Luận văn hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại trường cao đẳng sư phạm trung ương TP HCM - Pdf 38

z



LUẬN VĂN
Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
trường cao đẳng sư phạm trung ương TP
HCM


Trang 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của kiểm soát nội bộ
1.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của các lý thuyết kiểm soát nội bộ
Trong một tổ chức, luôn có sự mâu thuẫn lợi ích: giữa lợi ích cá nhân với lợi
ích tập thể, lợi ích của người lao động với lợi ích chủ doanh nghiệp… Để dàn xếp các
mâu thuẫn này cần phải đặt ra quy định để kiểm soát ràng buộc…sao cho cá nhân
không vì lợi ích riêng tư mà làm tổn hại đến lợi ích tập thể, người lao động không từ
bỏ lợi ích cá nhân mà vẫn không làm tổn hại đến lợi ích chủ doanh nghiệp…
Để thực hiện chức năng kiểm soát, nhà quản lý sử dụng công cụ chủ yếu là
kiểm soát nội bộ (KSNB) của đơn vị. Nhìn dưới góc độ chủ động phòng ngừa, ngăn
chặn sai phạm và yếu kém, một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ góp phần quan trọng cho
việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu về
kiểm toán. Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán công và kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ
đã xuất bản một loạt các báo cáo, hướng dẫn và tiêu chuẩn về tìm hiểu KSNB trong
các cuộc kiểm toán.
Đến thập niên 1970, KSNB được quan tâm đặc biệt trong các lĩnh vực thiết kế
hệ thống và kiểm toán, chủ yếu hướng vào cách thức cải tiến hệ thống KSNB và vận
dụng trong các cuộc kiểm toán. Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài 1977, các

KSNB trong ngân hàng
Phát triển theo hướng quốc gia: nhiều quốc gia trên thế giới có khuynh hướng
xây dựng một khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, điển hình là báo cáo
COSO 1995 (Canada), báo cáo Turnbull 1999 (Anh).
1.1.2 Lịch sử ra đời và phát triển của KSNB trong khu vực công
Trong lĩnh vực công, KSNB rất được xem trọng, nó là một đối tượng được
quan tâm đặc biệt của kiểm toán viên nhà nước.
Một số quốc gia như Mỹ, Canada đã có những công bố chính thức về KSNB
áp dụng cho các cơ quan hành chính sự nghiệp. Chuẩn mực về kiểm toán của Tổng kế
toán nhà nước Hoa Kỳ (GAO) 1999 có đề cập đến vấn đề KSNB đặc thù trong tổ
chức hành chính sự nghiệp. GAO đưa ra năm yếu tố về KSNB bao gồm các quy định
về môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền
thông, giám sát.
Về kiểm toán nhà nước, hệ thống chuẩn mực kiểm toán nhà nước do Tổ chức
quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) ban hành bao gồm quy tắc đạo đức
nghề nghiệp và chuẩn mực kiểm toán.


Trang 3

Năm 1992, bản Hướng dẫn về chuẩn mực KSNB của INTOSAI đã hình thành
một tài liệu đề cập đến việc nâng cấp các chuẩn mực KSNB, hỗ trợ cho việc thực hiện
và đánh giá KSNB.
Năm 2001, bản hướng dẫn của INTOSAI 1992 đã cập nhật thêm về các chuẩn
mực KSNB để phù hợp với tất cả các đối tượng và phù hợp với sự phát triển gần đây
trong KSNB. Điều cần lưu ý là tài liệu này đã tích hợp các lý luận chung về KSNB
của báo cáo COSO.
Bên cạnh việc cải thiện định nghĩa KSNB và xây dựng một sự hiểu biết thông
thường về KSNB, tài liệu của INTOSAI trình bày những vấn đề đặc thù về khu vực
công.

Mục tiêu của tài liệu này là thiết lập và duy trì KSNB hữu hiệu trong khu vực
công. Vì vậy, các lãnh đạo của Chính phủ rất quan tâm đến tài liệu này. Các nhà lãnh
đạo các tổ chức của nhà nước xem tài liệu này là một nền tảng để thực hiện và giám
sát KSNB trong tổ chức.
1.2.2 Các yếu tố của hệ thống KSNB theo INTOSAI
Tương tự như báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra năm yếu tố của KSNB, gồm:
môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền
thông; và giám sát.
1.2.2.1 Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát đã tạo nên một sắc thái chung cho một tổ chức, ảnh
hưởng đến ý thức kiểm soát của các nhân viên. Môi trường kiểm soát là nền tảng cho
tất cả các yếu tố khác trong KSNB, tạo lập một nền nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu
tổ chức. Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
Sự liêm chính và giá trị đạo đức:
Sự liêm chính và tôn trọng giá trị đạo đức của nhà lãnh đạo và đội ngũ nhân
viên xác định thái độ cư xử chuẩn mực trong công việc của họ, thể hiện qua sự tuân
thủ các điều lệ, quy định và đạo đức về cách thức ứng xử của cán bộ công chức nhà
nước. Thí dụ như công khai tài sản, các vị trí kiêm nhiệm công việc bên ngoài, quà
tặng và báo cáo các mâu thuẫn về lợi ích.
Đồng thời, phải cho công chúng thấy được tinh thần này trong sứ mạng và tiêu
chuẩn đạo đức của tổ chức công thông qua các văn bản chính thức.
Năng lực nhân viên:
Năng lực nhân viên bao gồm trình độ hiểu biết và kỹ năng làm việc cần thiết
để đảm bảo việc thực hiện có kỷ cương, trung thực, tiết kiệm, hiệu quả và hữu hiệu,


Trang 5

cũng như có sự am hiểu đúng đắn về trách nhiệm của bản thân trong việc thiết lập hệ
thống KSNB


Trang 6

Trong cơ cấu tổ chức cũng bao gồm bộ phận kiểm toán nội bộ, ban kiểm soát,
bộ phận thanh tra, kiểm tra được tổ chức độc lập với các đối tượng kiểm toán và báo
cáo trực tiếp đến lãnh đạo cao nhất trong cơ quan.
Chính sách nhân sự:
Chính sách nhân sự bao gồm việc tuyển dụng, huấn luyện, giáo dục, đánh giá,
bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật, hướng dẫn nhân viên.
Mỗi cá nhân đóng vai trò quan trọng trong KSNB. Khả năng, sự tin cậy của
nhân viên rất cần thiết để kiểm soát được hữu hiệu. Vì vậy, cách thức tuyển dụng,
huấn luyện, giáo dục, đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng hay kỷ luật là một phần quan
trọng trong môi trường kiểm soát. Nhân viên được tuyển dụng phải bảo đảm được về
tư cách đạo đức cũng như kinh nghiệm để thực hiện công việc được giao.
Nhà lãnh đạo cần thiết lập các chương trình động viên, khuyến khích bằng các
hình thức khen thưởng và nâng cao mức khuyến khích cho các hoạt động cụ thể.
Đồng thời, các hình thức kỷ luật nghiêm khắc cho các hành vi vi phạm cũng cần được
các nhà lãnh đạo quan tâm.
Các yếu tố của môi trường kiểm soát được mô tả bằng sơ đồ:
Năng lực
nhân viên

Cơ cấu tổ
chức
Chính sách
nhân sự

1.2.2.2 Đánh giá rủi ro
KSNB phục vụ để đạt mục tiêu tổ chức, việc đánh giá rủi ro là rất quan trọng
vì nó ghi nhận các sự kiện quan trọng đe dọa đến mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị.

đánh giá rủi ro một cách có hệ thống. Ví dụ, phải xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi
ro, sau đó sắp xếp thứ tự các rủi ro, dựa vào đó nhà lãnh đạo sẽ phân bổ nguồn lực
đối phó rủi ro.
Phát triển các biện pháp đối phó
Có bốn biện pháp đối phó với rủi ro: phân tán rủi ro, chấp nhận rủi ro, tránh né
rủi ro và xử lý hạn chế rủi ro. Trong phần lớn các trường hợp các rủi ro phải được xử
lý hạn chế và đơn vị duy trì KSNB để có biện pháp thích hợp, bởi vì đơn vị của nhà
nước phải làm theo nhiệm vụ được giao. Các biện pháp xử lý hạn chế rủi ro ở mức độ
hợp lý vì mối liên hệ giữa lợi ích và chi phí nhưng nếu nhận dạng được và đánh giá
được rủi ro thì có sự chuẩn bị tốt hơn.


Trang 8

Khi môi trường thay đổi như các điều kiện về kinh tế, chế độ của nhà nước,
công nghệ, luật pháp sẽ làm rủi ro thay đổi thì việc đánh giá rủi ro cũng nên thường
xuyên xem xét lại, điều chỉnh theo từng thời kỳ
1.2.2.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và những thủ tục đối phó rủi ro và
đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của đơn vị. Để đạt được hiệu quả, hoạt động
kiểm soát phải phù hợp, nhất quán giữa các thời kỳ, dễ hiểu, đáng tin cậy và liên hệ
trực tiếp đến mục tiêu kiểm soát. Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ
chức, ở các mức độ và các chức năng. Hoạt động kiểm soát bao gồm kiểm soát phòng
ngừa và phát hiện rủi ro.
Cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa là phối hợp các hoạt
động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm soát.
Thủ tục phân quyền và xét duyệt
Việc thực hiện các nghiệp vụ chỉ được thực hiện bởi người được ủy quyền theo
trách nhiệm và phạm vi của họ. Ủy quyền là một cách thức chủ yếu để đảm bảo rằng
chỉ có những nghiệp vụ có thực mới được phê duyệt đúng mong muốn của người lãnh

để tham ô tài sản

Xét
duyệt

Bảo vệ
tài sản

Ngăn ngừa việc
ghi nhận sai để
che dấu tài sản
mất mát

Nếu

các

chức năng trên tập
trung ở một người
sẽ phát sinh tiêu
cực, người tốt sẽ
có cơ hội phạm tội
vì điều kiện quá dễ
dàng để thực hiện
hành vi gian lận
Để

ngăn

chặn các sai phạm

Bảo vệ tài
sản

một

Tài sản của

một số trường

cách

một tổ chức không

hợp đơn vị có

thích

chỉ là tiền, hàng

quy

nhỏ,

hợp

hóa, máy móc thiết

công việc từng

giúp

để

thực hiện việc

chép

phân chia trách

chính

nhiệm, khi đó

xác và

nhà

đầy đủ

lãnh

đạo

phải nhận biết

tất

được rủi ro và sử

các dữ


chuyển
viên

đảm

bảo

từ

rằng một người

sổ

không xử lý mọi

sách

mặt nghiệp vụ

cần

trong thời gian

đơn

dài.

giản

cả

Bảo quản và ghi chép về tài sản, bao gồm cả thông tin
Giới hạn việc tiếp cận với tài sản
Giữ tài sản ở nơi riêng biệt, đảm bảo an toàn, bảo quản con dấu và chữ ký
khắc sẵn (nếu có)
Kiểm tra, đối chiếu:
Các nghiệp vụ và sự kiện phải được kiểm tra trước và sau khi xử lý. VD: phải
kiểm tra hàng hóa trước khi nhập kho…Sổ sách được đối chiếu với các chứng từ
thích hợp để kịp thời phát hiện và xử lý các sai sót.
1.2.2.4 Thông tin và truyền thông
Thông tin trong một tổ chức được nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình ra
quyết định điều khiển các hoạt động của đơn vị. Như vậy không phải bất kỳ tin tức
nào cũng trở thành thông tin cần thiết mà nó phải đáp ứng được các yêu cầu:
Tính chính xác: thông tin phải phản ánh đúng bản chất nội dung tình huống.
Tính kịp thời: thông tin được cung cấp đúng lúc, đúng thời điểm theo yêu cầu
của các nhà quản trị.
Tính đầy đủ và hệ thống: thông tin phải phản ánh đầy đủ mọi khía cạnh của
tình huống giúp người sử dụng có thể đánh giá vấn đề một cách toàn diện
Tính bảo mật: đòi hỏi thông tin phải được cung cấp đúng người phù hợp với
quyền hạn và trách nhiệm của họ
Thông tin được cung cấp qua hệ thống thông tin. Trong đó, hệ thống thông tin
kế toán là một phân hệ quan trọng. Ngoài ra các phân hệ thông tin khác như lưu trữ,
tra cứu cũng rất cần thiết đối với KSNB vì nó cung cấp cơ sở cho những nhận định,
phân tích tình hình hoạt động, về những rủi ro và những cơ hội liên quan đến hoạt
động của đơn vị. Thông tin có thể thu thập từ nhiều nguồn: từ internet, từ số liệu của
các cơ quan chức năng, từ báo đài hoặc tự tổ chức mạng lưới thu thập…
Truyền thông là một phần của hệ thống thông tin nhưng được nêu ra để nhấn
mạnh vai trò của việc truyền đạt thông tin. Các kênh truyền thông bao gồm truyền
thông từ từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp dưới phản hồi lên cấp trên, trao đổi giữa
các bộ phận trong tổ chức, giữa tổ chức với các đối tượng bên ngoài…
1.2.2.5 Giám sát

KSNB được thế giới đặc biệt quan tâm đến kể từ những năm 70 của thế kỷ XX
sau hàng loạt các vấn đề về tài chính và chính trị xảy ra ở Hoa kỳ. Báo cáo COSO ra
đời tạo nền tảng lý luận cơ bản về KSNB, trên cơ sở đó, tổ chức INTOSAI đã trình
bày vấn đề đặc thù của KSNB trong khu vực công.
Tương tự báo cáo COSO, INTOSAI đưa ra 5 yếu tố của HTKSNB, bao gồm:
Môi trường kiểm soát
Đánh giá rủi ro
Các hoạt động kiểm soát
Thông tin và truyền thông
Giám sát
Các yếu tố này chính là tiêu chí đánh giá sự hữu hiệu của hệ thống, chúng tác
động qua lại lẫn nhau. Một HTKSNB hoạt động hữu hiệu có thể ngăn ngừa và phát
hiện những sai phạm, yếu kém trong hoạt động của tổ chức.
KSNB nhằm đạt các mục tiêu:
Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả.
Đảm bảo tính trung thực và đáng tin cậy của báo cáo tài chính.
Tuân thủ các luật lệ và quy định.


Trang 13

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRUNG ƯƠNG TP. HỒ CHÍ MINH
2.1 Một số vấn đề trong giáo dục đại học Việt Nam hiện nay có tác động đến hệ
thống kiểm soát nội bộ của các cơ sở giáo dục.
2.1.1 Xã hội hóa giáo dục và toàn cầu hóa giáo dục đại học:
Ở nước ta hiện nay, nhu cầu học đại học đang trong giai đoạn gia tăng mạnh

mẽ. Vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội đang được quan tâm, các đơn vị giáo dục
đang cố gắng quan tâm đến người học để thu hút đầu vào. Làn sóng du học sinh ồ ạt

Thực hiện theo Quyết định 43/2007/QĐBGD&ĐT ngày 15/08/2007 của Bộ
trưởng Bộ GD&ĐT, các cơ sở đào tạo sẽ triển khai áp dụng đồng loạt chương trình
đào tạo theo học chế tín chỉ kể từ năm học 20102011. Do đó yêu cầu phải thay đổi
công tác quản lý trong hầu hết các hoạt động chủ đạo, vì vậy, tất yếu sẽ có sự thay đổi
trong kiểm soát nội bộ.
2.1.4 Kiểm định chất lượng giáo dục
Vấn đề mới được Bộ GD&ĐT quan tâm và đồng loạt triển khai từ năm 2008
cho tất cả các trường đại học, cao đẳng trong cả nước nhằm cải tiến, nâng cao chất
lượng giáo dục đào tạo, quy chuẩn các trường. Kiểm định chất lượng giáo dục như
một đợt tự tổng kiểm tra của các đơn vị khi tự mình nhìn nhận đánh giá mình, giúp
các đơn vị phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu bằng các giải pháp cụ thể, trong
đó việc nâng cao vai trò hệ thống KSNB tại đơn vị thật sự là một trong những giải
pháp cần thiết với hầu hết các đơn vị.
2.1.5 Tự chủ tài chính và tự chủ biên chế
Nghị định 43/2006/NĐCP ngày 25/04/2006 của Chính phủ quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính
đối với đơn vị sự nghiệp công lập đã thực sự là cánh cửa mở cho các cơ sở đào tạo
công lập về quản lý tài chính và biên chế lao động. Từ đây, các đơn vị đã nỗ lực hơn
trong việc khai thác nguồn lực sẵn có và thế mạnh của đơn vị mình để tạo nguồn thu,
tăng thu nhập cho người lao động, chú ý hơn đến hiệu quả tài chính. Khoản thu nhập
tăng thêm từ tiết kiệm chi tiêu thường xuyên đã thật sự là đòn bẩy khích lệ động viên
các đơn vị phải tiết kiệm chi tiêu hành chính, sắp xếp lao động… Các đơn vị tự xây
dựng quy chế chi tiêu nội bộ (QCCTNB) làm căn cứ kiểm soát chi tiêu. HTKSNB
thực sự cần thiết để ngăn ngừa và phát hiện sai sót, gian lận, nâng cao hiệu quả sử
dụng nguồn lực của nhà trường.
2.1.6 Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 2014
Đề án Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục giai đoạn 2009 – 2014 với mục tiêu
xây dựng cơ chế tài chính mới cho giáo dục, nhằm huy động ngày càng tăng và sử



thành lập số 89/HĐBT ngày 28/3/1987 của Hội đồng Bộ trưởng. Tháng 1/2000,
trường mở 2 ngành Sư phạm Âm nhạc và Sư phạm Mỹ thuật, đào tạo giáo viên trình
độ cao đẳng cho các bậc học mầm non, tiểu học và trung học cơ sở.


Trang 16

Tháng 5/2003, mở ngành Giáo dục Đặc biệt. Tháng 9/2008 mở thêm 4 mã ngành:
Quản lý văn hóa, Kinh tế gia đình, Công tác xã hội và Đồ họa.
Tháng 4/2007, đổi tên từ trường Cao đẳng Sư phạm Mẫu giáo Trung ương số
3 thành trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương TP.HCM.
2.2.2 Nguồn lực
2.2.2.1 Giá trị truyền thống
Là đơn vị đào tạo phía Nam duy nhất có bề dày lịch sử 33 năm chuyên về đào
tạo giáo viên mầm non. Từ năm 2003, bổ sung thêm 3 ngành đào tạo mới: ngành Sư
phạm Âm nhạc (SPAN), Sư phạm Mỹ thuật (SPMT) và Giáo dục đặc biệt (GDĐB),
tuy mới thành lập, nhưng chất lượng đào tạo cũng rất tốt và ổn định, khẳng định được
vị trí trong ngành. Trường có đội ngũ giảng viên giỏi, có năng lực chuyên môn, có
trình độ nghiên cứu tốt, dày dạn kinh nghiệm trong lĩnh vực đào tạo giáo viên mầm
non. Sinh viên ra trường đều có năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề, kỹ năng sư
phạm, đảm đương tốt vai trò là người giáo viên, ngoài ra một số cựu sinh viên còn
tham gia công tác quản lý trong ngành mầm non. Hầu hết sinh viên mới ra trường đều
có việc làm, và được đơn vị tuyển dụng rất ưa chuộng.
2.2.2.2 Nhân sự
Cả trường có 160 lao động. trong đó giáo viên là 100 người, nhân viên 60
người, cán bộ quản lý là 35 người. Giảng viên lâu năm có trình độ chuyên môn cao,
được đào tạo từ nước ngoài chuyên về giáo dục mầm non. Giảng viên trẻ đa số được
đào tạo trong nước, luôn có ý thức học tập nâng cao trình độ.
Cơ cấu theo giới tính chủ yếu là nữ, nữ có 125 người, chiếm 78 %,
Cơ cấu theo độ tuổi không đều, tập trung vào 2 nhóm chính: nhóm già từ 50

trường ở mức 3.500 sinh viên/năm, chỉ tiêu tuyển sinh mới hàng năm dao động ở
mức 600 sinh viên chính quy, 600 sinh viên không chính quy.
2.2.3 Tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu và phương hướng hoạt động của trường
2.2.3.1 Tầm nhìn
Phấn đấu cho một xã hội – nơi mà con người, đặc biệt là trẻ em được hưởng
một nền giáo dục đậm chất nhân văn, khoa học, bình đẳng và được thực hiện bởi đội
ngũ đã qua đào tạo cơ bản, có tâm huyết để đưa trường trở thành Học viện đào tạo
nguồn nhân lực giáo dục và dịch vụ xã hội.
2.2.3.2 Sứ mạng
Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương – TP. Hồ Chí Minh là nơi cung cấp có
uy tín nguồn nhân lực cho ngành Giáo dục và cho xã hội, là trung tâm nghiên cứu
khoa học giáo dục trẻ em và các ngành dịch vụ xã hội ở khu vực phía Nam.


Trang 18

2.2.3.3 Mục tiêu
Mục tiêu tổng quát (giai đoạn 20092020)
Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành giáo dục và xã hội theo chuẩn và bồi
dưỡng nâng chuẩn có chất lượng ngang tầm khu vực.
Quy mô đào tạo đa ngành và đa cấp đáp ứng nhu cầu xã hội.
Trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học giáo dục trẻ em và dịch vụ xã hội,
ứng dụng những phương pháp giáo dục tiên tiến.
Có hệ thống cơ sở vật chất, kỹ thuật, trang thiết bị tiên tiến tạo ra môi trường
sư phạm tốt cho giảng dạy, học tập và sinh hoạt.
Khai thác sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Nâng cao thu nhập, ổn định đời
sống người lao động.
Mục tiêu cụ thể (giai đoạn 2009 – 2011)
Nâng cao chất lượng đào tạo
Hệ thống cơ sở vật chất và trang thiết bị được nâng cấp và mở rộng.

ĐặcHoạch
Biệt – Tài
Chính
P. QLKH – Hợp Tác
Q.Tế

Bộ Môn Lý Luận Chính Trị

Bộ Môn Cơ Bản
P. Quản Trị – Thiết Bị
P. Công Tác Sinh Viên

Bộ Môn Tâm Lý – Giáo Dục

TRƯỜNG
THỰC HÀNH
VÀ TRUNG TÂM

Ban Thanh Tra
Ban Quản Lý Ký
Túc

Ban Công Tác Môi
Trường & BHLĐ
Ban Công Nghệ
Thông
Tin

Đội Phòng Cháy
Chữa

Phó Hiệu trưởng phụ trách đào tạo: giúp việc cho Hiệu trưởng trong việc chỉ
đạo, điều hành công tác chuyên môn về đào tạo.
Các khoa, ngành, tổ bộ môn, phòng ban chức năng trực thuộc BGH:
Các khoa, ngành: Tổ chức, quản lý và thực hiện công tác đào tạo nhằm thực
hiện tốt mục tiêu đào tạo giáo viên mầm non, giáo viên giáo dục đăc biệt, giáo
viên tiểu học, trung học cơ sở các môn âm nhạc và mỹ thuật, chuyên viên dinh
dưỡng, cán bộ quản lý văn hóa, tùy theo chức năng riêng của từng


Trang 21

khoa, ngành. Tổ chức, quản lý công tác bồi dưỡng và nghiên cứu khoa học của
toàn thể giáo viên của đơn vị mình theo đúng quy định.
Các tổ bộ môn trực thuộc: Chịu trách nhiệm thực hiện kế hoạch giảng dạy,
học tập, thực hành – thực tế bộ môn, hoạt động khoa học, phối hợp các khoa,
phòng ban góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của trường.
Phòng Tổ chức Hành chính: Giúp Hiệu trưởng chỉ đạo, quản lý và triển khai
thực hiện công tác tổ chức, hành chính và tổng hợp trong nhà trường.
Phòng Đào tạo: Tham mưu giúp việc cho Ban Giám hiệu trong việc hoạch
định chiến lược phát triển đào tạo, chịu trách nhiệm trong công tác quản lý đào
tạo các hệ chính quy, hệ vừa học vừa làm đặt trong và ngoài trường.
Phòng Kế hoạch – Tài chính: Tham mưu giúp Hiệu trưởng thực hiện chức
năng quản lý, tổ chức sử dụng hiệu quả nguồn tài chính theo đúng Pháp luật
hiện hành, đảm bảo cho hoạt động của trường ổn định và phát triển.
Phòng Quản trị Thiết bị: Chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về công tác
quản lý toàn bộ tài sản, cơ sở vật chất trong trường; tham mưu cho Hiệu
trưởng xây dựng kế hoạch đầu tư, khai thác, sử dụng và quản lý tài sản, cơ sở
vật chất phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội.
Đảm bảo vệ sinh môi trường.
Phòng Công tác sinh viên: Giúp Hiệu trưởng trong công tác học sinh – sinh

Thư viện – đồ dùng dạy học: Giúp Hiệu trưởng bảo quản, lưu trữ và khai
thác có hiệu quả toàn bộ sách báo, tư liệu và đồ dùng dạy học.
Trung tâm Bồi dưỡng khoa học giáo dục: Giúp Hiệu trưởng tổ chức các lớp
đào tạo ngắn hạn, và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên
mầm non, âm nhạc, mỹ thuật và giáo dục đặc biệt các tỉnh phía Nam.
Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng khoa học và kiểm định chất lượng giáo
dục: Nghiên cứu ứng dụng các mô hình giáo dục trong và ngoài nước vào thực
tiễn. Tổ chức và quản lý hoạt động của phòng Nghiên cứu tâm lý và giáo dục
trẻ. Tổ chức công tác kiểm định chất lượng giáo dục trong trường.
Mối quan hệ giữa các bộ phận chức năng trong nhà trường: là mối quan
hệ phối hợp công tác nhằm thực hiện nhiệm vụ và kế hoạch chung của trường. Một
số quan hệ tiêu biểu cụ thể:
Các khoa, ngành, tổ bộ môn trực thuộc trường và phòng đào tạo: phối hợp
trong công tác đào tạo: chương trình đào tạo, tổ chức thi, thực hành thực tập,
thỉnh giảng, phân công lịch giảng, thời khóa biểu, tiến độ giảng dạy, biên chế
khóa học, chỉ tiêu tuyển sinh….


Trang 23

Các khoa, ngành, phòng Đào tạo và phòng Công tác sinh viên: phối hợp trong
công tác quản lý sinh viên, đánh giá xếp loại rèn luyện và học tập của sinh
viên, xét điều kiện tốt nghiệp cho sinh viên…
Phòng Tổ chức – Hành chính và các bộ phận khác: phối hợp công tác tổ chức
cán bộ, quản lý nhân sự, tuyển dụng, chế độ chính sách cho người lao động.
Phòng Tổ chức Hành chính và phòng Kế hoạch Tài chính: phối hợp trong
công tác đảm bảo thực hiện các chế độ chính sách, bảo hiểm, phúc lợi… cho
người lao động theo quy định của nhà nước và quy định của nhà trường…
Phòng Kế hoạch – Tài chính và các bộ phận khác: phối hợp trong công tác lập
kế hoạch chi tiêu hàng năm, thanh toán chế độ cho người lao động, thanh toán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status