LỜI CẢM ƠN
Chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc tới thầy Lê Thái
Hưng đã tạo điều kiện và hướng dẫn hết sức nhiệt tình cùng với những bài giảng vô
cùng bổ ích để chúng em có thể thực hiện đề tài “KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIỆC
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TẠI TRƯỜNG THPT TRUNG
GIÃ, SÓC SƠN, HÀ NỘI KHỐI 11 VỚI MÔN TOÁN” trong suốt quá trình học tập
nghiên cứu và rèn luyện.
Trong quá trình làm nghiên cứu khoa học, khó tránh khỏi sai sót, rất mong Thầy
bỏ qua. Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên
bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, chúng em rất mong nhận được ý
kiến đóng góp Thầy để chúng em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hoàn thành
tốt hơn bài nghiên cứu khoa học này.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
2
Danh mục thuật ngữ viết tắt:
Viết tắt
PP
PPDHTC
THPT
GV
HS
BGH
Cho nên việc áp dụng PPDHTC vào THPT vô cùng quan trọng vì trong giai đoạn
này các em đang dần toàn thiện bản thân. Tuy nhiên hiện nay tại các trường THPT
việc áp dụng PPDHTC chưa được hiệu quả và chưa khai thác được tối đa những hiệu
quả mà PP này mang lại vì giáo viên chỉ sử dụng mang tính chất hình thức, chủ yếu là
trong các tiết dự giờ hay thao giảng Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là :
“KHẢO SÁT THỰC TRẠNG VIỆC ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
TÍCH CỰC TẠI TRƯỜNG THPT TRUNG GIÃ, SÓC SƠN, HÀ NỘI KHỐI 11
VỚI MÔN TOÁN”
Đến với đề tài này chúng tôi mong rằng có thể đánh giá được một cách chính xác
nhất thực trạng việc áp dụng PPDHTC, từ đó có thể đưa ra những phương hướng giải
pháp phù hợp để áp dụng PPDHTC vào thực tiễn một cách hiệu quả nhất.
Trường THPT Trung Giã được thành lập theo quyết định số 2054/QĐ- UĐ của
UBND thành phố Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm 1999. Trường đóng trên địa bàn phố
Nỷ xã Trung Giã với nhiệm vụ đào tạo cấp THOT cho học sinh của 5 xã phía Bắc
huyện Sóc Sơn: Trung Gã, Hồng Kì, Bắc Sơn, Nam Sơn, Tân Hưng, Những ngày đầu
4
trường chưa có tường rào, cây cối xung quanh còn hoang sơ, các thầy cô giáo và học
sinh rào xung quanh bằng rong tre…
Trường có 30 lớp học, 2 phòng tin học, phòng nghe nhìn và phòng thí nghiệm lý,
hóa, sinh… 100% các lớp học được lắp thiết bị máy chiếu.3 phòng học chất lượng cao
được lắp hệ thống tivi phục cho cho việc tiếp cận thông tin nhanh và đủ cho học sinh.
Trường có nhà thi đấu đa năng, có sàn tập và khán đài. Với những điều kiện cơ sở vật
chất hiện đại, phát huy truyền thống “Đoàn kết- Trách nhệm- Sáng tạo” , trường
THPT Trung Giã ngày càng vươn lên mạnh mẽ, đạt được nhiều kết quả cao trong công
tác giảng dạy cũng như hoath động của trường.
18 năm phát triển, bên cạnh những khó khăn ban đầu mà trường gặp phải thì hiện
tại trường THPT Trung Giã đã dần khẳng định vị trí của mình trong hệ thống các
Trung Giã ở Sóc Sơn , Hà Nội.
5
4.2. Đối
tượng nghiên cứu
Học sinh lớp 11A1, 11A2, 11A3, 11A4 trường THPT Trung Giã,
Sóc Sơn, Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
• Nội dung: phương pháp dạy học tích cực đối với môn toán.
• Đối tượng: học sinh
• Thời gian: cuối kì II hạn hoàn thiện 16/6/2016
6. Giả thuyết nghiên cứu
Các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã xây dựng các phương pháp dạy học tích
cực ở trường THPT dựa trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại và khẳng định rằng nếu
việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào môn Toán ở THPT có hiệu quả thì
sẽ phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Tuy nhiên trong thực tế, nhận thức, thái
độ và kĩ thuật của giáo viên ở trường THPT Trung Giã về các phương pháp dạy học
tích cực còn có những biểu hiện chưa thực hành tốt. Từ những vấn đề trên, chúng tôi
tiến hành khảo sát để tìm hiểu rõ thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
ở trường THPT Trung Giã, cũng như sẽ đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng các phương pháp dạy học này.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin
•
Phương pháp quan sát: Chúng tôi đã ghi nhận, thu thập những thông tin
về cơ sở vật chất, phương tiện dạy học của trường THPT Trung Giã.
của việc phát huy tính tích cưc, chủ động của học sinh và nói nhiều đến phương pháp
và biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức. Socrat (469-339 TCN) nhà triết học,
người thầy vĩ đại của Hi Lạp cổ đại đã từng dạy các học trò của mình bằng cách luôn
đặt ra các câu hỏi gợi mở nhằm giúp người học dần dần phát hiện ra chân lí. Cho nên
phương pháp dạy học hiện đại xuất hiện ở các nước phương Tây (ở Mỹ, ở Pháp...) từ
đầu thế kỷ XX và được phát triển mạnh từ nửa sau của thế kỷ, có ảnh hưởng sâu rộng
tới các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Đồng thời nước ta đang trong giai
đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa theo xu hướng toàn cầu, khi đó vấn đề về xu hướng
phát triển nền giáo dục là hết sức cấp thiết và cần có hiệu quả cao.
Phát huy tính tích cực học tập của học sinh là vấn đề mà đã được đặt ra trong
ngành Giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỉ trước. Trong cuộc cải cách giáo
dục lần thứ hai từ năm 1980, vấn đề này đã trở thành một trong những phương hướng
chính nhằm đào tạo những người lao động sáng tạo, làm chủ đất nước. Từ năm 2002
bắt đầu triển khai chương trình và sách giáo khoa phổ thông mới mà trọng tâm là đổi
mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, rèn
luyện phương pháp tự học của học sinh.
Trong luật Giáo dục 2005, chương 2, điều 28 cũng đã ghi:” Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh,
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn
luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”[1]. Hay điều đó cũng được nêu rõ trong điều 3
khoản V “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” ban hành ngày 13 tháng 6 năm
2012 như sau: “Phát triển các chương trình giáo dục thường xuyên, ứng dụng công
nghệ thông tin và truyền thông nhằm mở rộng các hình thức học tập đáp ứng nhu cầu
học tập đa dạng của mọi người, giúp người học hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu
biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu công việc
và nâng cao chất lượng cuộc sống.Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá
kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo và năng lực tự học của người học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và
truyền thông trong dạy và học, đến năm 2015, 100% giảng viên đại học, cao đẳng và
với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực. PPDH
tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người
học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập
trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương
pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
1.2. Xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là một trong những thành tố quan trọng nhất của quá trình
dạy học. Nếu không có một PPDH phù hợp thì việc đổi mới sẽ khó có thể đồng bộ để
phát huy năng lực, khả năng chủ động và xu thế phát triển toàn diện người học trong
nhà trường. Vì thế, việc đổi mới PPDH là một nhu cầu thiết thực đang được đặt ra.
1.2.1. Những nét đặc trưng cơ bản của xu thế đổi mới PPDH hiện nay
1.
2.
Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học. Chuyển
trọng tâm hoạt động từ GV sang HS. Chuyển lối học từ thông báo tái hiện
sang tìm tòi, khám phá. Tạo điều kiện cho HS học tập tích cực, chủ động,
sáng tạo.
Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt
đời. Không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, trang bị cho HS
9
3.
4.
5.
6.
các mối quan hệ xã hội, thể hiện ở chỗ tích cực tiếp thu có chọn lọc tất cả những tác
động bên ngoài để sáng tạo và xây dựng nhân cách riêng của mình. Nguồn gốc của
tính tích cực là nhu cầu. Con người sinh ra cùng với một loạt nhu cầu bẩm sinh khác
nhau, ví dụ nhu cầu ăn, uống,…và sau đó xuất hiện nhu cầu xã hội…Những nhu cầu
này không bao giờ cạn và luôn trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động. Khi
nhu cầu nhận thức xuất hiện thì nó sẽ thúc đẩy hoạt động học tập.
Lí luận dạy học cũng chỉ ra rằng, muốn xây dựng động lực của quá trình dạy
học có hai điều quan trọng cần phải lưu ý:
Phải biến yêu cầu của chương trình dạy học thành nhu cầu nhận thức của
người học bằng cách tạo dựng các tình huống nhận thức, đưa học sinh tới
đỉnh điểm của những mâu thuẫn chứa đựng những khó khăn vừa sức đối
với HS.
• Phải giáo dục tính tích cực, tự giác học tập và tạo điều kiện cho những cố
gắng vươn tới của HS bằng khả năng của mình.
Trong quá trình lĩnh hội kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo ở HS, tính tích cực được thể
hiện từ cấp độ thấp nhất đến cấp độ cao nhất như sau:
•
10
Bắt chước: tính tích cực thể hiện ở sự cố gắng làm theo mẫu hành động,
thao tác, cử chỉ hành vi hay nhắc lại những gì trải qua…
• Tìm hiểu và khám phá: tính tích cực thể hiện ở sự chủ động hoặc ý muốn
hiểu thấu đáo vấn đề nào đó, sau đó có thể tự giải quyết vấn đề…
• Sáng tạo: tính tích cực thể hiện ở khả năng linh hoạt và hiệu quả trong
giải quyết vấn đề…
Trong quá trình dạy học, GV là chủ thể tổ chức, điều khiển và HS là chủ thể
hoạt động học tập tích cực chủ động và sáng tạo. GV phải cải tiến không ngừng PPDH
và giúp HS cải tiến phương pháp học.
của nó thì chúng cũng không được gọi là PPDH tích cực.
Như vậy, đổi mới PPDH không phải là sự thay thế các phương pháp quen thuộc
hiện có bằng những phương pháp mới lạ. Thực chất, chúng ta phải hiểu lại cho đúng
11
cách làm, cách tiến hành các PPDH, và cách linh hoạt sáng tạo trong sử dụng nó ở
những hoàn cảnh và tình huống khác nhau để những PPDH có tác động tích cực đến
người học. Ngoài ra, cùng với sự phát triển của phương tiện dạy học, một số PPDH
hiện đại cần được bổ sung vào PPDH của GV.
Tóm lại, không có một PPDH nào là không hiệu quả, mỗi phương pháp đều có
những giá trị riêng của nó. Tính hiệu quả hay không hiệu quả của phương pháp phụ
thuộc vào người sử dụng biết phát triển và thích nghi nó đến mức độ nào. Nếu các
PPDH được kết hợp và bổ sung cho nhau thì cách dạy học ấy sẽ phù hợp với đối
tượng học đa dạng, chống sự nhàm chán và tạo ra sự năng động trong cách nghĩ, cách
làm của HS.
c.
Đổi mới PPDH theo hướng phát triển khả năng tự học của HS
Cần hình thành cho HS phương pháp tự học, tăng cường các hoạt động tự tìm
kiếm tri thức hay ứng dụng tri thức vào cuộc sống.
Nguồn gốc của tính tích cực là nhu cầu. Khi đứa trẻ có nhu cầu thì nó sẽ tự giác tìm
kiếm tri thức. Khi phát hiện các tình huống mâu thuẫn của lí thuyết hay thực tế mà
bằng kiến thức cũ không thể giải quyết được, HS buộc phải tìm con đường khám phá
mới.
Đối với HS, tính tích cực bên trong thường nảy sinh do những tác động từ bên
ngoài. GV phải tạo ra hàng loạt các mâu thuẫn, khéo léo lôi cuốn, hấp dẫn HS để họ tự
ý thức tiếp nhận và tìm tòi cách giải đáp.
Khả năng tự học là năng lực rất quan trọng cho sự thành đạt của mỗi cá nhân.
Muốn vậy, người GV cần hướng dẫn HS phương pháp tự học sao cho hiệu quả, thí dụ
Phải quan tâm đến hứng thú, xu hướng, khả năng của từng người trong môi trường tập
thể cũng như trong tự học. Suy cho cùng kết quả học tập là thành quả cụ thể, trực tiếp
của từng cá nhân nên phải chú ý đến dạy cá nhân.
e.
Đổi mới PPDH theo hướng tăng cường kĩ năng thực hành
Mục đích cuối của quá trình dạy học là tạo ra năng lực thực tiễn cho người học.
Đổi mới theo hướng này HS được:
•
•
•
•
•
•
•
Thao tác hành động thực tế.
Học qua tình huống thực tiễn cuộc sống.
Giải thích được thực tiễn bằng lí thuyết đã học.
Thực hành trao đổi, phối hợp, hợp tác trong nhóm.
Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong nói và viết.
Rèn luyện kĩ năng cùng chung sống.
Đi vào cuộc sống thực để có kinh nghiệm thực tế.
Đổi mới PPDH theo hướng sử dụng phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy
học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy
học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Việc sử
dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học
và phương pháp dạy học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các
Cả thầy và trò cần đánh giá kết quả đạt được trong hoạt động của mình theo hệ mục
tiêu đã đề ra.
Trong đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý
cả quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực
không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức
trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp.
Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác
nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa
trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Hiện nay ở Việt Nam có xu hướng
chọn hình thức trắc nghiệm khách quan cho các kỳ thi tốt nghiệp hay thi tuyển đại
học. Trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng cho các kỳ thi này. Tuy nhiên
trong đào tạo thì không được lạm dụng hình thức này. Vì nhược điểm cơ bản của trắc
nghiệm khách quan là khó đánh giá được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải
quyết các vấn đề phức hợp.
h.
Đổi mới PPDH theo hướng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài học và
xây dựng mục tiêu bài học
Các thành tố của quá trình dạy học: mục đích, nhiệm vụ, nội dung, hình thức tổ
chức, phương pháp và phương tiện dạy học, đánh giá cùng với môi trường văn hóa –
chính trị - xã hội – kinh tế - khoa học – kĩ thuật, gia đình, nhà trường và cộng đồng.
Muốn nâng cao chất lượng quá trình dạy học phải nâng cao chất lượng của từng thành
tố, đồng thời nâng cao chất lượng của toàn hệ thống.
Khi thiết kế bài giảng và lập kế hoạch bài học, GV cần quán triệt các thành tố
liên quan. Nếu coi bài dạy là một kịch bản thì kế hoạch bài học là sự dàn cảnh.
1.
Trong bài dạy, mục đích và mục tiêu của bài học phải đề ra rõ ràng, có thể
lượng hóa, từ đó có thể đo được và đánh giá được kết quả một cách khách quan. Mục
đích của hoạt động dạy học là tổ chức điều khiển quá trình học, giúp HS lĩnh hội nền
trường chịu trách nhiệm.
1.3. Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
•
1.3.1. Khái niệm tính tích cực và tích cực hóa
Tính tích cực là khái niệm biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối
tượng. Ngoài ra, nó cũng là một khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi
thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đó.
Sự nỗ lực diễn ra trên nhiều mặt:
• Sinh lí: đòi hỏi chi phí nhiều năng lượng cơ bắp.
• Tâm lí: tăng cường các hoạt động cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng..
• Xã hội: đòi hỏi tăng cường mối liên hệ với môi trường bên ngoài…
Vì vậy, tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách có quan hệ, chịu ảnh hưởng
của rất nhiều nhân tố như:
• Nhu cầu- tích cực nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó.
• Động cơ – tích cực vì hướng tới những động cơ nhất định.
• Hứng thú – do bị lôi cuốn bởi những sự say mê vì sự biến
đổi , cải tạo một
hiện tượng nào đó.
Tóm lại, tính tích cực nói chung là sản phẩm rất quan trọng của con người, được
hình thành từ rất nhiều lĩnh vực, nhiều nhân tố, có quan hệ với rất nhiều phẩm chất
khác của nhân cách và với môi trường, điều kiện mà chủ thể hoạt động và tồn tại.
Quan điểm như vậy cho phép chúng ta hiểu rõ bản chất của tính tích cực và cho
phép xây dựng một kế hoạch phong phú và toàn diện hơn khi muốn tích cực hóa con
người nhằm tổ chức họ tham gia một hoạt động nào đó có hiệu quả, trên cơ sở tập hợp
15
quyết mới, khả năng sử dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong tình huống, hoàn
cảnh mới. Như vậy, tính tích cực sáng tạo không phải là một nét riêng của tính cách cá
nhân, mà là một hợp những dấu hiệu đặc trưng của một con người.
Tính tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và của các nhà
giáo nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đối tượng tiếp
nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.
Làm cho người đọc từ chỗ lơ là, lười biếng đến chỗ tích cực, say mê học hành là
cả một công việc khó khăn, đòi hỏi trí sáng tạo và sự dày công của các nhà giáo dục.
1.3.2. Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức ở học sinh
Có ba dấu hiệu rõ nhất giúp giáo viên nhận biết học sinh của mình tích cực
trong quá trình nhận thức:
16
• Thứ
nhất là những dấu hiệu bề ngoài qua thái độ, hành vi và hứng thú:
Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhận
thức, trong đó cá nhân không những dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật,
hiện tượng, mà hướng vào các thuộc tính bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận
thức.
Hứng thú nhận thức là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường
biểu lộ ra ngoài dưới dạng tò mò, lòng khao khát cái mới…Dưới ảnh hưởng của hứng
thú nhận thức, các em tích cực tri giác hơn và tri giác sâu sắc hơn, tinh tế hơn, trí nhớ
cảm xúc, trí nhớ hình ảnh diễn ra tích cực hơn, tưởng tượng trở nên sáng tạo hơn và có
hiệu quả hơn… Như vậy, nhờ có hứng thú nhận thức mà hoạt động diễn ra thuận lợi
hơn, lâu hơn và có hiệu quả hơn.
Việc thỏa mãn hứng thú còn tạo ra hứng thú mới, nâng cao mức độ hoạt động
nhận thức. Độ bền vững của hứng thú, một mặt được thể hiện bằng thời gian tồn tại và
cường độ của hứng thú, mặt khác được xác định bằng sự nỗ lực của cá nhân vượt qua
Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được vào việc giải quyết các
tình huống và các bài tập khác nhau, đặc biệt là vào việc xử lí các tình huống mới.
Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát.
Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý mình.
Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ
nhận thức như tự tin khi trả lời câu hỏi, có sáng kiến, tự tìm ra một vài cách giải quyết
khác nhau cho các bài tập và tình huống, biết lựa chọn cách giải quyết hay nhất.
Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức, như sự nỗ lực, cố gắng
vượt qua các tác động nhiễu bên ngoài và các khó khăn để thực hiện đến cùng nhiệm
vụ được giao, sự phản ứng khi có tín hiệu thông báo hết giờ.
• Thứ ba là kết quả học tập:
Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính
tích cực nhận thức. Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới
có kết quả học tập tốt.
1.3.3. Vai trò của tính tích cực nhận thức trong học tập
Học sinh là chủ thể của quá trình học tập vì vậy học tập chỉ có kết quả nếu học
sinh có ý thức chủ động tích cực và sáng tạo. Thông qua việc nắm vững tri thức, hình
thành cho mình những kỹ năng, kỹ xảo, phát riển năng lực tư duy mà nhân cách các
em ngày càng phát triển.Nếu như các em không chịu học tập, không có động cơ học
tập trong sáng, không có cố gắng vươn lên thì không bao giờ đạt kết quả tốt được.
Việc học tập của học sinh chỉ có kết quả cao khi chính các em ý thức được nhiệm vụ
học tập của mình, biết tự chuyển hóa những yêu cầu của xã hội thành nhu cầu học tập
của bản thân và cố gắng khắc phục qua khó khăn để đạt được mục tiêu đã định.
Như vậy tính tích cực chính là một điều kiện quan trọng để học sinh đạt kết quả
cao trong học tập.Qua quá trình đào sâu suy luận, hợp tác trong học đường mà giúp
cho khả năng ghi nhớ, lưu giữ trong con người tốt hơn, vững chắc hơn. Do đó tính tích
cực sáng tạo trong học tập có vai trò qua trọng trong việc tiếp thu, nắm vững tri thức.
Ngoài ra nó còn là một động lực của quá trình dạy và học. Với lối dạy chủ yếu
là truyền đạt, thông báo – tái hiện và với cách học thụ động của học sinh thì kết quả
học tập sẽ bị hạn chế. Nhưng nếu coi dạy học là hoạt động phối hợp hai chủ thể (giáo
tâm tư nguyện vọng của học sinh, luôn quan tâm đến mối quan hệ thầy trò. Người thầy
dạy học sinh không chỉ bằng kiến thức, kỹ năng mà còn bằng cả nhân cách của mình.
Tình cảm và mối quan hệ thầy trò luôn luôn ảnh hưởng đến chất lượng kết quả học
tập. Học sinh khó có thể yêu thích môn học khi họ chán ghét thầy dạy mình. Còn quan
hệ thầy trò tốt sẽ có tác dụng tích cực trong việc hình thành niềm tin, quan điểm, thói
quen của học sinh.
• Sử
dụng các phương pháp dạy học một cách linh hoạt:
Sự đa dạng các phương pháp dạy học là một yếu tố thuận lợi cho người thầy
phát huy mặt mạnh và khắc phục những mặt yếu của mỗi phương pháp vì không có
phương pháp nào tối ưu. Mỗi khi thay đổi phương pháp dạy học là đã thay đổi cách
thức hoạt động tư duy của học sinh, thay đổi sự tác động vào các giác quan giúp cho
các em lâu mệt mỏi khi đó sự tập trung học tập đạt mức độ cao nhất. Ngoài ra, mỗi
học sinh khác nhau sẽ thích ứng với phương pháp dạy học khác nhau. Với việc sử
dụng đa dạng các phương pháp sẽ tạo điều kiện cho những học sinh khác nhau lần lượt
tìm thấy các tình huống có lợi trong các dạng hoạt động thích hợp với bản thân. Vì vậy
mà việc kết hợp khéo léo, linh hoạt giữa các hình thức dạy học khác nhau như: ứng
dụng hóa lí thuyết vào trong cuộc sống, kể chuyện vui, so sánh…ở từng thời điểm
thích hợp trong hoạt động học tập sẽ tạo không khí lớp sinh động, hứng thú và có
nhiều cơ hội hoạt động tích cực hơn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học, học sinh
tiếp thu bài tốt hơn sẽ yêu mến môn học, tình cảm thầy trò ngày càng gắn bó.
• Động
viên khuyến khích:
Trong một lớp học thì luôn có sự chênh lệch về trình độ giữa các học sinh. Một
giáo viên chân chính luôn hướng tới cái đích là mọi thành viên trong lớp đều hoạt
19
Có rất nhiều định nghĩa về PPDH nhưng có một cách nhận định phù hợp
nhất đó là: PPDH là một hệ hệ thống liên tục của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận
thức và thực hành của HS để HS lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo
dục nhằm đạt mục tiêu đã định.
PPDH bao gồm hai mặt hoạt động : hoạt dộng của thầy và hoạt động của trò,
trong đó thầy giữ vai trò chỉ đạo còn trò giữ vai trò chủ động và tích cực. PPDH luôn
được đặt trong mối quan hệ giữa mục tiêu, phương pháp, phương tiện, và những điều
kiện khác.
Phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là một cách nói ngắn gọn, được dùng nhiều ở nước ta, để chỉ
những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
b.
20
“Tích cực” trong PPHD tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái
nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo trái nghĩa với tiêu cực.
Người ta thường dùng các khái niệm như: tư duy tích cực, tư duy độc lập, tư
duy sáng tạo,để chỉ ba mức độ tư duy khác nhau của HS. Mức độ tư duy đi trước sẽ là
tiền đề cho mức độ tư duy đi sau.
1.4.2. Đặc trưng của PPDH theo hướng tích cực[7]
a. Tổ
chức các hoạt động đa dạng và phong phú
Tổ chức hoạt động đa dạng phong phú để giúp HS lĩnh hội kiến thức và hình
thành kĩ năng. Điều này có nghãi là phải tổ chức cho HS hoạt động một cách tích cực,
HS là người tham gia các hoạt động ấy, chúng tự tìm tòi, khám phá … dưới sự hướng
Bạn đặt những câu hỏi mà HS có thể trả lời được hay không?
Bạn có thể cho HS có đủ thời gian trả lời hay không?
Bạn có sử dụng ngôn ngữ của mình chỉ để khuyến khích HS trả lời
hay không?
Bạn có tránh làm cho HS ngại ngùng với câu trả lời của mình không?
Nếu không có ai trả lời, bạn có thể đặt một câu hỏi khác đơn giản hơn
nhằm gợi mở cách trả lời cho câu hỏi ban đầu không?
Câu hỏi của bạn có ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu không?
Bạn có khen ngợi hay ghi nhận câu trả lời đúng của học sinh không?
21
8
9
10
Bạn có tránh được việc chuyên sử dụng câu hỏi ghi nhớ hay không?
Bạn có thể phân phối câu hỏi đều cả lớp hay không?
Trong khi giảng bài, bạn có khả năng đặt hai câu hỏi mỗi phút?
d. Linh
hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm
Linh hoạt trong sử dụng PPDH, ứng xử sư phạm để thích ứng sự thay đổi của
đối tượng và hoàn cảnh là yếu tố quan trọng cho sự thành công của mỗi bài dạy. Phối
hợp nhiều PPDH sẽ giúp cho HS đỡ nhàm chán và có hứng thú hơn với môn học. Hơn
nữa sự phong phú về PPDH sẽ đáp ứng được yêu cầu giáo dục cá biệt và đáp ứng
được lớp học đông người. Mỗi HS có những thói quen hoạt động trí óc khác nhau nên
những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy có khả năng vượt qua, nhưng
không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy
nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có.
Các bước chủ yếu
22
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề
Bước 2: Trình bày vấn đề và đặt mục tiêu giải quyết
Bước 3: Giải quyết vấn đề
a) Tìm giải pháp
Tìm cách giải quyết vấn đề, thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
Giải thích sơ đồ
• Phân
tích vấn đề: làm rõ mối liên hệ giữa cái đã biết và cái cần tìm (dựa vào những tri
thức đã học, liên tưởng tới kiến thức thích hợp)
• Hướng
dẫn HS tìm chiến lược giải quyết vấn đề thông qua đề xuất và thực hiện hướng
giải quyết vấn đề. Cần thu thập, tổ chức dữ liệu, huy động tri thức; sử dụng những
phương pháp, kĩ thuật nhận thức, tìm đoán suy luận như hướng đích, quy lạ về quen,
đặc biệt hóa, chuyển qua những trường hợp suy biến, tương tự hóa, khái quát hóa, xem
xét những mối liên hệ phụ thuộc, suy xuôi, suy ngược tiến, suy ngược lùi,... Phương
hướng đề xuất có thể được điều chỉnh khi cần thiết. Kết quả của việc đề xuất và thực
hiện hướng giải quyết vấn đề là hình thành được một giải pháp.
xuất những vấn đề mới có liên quan nhờ xét tương tự, khái quát hóa, lật ngược
vấn đề,... và giải quyết nếu có thể.
Ưu điểm
• Phương
pháp này góp phần tích cực vào việc rèn luyện tư duy phê phán, tư duy sáng tạo
cho HS. Trên cơ sở sử dụng vốn kiến thức và kinh nghiệm đã có HS sẽ xem xét, đánh
giá, thấy được vấn đề cần giải quyết.
• Đây
là phương pháp phát triển được khả năng tìm tòi, xem xét dưới nhiều góc độ khác
nhau. Trong khi phát hiện và giải quyết vấn đề, HS sẽ huy động được tri thức và khả
năng cá nhân, khả năng hợp tác, trao đổi, thảo luận với bạn bè để tìm ra cách giải
quyết vấn đề tốt nhất.
• Thông
qua việc giải quyết vấn đề, HS được lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phương pháp
nhận thực ("giải quyết vấn đề" không còn chỉ thuộc phạm trù phương pháp mà đã trở
thành một mục đích dạy học, được cụ thể hóa thành một mục tiêu là phát triển năng
lực giải quyết vấn đề, một năng lực có vị trí hàng đầu để con người thích ứng được với
sự phát triển của xã hội)
•
chỉnh đốn lại, cấu trúc lại cách nhìn đối với bộ phận tri thức còn lại mà họ đã lĩnh
hội không phải bằng con đường phát hiện và giải quyết vấn đề, thậm chí có thể cũng
không phải nghe GV thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề. Tỉ trọng các vấn đề
người học phát hiện và giải quyết vấn đề so với chương trình tùy thuộc vào đặc điểm
của môn học, vào đối tượng HS và hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, phương hướng
chung là: Tỉ trọng phần nội dung được dạy theo cách để phát hiện và giải quyết vấn
đề không chiếm hết toàn bộ môn học những cũng phải đủ để người học biết cách
thức, có kĩ năng giải quyết vấn đề và có khả năng cấu trúc lại tri thức, biết nhìn toàn
bộ nội dung còn lại dưới dạng đang trong quá trình hình thành và phát triển theo cách
phát hiện và giải quyết vấn đề.
• Các
vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:
+
Phù hợp với chủ đề bài học
+
Phù hợp với trình độ nhận thức của HS
+
Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS
+