Môc Lôc
Môc Lôc....................................................................................................................................I
I
Danh mục bảng
Số thứ tự Tên bảng Trang
1
Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam
(1995-2002)
15
2
Lao động Việt Nam trong lĩnh vực khoa học công nghệ và
phần mềm giai đoạn 1996 - 2002
21
3
Cán cân thanh toán Việt Nam 11 tháng đầu năm giai đoạn
2000 - 2003
23
4
Kim ngạch xuất nhập khẩu phần mềm Nhật Bản giai đoạn
1994 2000
30
5
Công nghiệp phần mềm ấn Độ giai đoạn 1993 1999
35
6
Cơ cấu doanh thu CNpCNTT Việt Nam giai đoạn 2000
2002
40
7
Số công ty và nhân sự phần mềm Việt Nam giai đoạn 1996-
2002
II
Danh mục biểu
Số thứ tự Tên biểu Trang
1
Doanh thu ngành công nghiệp dịch vụ CNTT và GDP
Nhật Bản giai đoạn 1992 - 2001
26
2
Số lao động làm việc trong ngành công nghiệp dịch vụ
CNTT và trong toàn nền kinh tế Nhật Bản giai đoạn 1992
2001
27
3
Cơ cấu doanh thu ngành công nghiệp dịch vụ CNTT Nhật
Bản giai đoạn 1997 2001
28
4
Cơ cấu xuất khẩu phần mềm Nhật Bản giai đoạn 1994
-2000
32
5
Thị trờng xuất khẩu phần mềm Nhật Bản giai đoạn
19942000
33
6
Xuất khẩu phần mềm ấn Độ giai đoạn 1991 2003
38
7
Năng suất làm phần mềm của Việt Nam giai đoạn 1998
2002
tin
CNPM Công nghệ phần mềm
CNpPC Công nghiệp phần cứng
CNpPM Công nghiệp phần mềm
CNTT Công nghệ thông tin
CSHT Cơ sở hạ tầng
Dec December Tháng mời hai
HCA Hội tin học thành phố Hồ Chí
Minh
KCNpPM Khu công nghiệp phần mềm
STĐ Số tuyệt đối
SXPM Sản xuất phần mềm
TP. HCM Thành phố Hồ Chí Minh
X Có
XKPM Xuất khẩu phần mềm
IV
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Lời nói đầu
Kể từ khi máy tính ra đời, khái niệm Công Nghệ Thông Tin (CNTT) ngày càng trở
nên quen thuộc đến nỗi thế kỷ 21 đợc gọi là thế kỷ thông tin. Linh hồn của CNTT
chính là phần mềm - một sản phẩm vô cùng quan trọng trong cuộc sống. Nhận thức
đợc vấn đề này, trong 10 gần đây, Việt Nam đã rất chú trọng đến lĩnh vực Công
Nghệ Phần Mềm cũng nh đến việc tiêu thụ mặt hàng này tại thị trờng trong nớc và
xuất khẩu. Tuy vậy, thực trạng xuất khẩu phần mềm Việt Nam vẫn còn rất manh
mún, nhỏ lẻ so với tiềm năng đất nớc ta. Trớc tình hình này, em xin tập trung
nghiên cứu đề tài: Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài trớc hết nhằm hệ thống một số vấn đề lý luận về
CNTT và CNPM. Trên cơ sở năm vững lý luận, khóa luận đánh giá thực trạng xuất
khẩu phần mềm của Việt Nam nói chung và một số doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả trong lĩnh vực này nói riêng. Từ đó, cuối cùng khóa luận đa ra một cái
Chiếc máy tính đầu tiên ra đời đến nay đã đợc gần 60 năm. Khái niệm CNTT
không còn là mới song cũng không dễ để đa ra đợc một định nghĩa thống nhất về
nó. Mỗi ngời dới mỗi góc độ lại có một quan điểm riêng.
Có quan điểm cho rằng CNTT là hệ thống các tri thức và phơng pháp khoa học, các
công cụ và phơng tiện kỹ thuật hiện đại, các giải pháp công nghệ đợc sử dụng để
thu thập, lu trữ, xử lý, sản xuất và truyền bá thông tin nhằm giúp con ngời nhận
thức, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin nh
nguồn tài nguyên quan trọng nhất. CNTT bao gồm chủ yếu là máy tính, kể cả các
bộ vi xử lý, mạng viễn thông nối các máy tính, phần mềm và nội dung thông tin.
1
Quyết định 49/ CP của Thủ tớng chính phủ ra ngày 14/ 8/ 2003 định nghĩa rõ ràng
hơn: CNTT là tập hợp các phơng pháp khoa học, các phơng tiện và công cụ kỹ
thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức, khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và
tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời và xã hội.
2
Vậy thực chất CNTT là gì?
1
Theo www.mofa.gov.vn, nhập vào ngày 24/11/2000.
2
Quyết định số 49/CP của Thủ tớng chính phủ về phát triển CNTT ở nớc ta trong những năm 1990
www.vietsoftonline.com.vn
3
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Theo giáo s Jim Senn Trởng khoa hệ thống thông tin máy tính của Trờng Đại
học Georgia, Hoa Kỳ, CNTT gồm 3 bộ phận: máy tính, mạng truyền thông và
know how.
3
Máy tính là một thiết bị gồm 3 bộ phận: phần cứng, phần mềm và thông tin.
Mạng truyền thông là một hệ thống kết nối các mạng máy tính, bao gồm cả
Một cách tổng quát nhất, có thể nói CNPM là lĩnh vực khoa học về các phơng pháp
luận, kỹ thuật và công cụ tích hợp trong quy trình sản xuất và vận hành phần mềm
nhằm tạo ra phần mềm với những chất lợng mong muốn.
Điều đáng nói ở đây là cần phân biệt hai cặp khái niệm dễ nhầm là công nghệ
học phần mềm và công nghiệp phần mềm; công nghệ thông tin và công
nghiệp công nghệ thông tin. Nh trình bày ở trên, ta có thể hiểu công nghệ học
phần mềm, công nghệ thông tin là những khái niệm thuộc lĩnh vực học thuật. Còn
công nghiệp phần mềm (CNpPM), công nghiệp công nghệ thông tin (CNp CNTT)
là những khái niệm thuộc lĩnh vực kinh tế. CNpPM chỉ một ngành công nghiệp
bao gồm các hoạt động sản xuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứng các dịch vụ
phần mềm. Còn CNp CNTT là một ngành công nghiệp bao gồm các hoạt động sản
xuất, kinh doanh các sản phẩm và cung ứng các dịch vụ liên quan đến CNTT mà
theo nghĩa hẹp là phần cứng và phần mềm.
2.
Khái quát chung về phần mềm và sản phẩm, dịch vụ
phần mềm
2.1. Phần mềm
2.1.1. Khái niệm
Theo Quyết định số 128/2000 QĐ - Ttg do Thủ tớng chính phủ ban hành, phần
mềm đợc hiểu là chơng trình, tài liệu mô tả chơng trình, tài liệu hỗ trợ, nội dung
thông tin số hóa.
6
Hiểu theo nghĩa hẹp, phần mềm là dịch vụ chơng trình để tăng khả năng xử lý của
phần cứng của máy tính chẳng hạn nh Hệ điều hành. Còn hiểu theo nghĩa rộng,
5
Nh 4
6
Quyết định số 128/2000 QĐ - Ttg về một số chính sách và biện pháp khuyến khích đầu t và phát triển công nghệ
phần mềm. www.vietsoftonline.com.vn
5
mềm. Ngời ta không thể đánh giá phần mềm bằng những chỉ tiêu thông thờng nh
dài bao nhiêu mét, nặng bao nhiêu cân.
Thứ hai, phần mềm vốn có lỗi tiềm tàng. Không có phần mềm nào khi làm ra đã
hoàn hảo. Quy mô càng lớn thì khả năng có lỗi càng cao. Lỗi phần mềm dễ bị phát
hiện bởi ngời sử dụng. Một minh chứng cho đặc tính này là trờng hợp hệ điều hành
Windows XP vốn đợc Microsoft tự tin là hệ điều hành chuyên nghiệp vẫn không
tránh đợc lỗi, đặc biệt là các lỗi an toàn bảo mật cho phép tin tặc tấn công các máy
có sử dụng các phiên bản Windows này. Điều này có thể thấy rõ qua sự phát hoại
của sâu máy tính Blaster và các biến thể của nó do đã khai thác đợc lỗi tràn bộ đệm
của các phiên bản Windows.
Thứ ba, tuy phần mềm nào cũng tiềm tàng lỗi nhng chất lợng phần mềm không vì
thế mà giảm đi. Trái lại, nó còn có xu hớng tốt lên sau mỗi lần có lỗi đợc phát hiện
và sửa chữa. Cũng vẫn trong trờng hợp virus Blaster tấn công hệ điều hành
Windows, sau khi đã cập nhật các bản sửa lỗi hoặc cấu hình tờng lửa thì ta hoàn
toàn có thể vô hiệu hóa khả năng lây nhiễm và phá hoại của sâu Blaster. Nói
chung, sau mỗi lần sửa lỗi nh thế, phần mềm lại trở nên tốt hơn.
Thứ t, phần mềm rất dễ bị mất bản quyền. Sở dĩ vậy bởi việc sao chép phần mềm
rất đơn giản. Khi đã có một bản phần mềm, chỉ cần một vài động tác sao chép là có
thể có ngay một bản thứ hai. Điều này thật quá dễ dàng so với việc làm ra một
chiếc ô tô, hay một TV giống hệt cái ban đầu. Đáng chú ý là việc mất bản quyền ở
đây không chỉ là mất bản quyền về bản thân phần mềm đó mà còn bao gồm bản
quyền về ý tởng sản xuất ra phần mềm đó. Vì thế, có thể nói ý tởng phần mềm là
của chung.
Thứ năm, vòng đời phần mềm rất ngắn ngủi. Điều này thật dễ hiểu vì CNTT là một
công nghệ biến chuyển nhanh. Phần mềm, hệ thần kinh mà con ngời trang bị cho
máy tính để máy tính hoạt động theo ý muốn mình, cũng phải thay đổi theo. Khi đã
có một phần mềm mới ra đời, u việt hơn thì phần mềm cũ chắc chắn sẽ bị đào thải.
7
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Thứ sáu, đầu t cho R&D để hoàn thiện sản phẩm phần mềm là rất lớn. Đây là một
Phần mềm đóng gói là sản phẩm phần mềm có thể sử dụng đợc ngay sau khi
ngời sử dụng hoặc nhà cung cấp dịch vụ cài đặt vào các thiết bị hay hệ thống.
Chúng gồm hai loại: phần mềm hệ thống và phần mềm ứng dụng.
Phần mềm chuyên dụng là sản phẩm phần mềm đợc phát triển theo yêu cầu cụ
thể và riêng biệt của khách hàng.
Sản phẩm thông tin số hóa là nội dung thông tin số hóa đợc lu trữ trên một vật
thể nào đó.
Trong nền kinh tế ngày nay, khái niệm hàng hóa không chỉ đơn thuần là sản phẩm
hàng hóa hữu hình mà trong đó còn bao hàm khái niệm hàng hóa vô hình dịch
vụ. Sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu trong lĩnh vực CNpPM cũng vậy. Bên cạnh
việc mua bán sản phẩm phần mềm, thị trờng thế giới còn rất nhộn nhịp với hoạt
động cung cấp dịch vụ liên quan đến phần mềm. Có lẽ vì vậy mà đối tợng đợc hởng
u đãi nh quy định trong Quyết định 128/2000 QĐ - Ttg là những tổ chức, cá nhân
sản xuất sản phẩm phần mềm và cung cấp dịch vụ phần mềm. Theo quyết định này,
dịch vụ phần mềm đợc định nghĩa là mọi hoạt động trực tiếp phục vụ việc sản
xuất sản phẩm phần mềm, khai thác, nghiên cứu, sử dụng, đào tạo, phổ biến và
hoạt động tơng tự khác liên quan đến phần mềm. Các dịch vụ này bao gồm: t
vấn phần mềm, tích hợp, cung cấp hệ thống, dịch vụ chuyên nghiệp về phần mềm,
gia công phần mềm, dịch vụ xử lý dữ liệu, huấn luyện và đào tạo
Theo tinh thần này, hoạt động xuất khẩu phần mềm phải đợc hiểu là xuất khẩu cả
sản phẩm lẫn dịch vụ phần mềm. Vì vậy, kể từ đây, trong phạm vi luận văn này,
nếu không có giải thích gì khác, xin đợc dùng khái niệm phần mềm để chỉ chung
cả sản phẩm lẫn dịch vụ phần mềm mỗi khi đề cập đến hoạt động sản xuất và xuất
khẩu phần mềm.
9
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
3.
Các hình thức xuất khẩu phần mềm
Xuất khẩu phần mềm (XKPM) đợc tiến hành dới bốn hình thức: gia công phần
mềm xuất khẩu, xuất khẩu phần mềm đóng gói, xuất khẩu phần mềm tại chỗ và
Thứ nhất, công ty nhận gia công chỉ thu đợc mức phí gia công nhỏ bé. Khoản
tiền này thờng chẳng là gì so với tổng lợi nhuận có đợc từ việc bán sản phẩm
cuối cùng.
Thứ hai, bên nhận gia công không đợc giữ bản quyền sản phẩm. Điều này về dài
hạn là không tốt đối với công ty nhận gia công bởi họ sẽ không đợc thị trờng
biết đến, hoặc chỉ biết đến nh một ngời làm thuê.
Cuối cùng, công ty nhận gia công thụ động từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ.
Khi tiềm lực còn nhỏ thì việc này là một u điểm bởi có thể học đợc công nghệ
mới, tận dụng đợc hệ thống phân phối của đối tác. Nhng trong dài hạn, việc chỉ
dừng lại ở gia công xuất khẩu sẽ làm mất tính năng động của công ty, làm công
ty xa rời thị trờng và giảm năng lực cạnh tranh.
3.2. Xuất khẩu phần mềm đóng gói
Xuất khẩu phần mềm đóng gói là việc công ty phần mềm trong nớc dựa trên các kết
quả nghiên cứu thị trờng của mình, lựa chọn sản xuất sản phẩm để tiêu thụ trên thị
trờng nớc ngoài. Khách hàng là ngời sử dụng cuối cùng còn công ty phần mềm là
ngời nắm giữ bản quyền sản phẩm.
Xuất khẩu phần mềm đóng gói có những u điểm mà gia công phần mềm không có
đợc. Đó là:
Ngời xuất khẩu không phải chia xẻ lợi nhuận với một ai. Đây là một u điểm
lớn so với gia công phần mềm xuất khẩu, hình thức xuất khẩu mà ngời nhận gia
công chỉ đợc nhận một khoản phí gia công nhỏ bé.
11
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Ngời xuất khẩu và ngời nhập khẩu tiếp xúc trực tiếp với nhau. Vì thế ngời
xuất khẩu nắm rất rõ tình hình thị trờng thế giới. Bản quyền sản phẩm làm ra lại
nằm trong tay ngời xuất khẩu nên nếu muốn phát triển vị thế của mình trên thị
trờng không gặp nhiều trở ngại nh công ty chỉ chuyên gia công phần mềm xuất
khẩu.
Những u điểm này có đợc là do công ty xuất khẩu phần mềm đóng gói đảm nhận
mọi công đoạn, từ khâu sản xuất phần mềm cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm. Nhng
mềm là một ngành kinh tế mới, có giá trị tăng cao, có nhiều triển vọng Nhà
nớc khuyến khích và u đãi tối đa việc phát triển công nghiệp phần mềm.
Cuối cùng, Quyết định số 95/2002/QĐ - Ttg ra ngày 17 tháng 7 năm 2002 khẳng
định: Xây dựng công nghiệp phần mềm thành một ngành kinh tế mũi nhọn, có
tốc độ tăng trởng trung bình hàng năm 30-35%.
Coi CNpPM là ngành kinh tế mũi nhọn không phải là ý muốn chủ quan mà hoàn
toàn mà là xu thế chung của thế giới. Mặc dù cho đến nay, trong cơ cấu của
CNpCNTT ngành công nghiệp của một công nghệ dàn trải, CNpPC vẫn chiếm tỷ
trọng lớn nhất nhng rất nhiều quốc gia trên thế giới coi CNpPM mới là mũi nhọn
của CNpCNTT. Sở dĩ vậy bởi phần cứng chỉ là cơ sở vật chất thiết bị ban đầu. Sau
khi đã trang bị khá đầy đủ ngời ta sẽ tập trung phát triển các ứng dụng trên cơ sở
vật chất kỹ thuật, thiết bị ban đầu đó và phải cần đến phần mềm. Hơn nữa, tỷ suất
13
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
lợi nhuận của các khoản đầu t trong lĩnh vực phần mềm là rất cao và đầu t vào phần
mềm không đòi hỏi vốn quá lớn. Tỷ suất này hiện nay gấp 5-7 lần tỷ suất lợi nhuận
trong các ngành công nghiệp khác. Tỷ lệ giá trị gia tăng trên doanh thu của các
công ty phần mềm lên tới 50-75%.
7
Thực tế hoạt động kinh doanh phát đạt của
nhiều công ty phần mềm nh Microsoft, Oracle trên thế giới đã chứng minh xu
thế này. Hy vọng trong một tơng lai không xa, thành quả này sẽ đến với Việt Nam
chúng ta.
Trong ngành kinh tế mũi nhọn này, hoạt động XKPM có vị trí nh thế nào? Nghị
quyết số 07/ 2000 NQ CP của chính phủ đã xác định: Bớc đầu, chú trọng hình
thức xuất khẩu qua gia công và cung cấp dịch vụ cho các công ty nớc ngoài.
Đồng thời mở rộng thị trờng trong nớc, trớc mắt tập trung phát triển phần mềm
trong một số lĩnh vực sớm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, thay thế các sản
phẩm phần mềm nhập khẩu. Nhanh chóng tổ chức xuất khẩu lao động phần
mềm và phần mềm đóng gói để công nghiệp phần mềm của Việt Nam từng bớc
năng thực sự của Việt Nam. Hy vọng trong tơng lai không xa, XKPM Việt Nam sẽ
khẳng định đợc vị trí mũi nhọn của mình.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực của Việt Nam
(1995-2002)
Đơn vị: triệu USD
Ngành 1995 1999 2000 2001 2002
Dệt may 850,0 1746,2 1891,9 1975,4 2752,0
Giày dép 296,4 1387,1 1471,7 1587,4 1867,0
Thủy sản 621,4 973,6 197,5 1816,4 2023,0
Rau quả tơi và chế biến 56,1 106,6 213,1 344,3 201,0
Nguồn : Niên giám thống kê năm 2002 (tramg 376 377) -NXB Thống kê
15
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
2.
Vai trò của hoạt động XKPM trong nền kinh tế quốc
dân Việt Nam
2.1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
CNH là nấc thang tất yếu trong quá trình phát triển của mọi quốc gia. Thực chất
đây là một quá trình chuyển lao động thủ công thành lao động máy móc trên quy
mô toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nội dung cơ bản của nó là tạo lập cơ sở vật chất
kỹ thuật và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế ứng với mỗi trình độ của cơ
sở vật chất kỹ thuật đã đạt đợc.
Khái niệm CNH đối với nhiều nớc đã thuộc về quá khứ. Nhng cũng với nhiều nớc,
CNH còn mới bắt đầu hoặc đang đợc tiến hành. Việt Nam là một trong những nớc
nh vậy, dù ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (3/60), Đảng ta đã xác định
CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ ở nớc ta.
Vào giai đoạn đầu tiến hành CNH này, chúng ta áp dụng cơ chế quản lý hành chính
quan liêu bao cấp và kế hoạch hóa tập trung trong nền kinh tế quốc dân. Mọi ngời
đều quen và chấp nhận lối sống bình quân, thậm chí có ngời còn coi sự giàu có là
tiên quan tâm, là một trong những cách đi tắt đón đầu để thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nớc
Có vị trí ngang với hoạt động bán hàng trong nớc trong cơ cấu CNpPM nhng hoạt
động XKPM do cho phép chúng ta tiếp cận với thị trờng thế giới nên rất gần với
hoạt động chuyển giao công nghệ. Vì thế, có thể nói XKPM là một trong những
cách đi tắt đón đầu để thực hiện CNH - HĐH đất nớc.
9
Văn kiện hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW khóa VIII, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1997, trang 223.
17
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
2.2. Hỗ trợ Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Không một quốc gia nào trên thế giới ngày nay, từ nớc giàu nhất cho đến nớc
nghèo nhất có thể khớc từ, không tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế. Việt
Nam cũng vậy. Tại Đại hội Đảng IX Đảng CSVN, Đảng ta đã tuyên bố: Thực
hiện nhất quán đờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phơng hóa, đa
dạng hóa các quan hệ kinh tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của
các nớc trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển
Phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.
Vậy XKPM có vai trò nh thế nào trong quá trình hội nhập quốc tế của nớc ta?
Trớc hết, đổi mới khoa học công nghệ đợc xác định là một trong số những nhiệm
vụ quan trọng trong quá trình hội nhập. Nghị quyết số 07 NQ/TW ra ngày 27/
11/ 2001 của Bộ Chính Trị ghi rõ: Chủ động và khẩn trơng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý để nâng cao khả năng cạnh
tranh, phát huy tối đa lợi thế so sánh của nớc ta Trong quá trình hội nhập,
cần tranh thủ những tiến bộ mới của khoa học công nghệ.
Thứ đến, dù cả một quốc gia, hay chỉ là một doanh nghiệp, khi đã hội nhập vào nền
kinh tế toàn cầu, để tồn tại và phát triển đợc thì điều kiện đầu tiên cần là năng lực
cạnh tranh gồm cả năng lực cạnh tranh sản phẩm và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Năng lực cạnh tranh sản phẩm của mỗi doanh nghiệp chịu ảnh hởng của hai nhóm
2003.
19
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
2.3. Góp phần giải quyết bài toán lao động
Là một đòn bẩy thúc đẩy công cuộc đổi mới của nớc ta, CNPM nói chung và
XKPM nói riêng đã và đang nhận đợc sự đầu t thích đáng của nhà nớc. Sự đầu t này
nhằm nâng cao chất lợng vật lực lẫn nhân lực. Chỉ thị số 58/ CT/ TW của Bộ Chính
trị đã khẳng định: Đến năm 2005, ít nhất phải đào tạo thêm đợc 50.000 chuyên
gia về CNTT ở các trình độ khác nhau, đạt chỉ tiêu về số lợng (tính trên 10.000
dân) và chất lợng chuyên gia trong lĩnh vực CNTT ngang với mức bình quân
của các nớc trong khu vực. Trong số 50.000 chuyên gia về CNTT này cần đảm
bảo 25.000 chuyên gia về CNPM. Định hớng này có vai trò đáng kể trong việc tìm
đầu ra cho lao động Việt Nam. Không ai không biết Việt Nam là một nớc có tỷ lệ
xóa nạn mù chữ cao, có cơ cấu lao động trẻ, ngời lao động Việt Nam cần cù, chịu
khó. Song chất lợng lao động Việt Nam vẫn không cao, ngời lao động Việt Nam
vẫn không đáp ứng đợc yêu cầu của những công việc trong lĩnh vực công nghệ cao.
Vì vậy, việc nhà nớc đầu t cho việc phát triển nhân lực trong lĩnh vực CNTT và
CNPM là một cú hích nhằm nâng cao chất lợng lao động Việt Nam. Việc này, đến
lợt nó lại góp phần giải quyết nạn thất nghiệp, giải quyết đầu ra cho lao động Việt
Nam bởi chỉ lao động có chất lợng cao, đợc đào tạo đúng hớng mới đáp ứng đợc
nhu cầu trên thị trờng lao động hiện nay nhu cầu về lao động chất xám. Bảng 2
chứng minh điều này. Trong suốt giai đoạn 1996 2002, số ngời làm phần mềm
luôn tăng với tốc độ lớn hơn hẳn tốc độ tăng của lực lợng lao động cả nớc Việt
Nam.
20
Thực trạng và triển vọng xuất khẩu phần mềm ở Việt Nam
Bảng 2: Lao động Việt Nam trong lĩnh vực khoa học công nghệ và phần
mềm giai đoạn 1996 - 2002.
Đơn vị: Nghìn ngời
Năm