Tổ chức dạy học chương “động lực học chất điểm” vật lý 10 ban cơ bản gắn với thực tiễn nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao hiệu quả của việc dạy học - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Phạm Thị Thu Hằng

TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC
HỌC CHẤT ĐIỂM”- VẬT LÝ 10 BAN CƠ BẢN
GẮN VỚI THỰC TIỄN NHẰM TẠO HỨNG THÚ
HỌC TẬP CHO HỌC SINH VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CỦA VIỆC DẠY HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Vật lý
Mã số

: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009


Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong một công trình khoa học nào.

Tác giả
Phạm Thị Thu Hằng

:

giáo viên

HS

:

học sinh

TN

:

thực nghiệm

TNSP

:

thực nghiệm sư phạm

SGK

:

sách giáo khoa

PHT


học môn vật lý càng ngày càng tăng lên. Nếu như HS học mà vận dụng được
những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống thì các em sẽ thích học hơn và thấy
rằng việc học tập rất có ích cho bản thân.
Bên cạnh phương pháp giảng dạy của GV thì đối với HS ở vùng sâu vùng
xa, đa số HS chỉ học tập và tham khảo sách giáo khoa, kiến thức chưa vượt ra khỏi
chương trình, các kiến thức chỉ thể hiện dưới dạng công thức định luật, chưa dùng
để giải quyết các vấn đề thực tiễn cũng góp phần làm cho HS sợ học môn học này.
Do đó ở điều 28, yêu cầu về nội dụng phương pháp giáo dục phổ thông mục tiêu
giáo dục phổ thông, tại khóa XI kỳ họp thứ 7 từ ngày 5 tháng 5 đến ngày 14 tháng 6
năm 2005 có nêu rõ: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh.[50]
Việc đổi mới phương pháp dạy học không những chỉ có ở người giáo viên
mà cả người học cũng phải nỗ lực rất nhiều trong quá trình học tập, vận dụng và


chiếm lĩnh kiến thức. Giáo viên và học sinh phải xóa bỏ những thói quen thầy dạy,
trò thụ động chờ đến giờ lên lớp mới lúc đó học những kiến thức mới, mà không có
sự suy nghĩ tìm tòi để giải quyết một nhiệm vụ trước đó đã đặt ra.
Cách đánh giá kết quả học tập của HS còn mang tính truyền thống bằng cách
kiểm tra miệng để trả bài cũ cùng một số kiểm tra giấy mà không dựa trên những
sáng kiến và khả năng liên hệ thực tiễn của HS.
Chính những cơ sở trên nên chúng tôi chọn đề tài: Tổ chức dạy học chương
“Động lực học chất điểm”- vật lí 10 Ban cơ bản gắn với thực tiễn nhằm tạo
hứng thú học tập cho học sinh và nâng cao hiệu quả của việc dạy học làm đề tài
nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học chương “Động lực học chất điểm” ( Vật lý 10Cơ Bản) gắn với thực tiễn nhằm tạo hứng thú cho học sinh đồng thời nâng cao hiệu

- Nghiên cứu, khai thác tài liệu liên quan đến việc thiết kế dạy học gắn với
thực tiễn.
- Chọn mẫu và thực nghiệm sư phạm ở trường THPT thuộc tỉnh Long An để
kiểm tra giả thuyết.
 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để trình bày kết quả thực nghiệm
sư phạm và kiểm định giả thuyết thống kê về sự khác biệt trong kết quả học tập của
hai nhóm đối chứng và thực nghiệm.
6. Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu: Mục tiêu
Mục tiêu giáo dục
Nội dung chương trình và phương pháp dạy vật lý THPT
Việc vận dụng lí luận của dạy học hiện đại vào dạy học để tổ chức hoạt động
học tập cho học sinh ở trường THPT.
 Khách thể nghiên cứu
Lí luận và thực tiễn dạy học ở trường THPT.


7. Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu việc tổ chức hoạt động học tập vật lý gắn với thực tiễn nhằm tạo
hứng thú trong học tập cho HS và nâng cao hiệu quả của việc dạy học trong
chương “Động lực học chất điểm” vật lý 10 Ban cơ bản.
8. Cấu trúc luận văn
Luận văn có cấu trúc như sau:
Mở đầu
Nội dung
Chương 1- Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2- Xây dựng tiến trình dạy học chương “Động lực học chất
điểm” vật lý 10 Ban cơ bản gắn với thực tiễn
Chương 3- Thực nghiệm sư phạm

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, trong giai đoạn nước ta đang mở cửa hội
nhập với cộng đồng quốc tế rộng lớn, mục tiêu giáo dục đã cụ thể hóa thêm một số
điểm cho phù hợp với tình hình mới:
+ Coi trọng giáo dục tư tưởng, đạo đức, coi đó là nền tảng nhân cách của con
người mới.
+ Bên cạnh việc bồi dưỡng năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại,
phải chú trọng gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
+ Một mặt phải học để nắm vững và làm chủ tri thức khoa học và công nghệ
hiện đại mà nhân loại đã tích lũy được; mặt khác lại phải có tư duy sáng tạo,


phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, tìm ra những cách
làm mới phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của đất nước để đưa đất nước tiến lên.
+ Người lao động mới vừa phải có ý thức cộng đồng, tinh thần tập thể vì sự
nghiệp chung hợp tác giúp đỡ lẫn nhau, vừa phải phát huy tính tích cực cá
nhân, năng động, chủ động, đem hết tài năng, trí tuệ, sức lực của mình cống
hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[36]
Như vậy mục tiêu giáo dục ở nước ta không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến
thức, bồi dưỡng năng lực sáng tạo ra tri thức mới mà còn rèn luyện cho HS những
kỹ năng sống để có thể đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong từng giai đoạn.
1.1.2. Mục tiêu giáo dục môn học vật lý THPT hiện nay
Mục tiêu giáo dục thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất
nước nên mục tiêu giáo dục ở nhà trường cũng phải bám sát và có những điều chỉnh
cho phù hợp. Nên dạy học vật lý ở cấp THPT hiện nay nhằm giúp HS:
- Đạt được một hệ thống kiến thức Vật lý phổ thông, cơ bản và phù hợp với
những quan điểm hiện đại, bao gồm:
+ Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp
trong đời sống và sản xuất.
+ Các đại lượng, các định luật và nguyên lý vật lý cơ bản.
+ Những nội dung chính của một số thuyết vật lý quan trọng nhất.

+ Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lý vào đời sống nhằm cải thiện điều
kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự
nhiên.[5]
1.2. Cơ sở tâm lý học của việc dạy học gắn với thực tiễn
1.2.1. Mô hình giáo dục hướng vào người học [33]
1.2.1.1. Dạy học hướng vào người học
Để thực hiện yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường
những năm gần đây có rất nhiều những thuật ngữ cũng như khái niệm “phương
pháp tích cự hóa, phương pháp hợp tác, ….đặc biệt là “lấy học sinh làm trung tâm”
được chú ý đến nhiều nhất. Để chuyển từ “ người dạy làm trung tâm” sang “người


học làm trung tâm” có rất nhiều ý kiến khác nhau, nhưng người đầu tiên phải kể đến
J.Dewey (Mỹ), đầu thế kỷ XX, ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “dạy học
hướng vào người học”. Quan điểm của ông như sau: “Trong dạy học hướng vào
người dạy”, các chuẩn, nội dung và phương được quyết định bởi người dạy chứ
không phải người học. Mức độ tham gia của HS vào việc quyết định các quá trình
và mục đích tối thiểu. Mục đích bao trùm là đảm bảo cho họ nắm được những gì ghi
trong sách và những suy nghĩ của thầy mà chủ yếu là thông qua giao tiếp bằng lời.
Còn “dạy học hướng vào người học” phải giải quyết vấn đề dạy học như thế
nào để HS không những nắm vững tri thức khoa học, có kỹ năng một cách hoàn
toàn tự giác, hứng thú và sáng tạo, đảm bảo cho học sinh phân tích, xử lý kinh
nghiệm của mình, khuyến khích người học trở nên biết chủ động và tự chịu trách
nhiệm nhiều hơn. Các kỹ năng được tích lũy không phải bằng luyện tập và ghi nhớ
vẹt mà bằng những hoạt động mà người học tự tiến hành với sự giúp đỡ của thầy để
đáp ứng những lợi ích và nhu cầu của mình. Và theo ông : giáo dục chính là cuộc
đời chứ không phải là nơi chuẩn bị vào đời. Trong “dạy học lấy học sinh làm trung
tâm còn cho rằng hệ thống kiến thức lý thuyết chưa đủ đáp ứng mục tiêu chuẩn bị
cho cuộc sống. Cần chú trọng các kỹ năng thực hành vận dụng các kiến thức lý
thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề thực tiễn”[16] với phương

trường.
Quan điểm của Pavlov và Skinner được vận dụng bổ sung cho nhau. Quan
niệm của Skinner gần với cách hiểu “lấy người học làm trung tâm” hơn, tuy nhiên
rất khó vận dụng vào những nhiệm vụ học tập phức tạp. Vì dạy học là một quá trình
phức tạp, khó có một học thuyết nào được áp dụng đúng nhất.
* Cơ sở tâm lý học
Nhà trường với những yêu cầu chặt chẽ, hoạt động tự nhiên, xây dựng cho HS
những hứng thú cá nhân. Trường học cổ truyền biến mọi hoạt động thành cơ chế
cưỡng ép. Trường học đổi mới hiện đại thì các hoạt động đó bổ sung cho nhau, có
sự cưỡng ép của người lớn và sự hợp tác của trẻ em. Nếu đáp ứng được tâm lý hưng
phấn tự nhiên của trẻ thì sự cưỡng ép sẽ có kết quả tích cực hơn.


Khổng Tử cũng từng khuyên học trò của mình: “biết mà học không bằng thích
mà học, thích mà học không bằng vui mà học”. Còn người Pháp thì lại rất dí dỏm:
“niềm vui là linh hồn của giáo dục”.
Trong quá trình học tập động cơ học tập ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình học
tập. Động cơ ảnh hưởng đến thái độ, niềm tin, tình cảm, của việc học của HS, mặc
khác động cơ và tình cảm còn ảnh hưởng đến chất lượng trong quá trình tư duy.
Tình cảm ảnh hưởng đến hứng thú học tập và quyết định đến động cơ cũng như quá
trình học tập của HS.
1.2.2. Xu hướng đưa thực tiễn cuộc sống vào dạy học
Mọi vấn đề thực tiễn trong cuộc sống điều liên quan đến tất cả các lãnh vực,
cũng khó có vấn đề nào chỉ giải quyết trọn vẹn bằng kiến thức của một lãnh vực.
Sự bùng nổ của khoa học và công nghệ, xã hội càng phát triển, yêu cầu phải
đào tạo những con người không những biết mà còn phải có kỹ năng sống.
Bên cạnh đó, để trả lời hàng loạt các câu hỏi: Làm thế nào để HS học được
những kiến thức dù là cổ điển vẫn hấp dẫn và có ý nghĩa trong cuộc sống hôm nay?.
Làm thế nào để HS tìm thấy sự thích ứng của mình trong quá trình học tập vậy lý?.
Làm thế nào để phát triển hiểu biết của HS trong quá trình học tập?. Hay làm thế

HS, tuy nhiên trong một hai năm trở lại đây cũng được đề cập, nhưng vẫn
với một mức độ còn hạn chế.
Các trường nông thôn đa số còn thiếu GV nên phải dạy rất nhiều lớp cũng như
khối lớp nên trong điều kiện đó các mô hình học tập mới khó mà áp dụng, mặt khác
số lượng HS trên một lớp rất đông nên không thể nào tổ chức một cách rập khuôn,
máy móc theo một mô hình học tập nào đó. Các mô hình học tập dù rất tiên tiến,
điều có xu hướng đưa thực tiễn vào trong quá trình dạy học nhưng khó có thể áp
dụng trong thực tiễn, khó để biên soạn SGK, hay tài liệu tham khảo, bên cạnh đó,
nó còn tùy thuộc vào điều kiện của từng vùng miền, mối quan tâm của cuộc sống
trong từng giai đoạn khác nhau,… nên trong những điều kiện của chúng ta và nhất
là đối với những HS ở vùng nông thôn thì khó mà áp dụng, chính vì vậy mỗi GV
cần nghiên cứu để ứng dụng việc dạy học gắn với thực tiễn cho phù hợp với điều


kiện của từng vùng, từng đơn vị công tác.
1.3. Hứng thú và sự cần thiết phải tạo hứng thú trong học tập
1.3.1. Khái niệm hứng thú [37]
Theo quan điểm duy vật biện chứng hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn
có trong mỗi cá nhân mà là kết quả hình thành và phát triển nhân cách, nó phản ánh
một cách khách quan thái độ đang tồn tại của con người. Khái niệm hứng thú được
xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau như:
+ Theo khía cạnh nhận thức
- V.N.Miasixep, V.G.Ivanôp, A.Gackhipop coi hứng thú là thái độ nhận thức
tích cực của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan.
- A.A. Luiblinxcaia đã khẳng định hứng thú là thái độ nhận thức, thái độ khao
khát đi sâu vào một khía cạnh nhất định của thế giới xung quanh.
+ Theo sự lựa chọn của cá nhân đối với thế giới khách quan
- X.L. Rubinstêin đưa ra tính chất hai chiều trong mối quan hệ tác động qua lại
giữa đối tượng với chủ thể. Nếu như một vật nào đó mà tôi chú ý có nghĩa là vật đó
rất thích thú đối với tôi.

những đối tượng những tình huống hành động quan trọng có ý nghĩa đối với mình.
Tóm lại: hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng được các nhà tâm lý
nghiên cứu và chỉ ra tính phức tạp, xem xét nó trong mối quan hệ với các thuộc
tính khác của nhân cách như nhu cầu, cảm xúc, …
+ Ở Việt Nam, hứng thú được các nhà tâm lý học quan tâm tìm hiểu và đưa ra
một số khái niệm không giống nhau.
- Theo Nguyễn Quang Uẩn, trong tâm lý học đại cương, hứng thú là thái độ
đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống,
vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động. Khái
niệm này vừa nêu được bản chất của hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động cá
nhân.
- Nhóm tác giả Phạm Minh Hạc - Lê Khanh - Trần Trọng Thủy cho rằng: khi
ta có hứng thú về cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức và hiểu ý nghĩa


của nó đối với cuộc sống của ta. Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối
với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra
tâm lý khao khát tiếp cận đi sâu vào nó.
- Nhiều nhà tâm lý cho rằng: hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân với
đối tượng thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và
có sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng.
- Theo Đại Từ Điển Tiếng Việt [42], hứng thú có hai nghĩa: “Biểu hiện của một
nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy
động sinh lực để cố gắng thực hiện” và “sự ham thích”.
Như vậy, hứng thú là thái độ của cá nhân đối với một đối tượng hay một quá
trình nào đó đã đem lại khoải cảm, thích thú và tác động tích cực đến mỗi cá nhân
đòi hỏi họ phải tìm mọi cách để thực hiện. Chính vì thế gây hứng thú học tập cho
HS là một việc làm cần được GV quan tâm giúp HS yêu thích, say mê với môn học
là một việc làm rất quan trọng, nó góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy học.
1.3.2. Sự cần thiết của việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập

thực hành) khi không hứng thú tham gia các hoạt động”

[32]

, trong dạy học việc

hứng thú trong học tập là một việc làm hết sức cần thiết.
Muốn HS ngày càng hứng thú, và để tạo hứng thú cho HS trong học tập, điều
này nằm trong tầm tay của mỗi GV, GV dù có kiến thức rộng, năng lực chuyên
môn cao mà không biết khơi dậy hứng thú học tập cho HS thì kết quả sẽ bị hạn chế.
Mặt khác, quá trình dạy học có tính hai mặt: GV truyền thụ kiến thức đến HS đồng
thời HS tiếp nhận một cách tích cực, chủ động có chọn lọc. Nếu như GV không
khơi gợi sự hứng thú, say mê cho HS thì họ sẽ tiếp nhận tri thức mang tính ép buộc;
kiến thức mà GV truyền đạt chưa biến thành động cơ học tập của HS. Việc tích cực
đưa các hiện tượng tự nhiên gần gũi với cuộc sống của người học vào trong bài dạy
dưới nhiều hình thức để họ cảm nhận được: “thực tiễn rất rộng lớn, nhưng con
người hứng thú những cái gì cần thiết, quan trọng gắn liền với kinh nghiệm và sự
phát triển trong tương lai của họ”

[41]

, cụ thể như là các thí dụ về ứng dụng vật lý

trong cuộc sống, cũng có thể là vận dụng các kiến thức vừa học để giải thích các
hiện tượng tự nhiên.


Hứng thú học tập còn là hoạt động có tính chọn lọc và mang tính định hướng
cá nhân, nó kích thích và lựa chọn những cách thức làm việc độc lập mở rộng, đào
sâu kiến thức, làm xuất hiện sự say mê đối với môn học giúp HS quên đi những lo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status