MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng: Các chế độ chính trị xã hội thay
đổi theo tiến trình của lịch sử, song tổ chức gia đình và dòng tộc thì luôn
trường tồn cùng non sông đất nước. Mỗi dòng tộc, đặc biệt là dòng tộc lớn
đều có truyền thồng văn hóa, bản sắc riêng của mình. Những nét riêng đó góp
lại hình thành nên bẳn sắc văn hóa dân tộc. Nói cách khác văn hóa các dòng
tộc là cơ sở, nền tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia. Vì vậy
việc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc nhận thức,
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đảng và nhà nước ta luôn xem văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là
một mặt trận hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đặc biệt là
trong giai đoạn hiên nay. Khi nghiên cứu về dòng họ phải đề cập đến các vấn đề
như: Văn bia, câu đối, nhà thờ, gia phả, sách truyện, những giá trị truyền thống
của dòng họ để lại cho con cháu… Rõ ràng chúng ta muốn tìm hiểu văn hóa dân
tộc phải tìm hiểu văn hóa cơ bản của các dòng họ. Khi Việt Nam hội nhập ngày
càng cao, sâu rộng với thế giới. Việc tìm hiểu văn hóa các dòng họ góp phần vào
sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa mặt khác cũng góp phần củng cố khơi
dậy lòng biết ơn và tự hào về công đức tổ tiên, để từ đó tiếp tục phát huy truyền
thống gia tộc, xây dựng gia đình quê hương đất nước. Vì thế việc nghiên cứu về
lịch sử-văn hóa dòng họ cũng là một yêu cầu bức thiết.
Văn hoá Việt Nam bao giờ cũng bắt nguồn từ văn hoá làng, văn hoá
dòng họ. Cho nên muốn nhận thức đầy đủ, sâu sắc về cuộc sống Việt Nam thì
không thể bỏ qua vấn đề dòng họ. Thực tế cho thấy, các dòng họ đều có
những đóng góp khác nhau đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là
cái nôi sinh ra những nhân tài, sáng tạo ra những văn hoá vô giá cho đất nước,
1
do vậy việc nghiên cứu dòng họ có ý nghĩa hết sức to lớn trong việc giữ gìn,
phát huy truyền thống văn hoá dòng họ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cuộc đời
đủ diện mạo của làng quê Việt Nam truyền thống từ mô hình quản lý làng xã
đến phong tục tập quán, nếp nghĩ của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ
trước Cách mạng Tháng Tám.
Dòng họ Mạc là dòng họ xuất hiện từ rất sớm ở Việt Nam. Đã có cả
một vương triều Mạc ở thế kỉ XVI. Vì vậy, hầu hết các sách lịch sử Việt Nam
đều nói đến nhà Mạc. Ngay trong “Đại Việt thông sử”, Lê Quý Đôn cũng đã
có nói đến triều Mạc. Dưới ngòi bút của các sử gia phong kiến, triều Mạc bị
coi là “Nhuận triều”, các vua nhà Mạc bị coi là những kẻ “Nghịch thần”.
Mạc tộc phả, sách cổ của tác giả Mạc Hoài Thương Phạm Tú. Đây là
cuốn sách viết về cội nguồn dòng họ Mạc, gia phả họ Mạc bắt đầu từ Mạc
Đĩnh Chi cho đến đời thứ 16 của ông, trong đó đặc biệt chú ý đến những
người nổi tiếng như Mạc Đĩnh Chi, Mạc Đăng Dung…
Chí Linh phong vật chí, là sách cổ do Nguyễn Huy Đại và Nguyễn
Thanh Giản dịch. Cuốn sách tổng hợp những gì là niềm tự hào của vùng đất
Chí Linh xưa. Đó là những “địa linh” (Côn Sơn, Kiếp Bạc, Lục Đầu Giang,
núi Phượng Hoàng...), “nhân kiệt” (Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Quang Trạch,
Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Mại...). Quê hương của Mạc Đĩnh Chi ngày nay
trước đây thuộc đất Chí Linh nên ông cũng được giới thiệu ở đây.
Từ năm 1986, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới về kinh tế - xã
hội, cuộc cải cách mở cửa thu được nhiều thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế
xã hội. Cũng từ đây với quan niệm nhìn thẳng vào sự thực, nói đúng sự thực
giới sử học đã bắt đầu có sự nhìn nhận đánh giá về nhà Mạc một cách công
bằng hơn, khách quan hơn.
Với cuốn “Gương sáng dòng họ” 3 tập, tập 1 (2002), tập 2 (2004), tập
3 (2008), tác giả Hoàng Lê đã giới thiệu bộ sưu tập chân dung các nhân vật
3
của dòng họ Mạc, gốc họ Mạc ở 25 tỉnh, thành từ Bắc tới Nam trong lịch sử
cận đại và hiện đại nước ta có đóng góp to lớn về võ công, về văn nghiệp, về
3.3. Nhiệm vụ khoa học của đề tài
- Tìm hiểu tương đối toàn diện, có hệ thống về quá trình hình thành và
phát triển của dòng họ Mạc ở Long Động, những đóng góp của dòng họ qua
các thời kì lịch sử.
-Tìm hiểu về những truyền thống tốt đẹp, những di sản văn hoá tiêu
biểu của dòng họ Mạc.
-Đi sâu tìm hiểu về những những nhân vật tiêu biểu của dòng họ từ đó
tìm hiểu thêm những đóng góp của họ đối với dân tộc.
4. Nguồn Tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tham khảo, nghiên cứu các nguồn
tư liệu sau:
4.1.1. Tài liệu gốc
Chúng tôi tham khảo các bộ Gia Phả dòng họ Mạc ở Long Động. Các văn
bia của làng, các đại tự, hoành phi, miếu nhà thờ họ, nhân vật, cổng làng…
Các bộ chính sử như:
+Đại Việt sử kí toàn thư-Ngô Sĩ Liên.
+Lịch triều hiến chương loại chí-Phan Huy Chú.
+Khâm định Việt sử thông giám cương mục-Quốc sử quán nhà Nguyễn.
+Đại Nam nhất thống chí- Quốc sử quán nhà Nguyễn.
+Đại Việt thông sử-Lê Quý Đôn….
4.1.2. Tài liệu nghiên cứu
Các tài liệu nghiên cứu lịch sử văn hoá như đã trình bày ở phần tài liệu
tham khảo
5
4.1.3. Các tài liệu khác: báo, tạp chí, tài liệu từ ban liên lạc họ Mạc…
4.1.4. Các tài liệu điền dã
Để tìm tư liệu phuc vụ cho đề tài chúng tôi đã đến đền thờ Mạc Đĩnh
Luận văn cũng góp phần làm sáng tỏ một số sự kiện, một số nhân vật
lịch sử mà các bộ chính sử chỉ nhắc đến sơ sài như: Mạc Hiển Tích, Mạc Đĩnh
Chi, Mạc Thị Bưởi…
6. Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục nội dung
luận văn chia thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về Nguồn gốc và Lịch sử phát triển phát triển của
dòng họ Mạc ở Long Động- Nam Tân- Nam Sách- Hải Dương.
Chưong 2: Văn hoá truyền thống của dòng họ Mạc ở Long Động - Nam
Tân- Nam Sách- Hải Dương.
Chương 3: Những đóng góp của dòng họ Mạc trong lịch sử dân tộc.
7
CHƯƠNG 1
NGUỒN GỐC VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ MẠC Ở
THÔN LONG ĐỘNG, NAM TÂN, NAM SÁCH, HẢI DƯƠNG.
1.1 . Vài nét về mảnh đất và con người Nam Sách, Hải Dương.
1.1.1. Điều kiện tự nhiên và địa giới hành chính
Điều kiện tự nhiên
Huyện Nam Sách có tổng diện tích tự nhiên là 109 km2. Dân
số 111.635 người. Mật độ dân số là 1.082,7 người/km²(số liệu tháng 3/2008).
Công dân thứ 90 triệu là người Nam Sách, Hải Dương. Nguyễn Thị Thùy
Dương sinh lúc 2h45 phút ngày 1 tháng 11 năm 2013, nặng 3,2 kg.
Huyện Nam sách là một vùng đất cổ, nằm ở vùng châu thổ sông Hồng,
địa hình bằng phẳng, Tính chất đất đai cũng như địa hình của huyện mang đặc
tính địa hình của đất phù sa sông Thái Bình Độ cao so với mực nước
biển trung bình là 0,60 m. Đất đai chủ yếu được hình thành do quá trình bồi tụ
phù sa của hệ thống sông Hồng. Cả bốn phía đều có sông bao bọc, gồm các
là Nam Tấn Vương và Ngô Xương Ngập lấy hiệu là Thiên Sách Vương, mỗi
người lấy một từ của tên "Nam Sách" để tỏ lòng ghi nhớ về vùng đất này.
Đến đời nhà Lý cũng có tên là Nam Sách Giang. Nam Sách là nơi phát
tích của dòng họ Phạm (Trà Hương) và họ Mạc (Long Động).
Thời nhà Trần, Nam Sách là tên gọi của một xứ, bao gồm Chí Linh, Nam
Sách, Thanh Hà và Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày nay. Cuối thời nhà Trần, nó
là tên gọi của một châu (Nam Sách châu) thuộc phủ Lạng Giang.
Đầu thời kỳ Lê sơ, là tên gọi của một lộ, bao gồm Nam Sách thượng và
Nam Sách hạ. Đến thời Lê Nhân Tông là tên gọi của một phủ. Đến năm 1466,
Lê Thánh Tông chia cả nước thành 13 đạo thừa tuyên, Nam Sách là một trong số
đó. Tháng 4 năm 1469, nó lại chỉ là tên gọi của một phủ, do đạo thừa tuyên Nam
9
Sách đã đổi thành Hải Dương. Trong thành phần phủ Nam Sách khi đó có các
huyện Thanh Lâm, Chí Linh, Thanh Hà và Tiên Minh (Tiên Lãng ngày nay).
Thời Hậu Lê, trụ sở phủ Nam Sách đặt tại Vạn Tải (nay thuộc xã
Hồng Phong).
Tới năm Gia Long 7 (1806) chuyển về Tổng Xá (xã Thanh Quang ngày
nay). Năm 1898, bỏ cấp phủ. Tên gọi huyện Nam Sách có lẽ có từ khi này.
Các giai đoạn từ 9/1947 tới 25/8/1948 và từ 7/11/1949 tới 22/2/1955,
huyện thuộc tỉnh Quảng Yên.
Ngày 24/2/1979 Nam Sách hợp nhất với Thanh Hà thành huyện
Nam Thanh.
Ngày 17/2/1997 huyện Nam Thanh lại tách ra thành huyện Nam Sách
và huyện Thanh Hà.
1.1.2. Đăc điểm kinh tế của huyện.
Sống trong vùng đất đai có sông nước bao quanh, thiên nhiên ở đây
thuận lợi cho việc làm nông nghiệp vì vậy từ lâu đời sản xuất nông nghiệp
đã trở thành ngành kinh tế chủ đạo. Dựa trên cơ sở nền nông nghiệp định
1.1.3. Dân cư và Truyền thống
Dân cư
Nam Sách là huyện có lịch sử phát triển lâu đời, con người đến sinh cơ
lập nghiệp khá sớm. Theo kết quả khảo cổ học gần đây nhất cho thấy ngay từ
đầu Công nguyên, mảnh đất này đã có con người sinh sống.
Dân cư sống trên đất Nam Sách đều là người Kinh, họ sống tâp trung
thành những làng lớn nằm kề nhau. Họ sống bằng nhiều nghề nhưng chủ yếu
bằng nông nghiệp nên tính rất chất phác cần kiêm.
Truyền thống lịch sử
Nam Sách đã từng là đại bản doanh của nhiều triều đại như: Hai bà
Trưng, nhà Tiền Lý, nhà Ngô, nhà Trần.
11
Đây cũng là vùng đất của gốm Chu Đậu một làng nghề nổi tiếng từ thời
Trần đến Hậu Lê.
Nam sách còn là quê hương của nhiều nhân vật lịch nổi tiếng có nhiều
đóng góp cho dân tộc như:
Phạm Chiêm (Phạm Lệnh Công) người đã cưu mang con trai Ngô
Quyền (ông Tổ trung hưng nước Việt), có công xây dựng nhà Hậu
Ngô Vương.
Phạm Cự Lạng, cháu của Phạm Chiêm, người suy tôn Thập đạo tướng
quân Lê Hoàn lên ngôi cửu ngũ.
Mạc Đăng Dung, người mở đầu triều đại nhà Mạc.
Ngô Hoán, một thành viên trong hội thơ Tao Đàn của Lê Thánh Tông.
Cụ tổ của Tổng đốc Hoàng Diệu người họ Mạc quê ở Nam Sách, di cư
vào Quảng Nam sau một trận lụt lớn, đến Hoàng Diệu là đời thứ 7
Nơi đây còn là quê hương nhà cách mạng Lê Hồng Sơn, Phan Đăng
Lưu, nhà thơ Trần Đăng Khoa.
Tại Nam Sách còn là nơi mai táng Vũ Hồn, thủy tổ của một dòng họ
vũ trang.
1.1.4. Một số dòng họ lớn trên đất Nam sách
Dòng họ Đặng ở xã Cộng Hòa, huyện Nam Sách, Hải Dương
Dòng họ Đặng bắt đầu được hình thành từ thế kỉ XVI. Theo bản tộc
phả còn lưu ở từ đường ở làng Chi Điền xã Cộng Hòa thì Thủy rổ của Họ
Đặng là Tề Danh. Cụ sinh được ba trai đó là Đặng Đức Tuấn, Đặng Đức
Dung, Đặng Đức Hồ. Theo văn bia “Văn hội Võ hội, Phủ Nam Sách niên hiệu
Cảnh Thịnh 5 thì có 13 vị văn võ trong đó có Đặng Đức Tuấn võ trưởng.
Đặng Phúc Cẩn, Phúc Hồ về văn.
Cụ phúc Cần thi Đình trượt về dạy học. Cụ Phúc hồ thi hội đỗ làm quan
ở huyện Kinh Môn.Nay vẫn còn văn bia họ Đặng ở Kinh Môn, Hải Dương.
13
Đến đời cháu thứ 5 của Phúc thọ là Đặng Huy Dư, đỗ cử nhân
năm1807 lam quan lang thời Nguyên Gia Long. Việc này được ghi lại trong
văn miếu tại Cẩm Điền.
Cháu 5 đời của cụ Dư là Đặng Đức Song được tặng danh hiệu Anh
hùng quân đội nhân dân Việt Nam. Hai cụ được tặng danh hiệu bà mẹ Việt
Nam anh hùng đó là Đặng thị Dong và Đặng thị Gắng.
Chi họ Đặng tính từ đời cụ Phúc Thọ trở xuống hiện còn sống là đời
thứ 8, bé nhất là đời thứ 12. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp-Mĩ cứu
nước, chi họ Đặng đã có hàng trăm người tham gia hoạt động cách mạng trên
mọi niền đất nước
Dòng họ Vũ ở Mộ Trạch
Truyền thuyết kể lại rằng Vũ Hồn cho nơi này là đất có phong thuỷ tốt,
giữ làng này làm nguyên quán thì đời đời sẽ tiến phát về đường khoa bảng. Dưới
con mắt của nhà phong thủy tài ba, Vũ Hồn cho rằng cả vùng Hải Dương là một
đại cuộc, huyện Đường An là huyệt trường và làng Chằm Thượng là huyệt kết.
Vì vậy ông quyết định cắm đất lập trại và đặt tên làng là Khả Mộ. Nghĩa là vùng
năm 1664. Vũ Công Bình, tiến sĩ năm 1664. Vũ Đình Lâm, hoàng giáp năm
1670. Vũ Duy Khuông, tiến sĩ năm 1670. Vũ ĐìnhThiều, tiến sĩ 1680.Vũ Trọng
Trình, tiến sĩ năm1685. NguyễnThường Thịnh, tiến sĩ năm 1703. Vũ Đình Ân,
tiến sĩ năm1712. Vũ Huyên, tiến sĩ năm 1712 (trạng cờ). Vũ Phương Đề, tiến sĩ
năm 1736, tác giả Công dư tiệp kí. Vũ Huy Đỉnh, tiến sĩ năm 1754.
1.2. Nguồn gốc và lịch sử pát triển của dòng họ Mạc ở làng Long
Động thôn Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương.
1.2.1. Vài nét về thôn Long Động
Vị trí và điều kiện tự nhiên thôn Long Động:
Long Động còn có
tên nôm là làng Sách, vốn xưa kia là xã Lũng Động nhưng ngày nay là một
trong năm thôn của xã Nam Tân (4 thôn còn lại là: Trung Hà, Đột Hạ, Đột
15
Thượng và Quảng Tân). Thôn Long Động nằm ở phía Nam của xã Nam Tân,
phía Bắc giáp làng Đột Hạ, Quảng Tân; phía Đông Bắc giáp làng Trung Hà;
phía Tây giáp làng Cao Đôi xã Hợp Tiến; phía Nam giáp làng Lê, làng Hà
Liễu xã Thanh Quang.
Từ huyện Nam Sách, theo đường quốc lộ 183 đến xã Thanh Quang, rẽ trái
đi chừng 2 km thì đến trung tâm xã Nam Tân. Xã Nam Tân là vùng đất thuần
nông, đất khá thấp (3 mặt giáp sông Kinh Thầy và hệ thống trung thủy nông của
huyện Nam Sách) nên rất dễ bị ngập lụt, trước đây chỉ cấy được một vụ chiêm.
Diện tích đất tự nhiên của thôn Long Động trước năm 1960 là 3km 2. Sau
cải cách ruộng đất, thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó
có những chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn được triển khai mạnh
mẽ. Sông Ấp Bắc ra đời chảy qua 4 xã Nam Hưng, Nam Tân, Hợp Tiến và
Thanh Quang. Vì vậy, một số diện tích của thôn Long Động bị cắt cho các xã,
Sự thay đổi hành chính của thôn Long Động qua các thời kỳ được thay
như sau: đời Trần, vùng đất này thuộc về lộ Hồng Châu rồi lộ Nam Sách. Đầu
thế kỷ XV, vùng đất Long Động thuộc về huyện Thanh Lâm châu Nam Sách
phủ Lạng Giang. Khoảng niên đại Thuận Thiên (1428 - 1433), Long Động
thuộc về Đông Đạo về sau thuộc về lộ Nam Sách thượng. Vua Lê Thánh Tông
tiến hành cải cách hành chính, Long Động thuộc về huyện Bình Hà phủ Nam
Sách thừa tuyên Hải Dương. Sau này, các đời vua nhà Lê Trung Hưng đổi thừa
tuyên Hải Dương ra xứ, rồi trấn, Long Động vẫn thuộc các xứ, trấn này. Năm
1831, vua Minh Mạng cho thành lập các tỉnh, Long Động thuộc về tổng Cao
Đôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
Do nhu cầu của cuộc sống và nhiều nguyên nhân tự nhiên, xã hội như
phòng chống lũ lụt, đạo tặc, làng Sách tiến dần lên phía Bắc và định cư ở vị
trí như ngày nay. Những dấu tích nguyên sơ được tìm thấy còn rất nhiều như
17
vỏ sò, vỏ hến, mảnh bát, đĩa, sành sứ… là những minh chứng chứng minh sự
hiện diện của cư dân làng Long Động cổ.
Trước kia, địa phận thôn Long Động rất rộng, phía Bắc đến tận Mô
Mốc (mốc trắc địa cắm ở bãi Quà) tiếp giáp đất Quảng Tân, ngang với lũy tre
Đột Hạ và ngang với nghĩa địa Trung Hà hiện nay, phía Tây giáp làng Tè xã
Hợp Tiến và Trại Xém xã Nam Hưng, ngang với chùa Đột bây giờ, phía Nam
giáp Cầu Bình và sông Mụa thuộc thôn Hà Liễu xã Thanh Quang.
Nghề nghiệp chủ yếu của người dân nơi đây là nghề nông, trồng lúa và
các cây hoa màu. Một số dân làm nghề chài lưới, đánh bắt cá, tôm, cua, ốc.
Làng Long Động xưa là bến sông, nên khi đào kênh, mương, đào đất làm nhà
mới… người dân thấy vô vàn những gốm vỡ, chum, lọ, địa tầng vỏ sò, vỏ ốc,
chứng tỏ nơi này đã từng là một bến sông buôn bán sầm uất một thời. Do thuần
túy nghề nông nên thương nhân hầu như không có. Nghề thủ công chỉ có vài
Mạc ngày xưa vậy, cũng gọi là Mạc Châu, dấu tích xưa vẫn còn, họ Mạc bắt
đầu từ đó. Đến năm Đại Lịch, Mạc Tang làm Bắc bộ Viên ngoại lang, sau
dời đến ngõ Châu Cơ, thôn Kim Lũ đất Phong Châu.
Đến năm Đại Trung thứ năm đời Đường (660) thì có ngài Trạng
nguyên Mạc Tuyên Khanh là người đỗ đạt đầu tiên ở đất Lĩnh Nam. Kế đó
có Tấn thứ sử rồi đến Như Tùng. Năm Thiên Thành thứ 3 đời Đường Minh
Tông vì có tài văn học được vời làm Trung thư kiêm Thị giảng học sĩ. Kế đó
có Hữu Hoài, quan biệt giá bắt đầu ra ở đất Lăng Thủy thuộc Nam Hùng.
Đến đời Cảnh Hựu (1038) triều Tống Nhân Tông thì có cụ Vĩnh
Xương đỗ Tiến sĩ làm Học huấn Quảng Châu, do đó làm nhà ở cầu Thanh
Phong, thành Quảng Châu, sinh được 3 con trai: con cả là Ngu, con thứ là Lỗ,
con thứ ba là Độn. Cụ Ngu làm trực giảng ở Vương phủ. Con cháu dời đến đất
V ĩ Tụng thuộc Phiên Ngung (nay là tỉnh Quảng Châu)(2). Còn con cháu
cụ Lỗ vì có Dương hầu tàn ngược nên nhà cửa bị tàn phá đổ nát. Cụ Độn ra
Thất An và cụ Lỗ do đó dời đến ở thôn Lỗ. Con của cụ Độn là Mạc Vi dời đến
19
ở thôn Tiều Lợi, huyện Đông Hoãn, khi ấy cụ dâng thư hiến kế sách góp thóc
giúp việc biên cương, được phong là Phụng nghị đại phu, lấy bà Nghi
nhân Trần Thị Nam. Cụ mất năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Thiệu Hưng thứ 22 đời
Tống Cao Tông. Chôn ở gò Thánh Nương, Trà Linh huyện Đông Hoãn, hợp
táng với cụ bà Trần thị. Đó là Thủy tổ họ Mạc dời đến trong ấp.
Sau này, 7 người con chia thành 7 chi. Con cả ở Tiều Lợi. Con thứ ở
thôn Đại Đao thuộc cửa khẩu Thạch Thủy. Con thứ ba từ Tiều Lợi dời đến ở
gò Long Vĩ thuộc Lỗ Thành, vợ là Chu thị, sinh được 2 con trai, con cả
là Văn Hoán, con thứ làVăn Quang. Vợ Quang là Lý thị sinh ra Tổng Cán.
Dời đến ở Quan Điền, vợ là Tiết thị, sinh được 3 con: con cả là Thượng
Tuấn, con thứ là Thượng Đạt, con thứ ba là Thượng Hiền. Tuấn vẫn ở Quan
Điền, Hiền dời đến đất Cổ Thiệp, Đạt dời đến ở Thạch Vĩ, tức thôn Mạc ốc.
Hà Tiên, thành lập tại đây một vùng văn hiến. những danh nhân họ Mạc Hà
Tiên có thể kể đến như Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích… Họ là những võ tướng,
những nhà quản lý hành chính đồng thời cũng là những nhà văn hóa khi tạo
dựng lên một thị xã nổi tiếng có tên là Chiêu Anh Các.
Dòng học Mạc lớn hơn và có nhiều đóng góp hơn với lịch sử đất nước
là dòng họ Mạc phát tích tại thôn Long Động - xã Nam Tâm - huyện Nam
Sách - tỉnh Hải Dương. Dòng họ này (tạm gọi là họ Mạc Long Động) được
hình thành từ lâu đời và ngày nay phát triển rộng khắp trên nhiều vùng đất
nước. Nhân vật họ Mạc Long Động được nhắc đến đầu tiên trong lịch sử là
Trạng nguyên Mạc Hiển Tích và em trai ông là Tiến sĩ Mạc Kiến Quan đỗ
vào triều nhà Lý. Sang đến nhà Trần lại có Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên
vào năm 1304. Thế kỷ XVI, họ Mạc đã đánh dấu sự đóng góp của mình đối
với lịch sử đất nước bằng việc thành lập lên vương triều Mạc (1527 - 1592).
Vương triều Mạc có nhiều đóng góp với đất nước đặc biệt trên các lĩnh vực
phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục… Tuy nhiên cho đến nay việc đánh giá
21
vương triều này còn nhiều tranh luận khác nhau với những sự kiện: thay thế
nhà Lê nắm chính quyền, quan hệ đối ngoại với Trung Quốc.
Bài tựa Gia phả họ Mạc cho biết họ Mạc vốn thuộc họ Cơ đời Chu.Trải
đời Tần đến đời Hán dời đến đất Cự lộc, nhân đó được ban họ Mạc. Như vậy
họ Mạc bắt đầu từ đó. Đến năm trung đại thứ năm đời Đường (660), có trạng
nguyên Tuyên Khanh đó là cụ tổ đỗ đạt đầu tiên ở đất Lĩnh Nam.
Lại truyền đến cụ Mạc Hiển Tích ở Lũng Động, Chí Linh, Dương đỗ đệ
nhất giáp khoa Bính Dần, năm Quảng Hựu thứ hai triều Lý(1086). Em cụ là
Mạc Kiến quan cũng đỗ tiến sĩ. Anh em cùng triều, làm tới thượng thư, một
nhà châm hốt từ xưa chưa hề có.
Rồi đến cụ Mạc Đĩnh Chi hồi nhỏ nổi tiếng thần đồng. Khoa Giáp Dần
huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện
Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ khoa Bính Dần, niên
hiệu Quảng Hựu thứ hai (1086) đời nhà Lý (Nhân Tông). Ông được bổ làm
Hàn lâm Viện học sĩ, sau làm đến chức Thượng thư bộ Lại. Đi sứ Chiêm
Thành năm 1094.
Ông là một người có biệt tài về chính trị và là một trung thần nhà Lý.
Sau này khi Mạc Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế có truy tôn ông là thủy tổ
hồng phúc đại vương.
Ông sinh ra Mạc Hiển Đức.
Đời thứ 02: Có 1 đinh là Mạc Hiển Đức. Cụ sinh hạ được 1 trai là
Mạc Hiển Tuấn.
Đời thứ 03: Có 1 đinh là Mạc Hiển Tuấn cụ sinh được 1 trai là Mạc
Đĩnh Kỳ.
Đời thứ 04: Có 1 đinh là Mạc Đĩnh Kỳ cụ sinh được 1 trai là Mạc
Đĩnh Chi .
23
Đời thứ 05: Có 1 đinh là: Mạc Đĩnh Chi (1280-1346), tên tự là Tiết
Phu, làm quan đời Trần Anh Tông trong lịch sử Việt Nam. Tương truyền ông
vừa là trạng nguyên của Đại Việt và cũng được phong làm "Lưỡng quốc Trạng
nguyên" (Trung Hoa và Đại Việt) khi sang sứ Trung Hoa thời nhà Nguyên.
Mạc Đĩnh Chi là người làng Lũng Động, huyện Chí Linh (nay thuộc
xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Ông có tướng mạo xấu xí
nhưng trí tuệ thông minh.
Năm 1304 đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, triều
đình mở khoa thi lấy 44 người đỗ Thái học sinh (tiến sĩ). Mạc Đĩnh Chi đỗ
đầu, chiếm học vị trạng nguyên. Ông được cử giữ việc coi sóc thư khố của
nhà vua, rồi chức Tả bộc xạ (Thượng thư). Đặc biệt hai lần đi sứ Trung Quốc,
Đời thứ 08: Có 1 đinh là Mạc Tung ( Chưa rõ năm sinh, năm mất): Ông
là con của Mạc Thúy. Sống vào thời hậu Trần (1407-1413). Di cư đến làng Lan
Khê, huyện Bằng Hà, châu Nam Sách lộ Lạng Giang (nay là Thanh Hà, tỉnh Hải
Dương). Khi ấy Lê Lợi đã bình định xong giặc Minh xâm lược, nghiêm trị bọn
ngụy quan, cho nên ông không dám ra làm quan, chỉ ẩn náu nơi thôn dã.
Sau này khi cháu xa là Mạc Thái Tổ lên ngôi Hoàng đế có truy tôn ông Tổ
bốn đời là ý tổ hồng khánh uyên triết anh duệ hoàng đế. Ông sinh ra Mạc Bình.
Đời thứ 09: Có 1 đinh là Mạc Bình (hay Mạc Đĩnh Quý) .Chưa rõ
năm sinh, năm mất. Ông là con của cụ Mạc Tung. Lại di cư đến làng CổTrai
huyện Nghi Dương. Cũng như bố, chỉ ẩn náu nơi thôn dã, không ra làm quan
Sau này khi cháu nội là Mạc Thái Tổ lên ngôi hoàng đế có truy tôn ông nội
làm Hoằng tổ thuần hiến tuy hưu đốc cung hoàng đế. Ông sinh ra Mạc Hịch
Đời thứ 10: Có 1 đinh là Mạc Hịch (hayMạc Đĩnh Phú). Chưa rõ năm
sinh, mất năm 1514. Ông là con của cụ Mạc Bình (hay Mạc Đĩnh Quý) ở làng Cổ
Trai, huyện Nghi Dương. Lấy con gái cụ Đặng Xuân, người cùng làng tên là
Đặng Thị Hiếu. Sinh hạ được 3 người con trai. Con trưởng là Đăng Dung, con thứ
là Đốc, con thứ ba là Quyết. Họ Mạc lại khởi sắc bắt đầu từ 3 người con của ông.
Đời thứ 11: Có 3 đinh là: Mạc Đăng Dung, Mạc Đốc, Mạc Quyết.
25