ
môn đồng thời còn rèn kĩ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học cho học sinh . Đó
là lí do mà tôi chọn chuyên đề này.
=(>3?03)+7)9@+3AB,
Có thể nói: “Cách sử dụngbản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh, mô hình trong dạy học Địa
Lí theo phương pháp dạy học tích cực”nhằm những mục đích như sau: làm cho học sinh
hứng thú, tránh nhàm chán trong học tập. Học sinh dễ tiếp thu, nắm bắt tốt các khái niệm cơ
bản, các qui luật trong Địa Lí, đồng thời tạo cho lớp học thêm sinh động.Bên cạnh đó còn

và dạy học Địa Lí nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Đồ dùng dạy học thay thế cho những
sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể
tiếp cận trực tiếp được. Nhờ có các phương tiện dạy học các biểu tượng được hình thành rõ
nét hơn, nhiều sự vật hiện tượng Địa Lý gần gũi và dễ hiểu hơn đối với học sinh.
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học. Theo Luật giáo dục điều 24.2 đã ghi: “ Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh; phù hợp
với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho
học sinh.”Có rất nhiều phương pháp phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh,
việc sử dụng bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh, mô hình trong dạy học Địa Lí nhằm phát
huy tính tích cực chủ động của học sinh trong việc lĩnh hội tri thức , tạo ra những con người
năng động,có năng lực giải quyết vấn đề.
=(I5LP)Q3P9R+,
Sự phát triển của đồ dùng dạy học đã đưa đến hình thành một danh mục các loại đồ dùng
dạy học rất đa dạng và phong phú gồm: Bản đồ treo tường, lược đồ, tranh ảnh, lát cắt, sơ
đồ…
Một kết quả nghiên cứu thực tế cho thấy, học sinh nhớ được kiến thức 30% nếu chỉ được
nghe, còn nếu cả nghe lẫn nhìn sẽ nhớ được đến 50% kiến thức. Do đó sử dụng các thiết bị
dạy học sẽ làm cho học sinh vừa hiểu bài nhanh hơn, vừa nhớ được nhiều kiến thức hơn. Sự
phát triển của đồ dùng dạy học đã đưa đến hình thành một danh mục các loại đồ dùng dạy
học rất đa dạng và phong phú gồm: Bản đồ treo tường, lược đồ, tranh ảnh, lát cắt, sơ đồ mô
hình…
Việc sử dụng đồ dùng trực quan sẽ rèn luyện kỹ năng kỹ xảo cho học sinh. Nó còn có tác
dụng về mặt giáo dục góp phần hình thành cho các em thế giới quan khoa học. Đó cũng là
phương tiện gắn liền giữa học sinh và cuộc sống thực tế của xã hội.
- 2 -
Sử dụng đồ dùng dạy học phù hợp sẽ phát huy được sự tham gia xây dựng bài của học sinh
với phương châm “thầy chủ động – trò chủ đạo” không chỉ truyền đạt kiến thức mới mà còn
có tác dụng củng cố kiến thức , kiểm tra kiến thức, rèn luyện kỹ năng thực hành. Từ đó giờ
dạy sinh động tránh tình trạng giáo viên truyền đạt kiến thức chung chung một cách khô

/YZ9D[97962D9@+,
K Giáo viên phải chuẩn bị nhiều thời gian và công sức để soạn một bài dạy tốt.
KThường xuyên cập nhật tin tức trong nước, thế giới, trên báo đài,internet để kịp thời
cung cấp cho học sinh.
KPhải trau dồi, học hỏi từ các bạn đồng nghiệp trong cũng như ngoài nhà trường để
không ngừng thay đổi phương pháp dạy học nhất là phương pháp sử dụng một số thiết bị
dạy học cho học sinh.
K Tự làm thêm đồ dùng dạy học,nếu đồ dùng đó không được cấp.
KTích cực học hỏi, sưu tầm tài liệu và phải có bề dày kiến thức về chuyên môn.
=YZ9D[9)4359+),
KPhải chuẩn bị bài thật tốt.
- 3 -
K Trang bị đầy đủ đồ dùng học tập như:sách giáo khoa, tập bản đồ (nếu có)
K Phải tự trang bị những hiểu biết cơ bản về Địa Lí.
K Nắm vững các nguyên tắc khi sử dụng bản đồ, lược đồ…
K Biết vận dụng các kiến thức để khai thác các phương tiện thiết bị phục vụ việc dạy và
học Địa Lí.
CY\P5Z79]9J)6J,
^Y]+?_MHU3?_(
Bản đồ có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong dạy học Địa Lí, là kiến thức từ cuốn sách thứ
hai, là phương tiện dạy học ở nhiều bài Địa Lí. từ bản đồ có thể bồi dưỡng thế giới quan duy
vật biện chứng, bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu…cho học sinh.Do đặc điểm của
các đối tượng, sự vật Địa Lí được trải rộng trong không gian. GV không thể dẫn học sinh
đến nơi được.Vì vậy, dạy học Địa Lí không thể không có bản đồ. Trong mỗi bản đồ Địa Lí
đều chứa đựng những kiến thức ở các kí hiệu, ước hiệu và những kiến thức thông qua các
quan hệ Địa Lí - kiến thức “ẩn”. Dựa vào bản đồ, GV có thể nêu ra những vấn đề cho học
sinh suy nghĩ,nhận thức, phát triển tư duy Địa Lí và khai thác đặc trưng quan trọng của Địa
Lí, tư duy gắn liền với lãnh thổ, xét đoán dựa trên cơ sở bản đồ.
T63`H[38)^9P)6389:+P)A3Pa`]+?_MHU3?_:
+ Đọc tên bản đồ để biết được nội dung bản đồ.

* Sử dụng bản đồ kết hợp với phương pháp mô tả, giúp học sinh khắc sâu hơn kiến thức
Địa Lý.
-b01>, Khi dạy về hình dạng Châu Âu (Địa Lý 7- Tiết: 59)
Giáo viên sử dụng bản đồ mô tả hình dạng Châu Âu:
+ Mở rộng ở phía tây.
+ Bờ biển bị cắt xẻ mạnh.
+ Núi già ở phía bắc và trung tâm, núi trẻ ở phía nam.
+ Đồng bằng kéo dài từ tây sang đông.
* Sử dụng bản đồ kết hợp với phương pháp so sánh.
-b01>, Khi dạy bài “ Các Hệ thống Sông lớn ở nước ta” (Địa Lý 8 – Tiết: 39)
Giáo viên cho học sinh quan sát bản đồ sông ngòi Việt Nam xác định:
+ Lưu vực sông ngòi Bắc Bộ.
+ Lưu vực sông ngòi Nam Bộ.
+ Nhận xét gì về lưu vực của sông ngòi Bắc Bộ và Nam Bộ?
=> Từ đó học sinh so sánh và rút ra đặc điểm của hai lưu vực sông.
* Sử dụng bản đồ đồng nghĩa với việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng phát hiện mối liên
hệ trên bản đồ giữa các đối tượng Địa Lý.
-b01>/: Khi dạy đặc điểm của môi trường đới nóng, đới lạnh.
Giáo viên giúp học sinh xác định được vị trí, giới hạn của hai đới:
+ Nhận xét gì vị trí, giới hạn các đới nóng lạnh?
+ Từ đó học sinh rút ra được: do vị trí, giới hạn khác nhau trên Trái đất nên nhận được bức
xạ của mặt trời khác nhau, ảnh hưởng đến đặc điểm khí hậu, sinh vật, thổ nhưỡng cũng khác
nhau.
TRèn luyện kĩ năng sử dụng bản đồ cho HS(
+ Kĩ năng xác định các đối tượng Địa Lí trên bản đồ.
+ Kĩ năng xác định phương hướng trên bản đồ.
+ Kĩ năng xác định toạ độ Địa Lí.
+ Kĩ năng đo tính khoảng cách trên bản đồ.
+ Kĩ năng mô tả các đối tượng Địa Lí trên bản đồ.
+ Kĩ năng phát hiện mối quan hệ Địa Lí.

- Ví dụ: khai thác kiến thức trong bài : Hoạt động kinh tế của con người ở đới lạnh.( Địa 7-
Tiết: 25)
+ Bước 1: Giáo viên cho HS đọc tên tranh (H22.2 và H22.3)
+ Bước 2: Học sinh chỉ ra những đặc điểm và thuộc tính của đối tượng được biểu hiện trên
bức tranh.( người La- Pông ở Bắc Âu đang chăn dắt đàn tuần lộc; người I- núc đang câu cá
qua hố băng, có tuyết bao phủ…).
+ Bước 3: Học sinh nêu biểu tượng và khái niệm trên cơ sở những đặc điểm và thuộc tính đó
( Khí hậu rất lạnh lẽo khắc nghiệt,đới lạnh là nơi rất ít dân, Sự thích nghi của con người ở
đới lạnh…)
- Từ đó học sinh sẽ hiểu rằng ở đới lạnh có hiện tượng đóng băng, giải thích tại sao có hiện
tượng đóng băng,với đặc điểm khí hậu này các hoạt động của con người ở đây có sự khác
biệt so với các hoạt động của con người ở các đới khác .
- Những bài học như thế này giúp các em tiếp thu một cách chủ động và gây hứng thú học
tập cho các em đồng thời các em sẽ biết được trên Trái Đất, các hoạt động của con người ở
các đới khí hậu khác nhau dẫn đến: sinh hoạt, tập quán, các sản phẩm tạo ra từ hoạt động sản
xuất ra cũng có sự khác nhau.
c. Khai thác kiến thức từ biểu đồ nhiệt độ :
Biểu đồ là một phương tiện trực quan. Mỗi loại biểu đồ đều có nhiều chức năng thể hiện đối
tượng Địa Lý, nhưng do đặc tính riêng của mình nên mỗi loại biểu đồ có khả năng tốt hơn
cho việc thể hiện một đặc điểm nào đó của đối tượng…
- Ví dụ: Khai thác kiến thức từ biểu đồ nhiệt độ trong bài: Châu Nam Cực châu lục lạnh
nhất thế giới (Địa Lí 7 - Tiết 54)
Để giúp HS rút ra đặc điểm khí hậu châu Nam Cực GV có thể tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Giới thiệu tên biểu đồ ( giới thiệu bao quát nội dung biểu đồ: vị trí, chỉ số nhiệt độ,
đường biểu diễn nhiệt độ)
- 6 -
+ Bước 2: HS xác định vị trí của 2 trạm: Lit – tơn A-mê-ri-ca và Trạm Vô-xtốc.
+ Bước 3: Phân tích biểu đồ, nhận xét nhiệt độ 2 trạm.
+ Bước 4: Dựa vào hiểu biết và kênh hình rút ra nhận xét chung khí hậu châu Nam Cực.
1( V)^9P)6389:+P)A3PaM6P3fP?e^M0 :

Lý.
Ví dụ: Giải thích hiện tượng ngày – đêm:
Đây là kết quả của sự chuyển động của Trái Đất quay quanh trục. Giáo viên dùng
quả Địa Cầu kết hợp với phương pháp diễn giải thuyết trình làm tái hiện lại hiện tượng
trên: Thực hiện một động tác xoay quả Địa Cầu chầm chậm trước một ngọn đèn (hiện
tượng Trái Đất quay quanh Mặt Trời). Chính sự chuyển động này đã sinh ra ngày và
đêm. Và vì Trái Đất luôn chuyển động từ tây sang đông nên phần phía đông bao giờ
cũng sớm hơn phía tây.
- 7 -
Sử dụng quả Địa Cầu không chỉ đơn thuần là tái hiện lại kiến thức mà nó còn tạo cho
khả năng quan sát của các em được mở rộng tư duy phát triển. Từ đó các em nhận thức được
đúng bản chất của hiện tượng Địa Lý.
b2. Mô hình “Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời”
Nếu như không có mô hình Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời thì giáo viên là người
làm việc rất căng thẳng nhưng hiệu quả không cao. Sử dụng mô hình giúp học sinh hứng thú
khám phá tìm tòi hơn.
Kết quả của cuộc thí nghiệm đã chứng minh cho học sinh thấy được Trái Đất chuyển
động quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo nhất định và khi chuyển động quanh Mặt Trời, Trái
Đất cũng tự chuyển động quanh trục để sinh ra ngày và đêm.
Nhờ sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh xác định được tại sao có năm tháng có các
mùa: Xuân – hạ – thu – đông? Tại sao có mùa lạnh – mùa nóng? Tại sao có ngày – đêm dài
ngắn khác nhau trên Trái Đất?
b3. Mô hình Trái Đất trong hệ Mặt Trời
Với mô hình này, giáo viên giúp học sinh nhận biết được vị trí của Trái Đất trong hệ
Mặt Trời.
Giáo viên cho học sinh quan sát các mô hình với yêu cầu:
- Kể tên các hành tinh trong hệ Mặt Trời.
- Cho biết Trái Đất nằm ở vị trí thứ mấy trong các hành tinh theo thứ tự xa dần
Mặt Trời.
→Từ đó học sinh nhận biết được Trái Đất ở vị trí thứ ba trong số tám hành tinh

quả, HS được hoạt động, được làm việc, trong quá trình dạy học GV cần hướng dẫn HS khai
thác kiến thức từ các thiết bị dạy học và làm việc với các thiết bị dạy học theo những yêu
cầu và nguyên tắc trên, đồng thời phải trang bị cho HS các kĩ năng làm việc với các thiết bị
Địa Lí.Trên cơ sở nắm vững được quan điểm dạy học trên trong thời gian qua việc sử dụng
các TBDH được khai thác với phương pháp tích cực hơn, đổi mới hơn trong quá trình sử
dụng, làm cho HS tìm được bản chất “ẩn” bên trong TBDH. Giáo viên hướng dẫn học sinh
phát huy một cách tích cực các cơ quan cảm giác của mình trong quá trình dạy học: được
nghe, thấy, nói ý kiến của mình trước tập thể.
Như vậy, khi đổi mới PPDH theo hướng tích cực, chủ động của HS- mà hoạt động độc lập
của học sinh với các nguồn tri thức được xem như một dấu hiệu quan trọng- thì các phương
tiện dạy học càng có một vị trí hết sức cần thiết, tạo điều kiện cho dạy học đề cao chủ thể
nhận thức của HS. Yêu cầu đủ về PTDH và đa dạng về thể loại trở nên có tính bắt buột. Nếu
như trước đây, HS có thể nghe thầy “dạy chay” được khi không có PTDH, thì hiện nay với
PPDH mới, HS không thể “làm chay” được. PTDH Làm cho giờ học sinh động, thu hút
được học sinh tham gia xây dựng bài, học sinh thích học hơn.
Kĩ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học của học sinh ngày càng tốt hơn.Học sinh
dễ nhớ và khắc sâu kiến thức trọng tâm bài giảng.Tuy nhiên do trình độ nhận thức của HS
không đều nhau nên trong từng lớp học vẫn còn một số học sinh có kĩ năng sử dụng PTDH
còn yếu.
(Vgi,

 VjY k V j g Vl
HKI
306
58/306
19
0
/
0
92/306

/
0
3/306
1
0
/
0
Sau một thời gian giảng dạy với việc phát huy tính tính cực trong việc sử dụng đồ dùng trực
quan vào môn Địa Lý, tôi đã nhận thấy việc sử dụng phương pháp trên đã đem lại kết quả
học tập của học sinh cao hơn.
- Làm cho giờ học sinh động, thu hút được học sinh tham gia xây dựng bài, học sinh thích
học hơn.
- 9 -
- Học sinh dễ nhớ và khắc sâu kiến thức trọng tâm bài giảng.
- Kĩ năng sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học của học sinh ngày càng tốt hơn.
- Chất lượng cuối năm tăng lên rõ rệt so với đầu năm.
Muốn phát huy tính tích cực này cần phải trải qua một thời gian dài, mặt khác học sinh còn
phải tiếp tục rèn luyện phương pháp này ở nhà, trong thời gian ôn bài cũ, chuẩn bị bài mới
thông qua thực hành. Làm giờ học sinh động hơn, thu hút được học sinh tham gia xây dựng
bài. Học sinh thích học hơn.
b(Vm,
Sử dụng thiết bị dạy học là phương tiện hổ trợ tốt nhất, giúp giáo viên đạt hiệu quả cao trong
tiết dạy học Địa Lí nên không thể thiếu được trong giảng dạy môn Địa Lí.
Phạm vi chuyên đề đề cập đến một số kinh nghiệm sử dụng thiết bị dạy học theo phương
pháp tích cực, phương pháp sử dụng bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, minh hoạ cho đề tài tập
trung chủ yếu vào bài Châu Nam Cực – Châu lục lạnh nhất thế giới- Địa lí lớp 7. Và trong
quá trình thực hiện chắc hẳn không tránh khỏi những hạn chế rất mong được sự góp ý của
quý thầy cô!
Nhơn phú, ngày tháng . năm 2014
Người viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status