Sở giáo dục & đào tạo Lao Cai
Trờng THPT số 2 Bát Xát
_________________
_________________
P DNG PPDH TCH CC NHM GIP HC SINH
PHT HUY TNH SNG TO TRONG GI C HIU
TC PHM VN HC CHNG TRèNH NG VN 12 Mụn: Ng vn
Tờn tỏc gi: Dng Qunh Hng
Giỏo viờn mụn: Ng vn
Chc v: T trng chuyờn mụn
Ti liu kốm theo: khụng
3. Minh họa đọc – hiểu tác phẩm……………………………………….13
III/ Kết quả thực hiện………………………………………………… 17 Danh mục tài liệu tham khảo 19
PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1/ Lí do chọn đề tài.
Từ nhiều năm nay, việc dạy học môn Ngữ văn được thực hiện theo
phương pháp truyền thống thiên về lí thuyết, thầy cô giáo soạn bài giảng,
truyền thụ đến học sinh, học sinh tiếp thu thụ động kiến thức ấy, ghi nhớ và
vận dụng vào bài kiểm tra. Cứ như thế thành một chu kì khép kín. Phương
pháp dạy học này có những ưu điểm riêng không thể phủ nhận được là đã đạt
những kết quả đáng kể trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi. Tuy nhiên trong
môi trường giáo dục ngày nay phương pháp truyền thống ấy cũng bộc lộ
không ít nhược điểm như: Học sinh thụ động, chỉ biết tiếp nhận một chiều chứ
không tự nghiên cứu, tìm hiểu. Như thế, hậu quả khó tránh khỏi là học sinh
dần dần mất đi năng lực tư duy, tự cảm thụ tác phẩm mà chỉ chấp nhận và sao
chép lại cảm thụ của thầy cô; Giáo viên chỉ thuyết giảng, thỉnh thoảng lại đặt
vào câu hỏi chiếu lệ sẽ không thể nắm bắt được hiệu quả tiếp thu cũng như
quan điểm, thái độ của học sinh. Cảm nhận văn học mang tính chủ quan của
giáo viên không có sự phản hồi từ học sinh sẽ dễ trở thành khiên cưỡng áp đặt;
Giờ đọc văn vì không có sự tương tác qua lại giữa thầy và trò nên dần trở nên
Một thực tế cho thấy, chất lượng giáo dục ở các trường THPT hiện nay
chưa đáp ứng mục tiêu đào tạo. Do khả năng nhận thức của cha mẹ học sinh
còn hạn chế, chưa chú trọng đến việc học hành của con cái, nên chưa có ý thức
nhắc nhở, động viên con em mình đến trường, chưa làm cho con em mình thấy
được giá trị của việc học; do các thầy cô giáo áp dụng các phương pháp dạy
học chưa phù hợp, chưa tạo ra được sức hút để học sinh đến trường. Nếu có sự
phối kết hợp tốt giữa gia đình và nhà trường, nếu các thầy cô giáo thực hiện tốt
việc đổi mới PPDH theo hướng tích cực thì chất lượng dạy - học sẽ được nâng
cao lên rõ rệt. Đặc biệt là trường THPT số 2 Bát Xát.
5/ Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện đổi mới chương trình SGK và
phương pháp dạy học. - Thường xuyên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực trong các
giờ đọc - hiểu tác phẩm văn học nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh.
- Thực hiện biện pháp tác động nhằm cải tạo thực trạng để nâng cao
chất lượng dạy và học.
6/ Phương pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu đề tài này tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên
cứu sau:
- Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Đọc sách và tài liệu tham khảo
có liên quan đến đề tài, để khái quát những vấn đề, làm cơ sở cho vệc nghiên
cứu thực tiễn.
- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát theo dõi học sinh hoạt động
trong tất cả các giờ đọc - hiểu tác phẩm văn học.
+ Phương pháp An két: Xây dựng một hệ thống câu hỏi ghi trên phiếu bài
tập, tìm hiểu mức độ nhận thức, biểu hiện, nguyên nhân của các em để có
những biện pháp khắc phục.
1. Trong bộ môn văn học ở trường phổ thông trung học nhiều năm nay
thực tế đã có nhiều đổi mới đáng kể nhưng vẫn còn có hiện tượng học sinh học
theo kiểu cũ: đọc thuộc, sao chép, nói lại ý sách vở thầy cô mà không hoặc ít
có sự sáng tạo khi tiếp xúc tác phẩm văn chương.
2. Hiện tượng ít tập trung suy nghĩ, ít tìm tòi ở học sinh phải được khắc
phục dần qua những giờ dạy của giáo viên ở trên lớp và cách học của học sinh.
3. Thị trường sách hiện nay: Sách in ấn nhiều, giảng giải cụ thể tác
phẩm, học sinh mua về chép lại một cách máy móc mà không suy nghĩ, sáng
tạo do đó dẫn đến tình trạng mù kiến thức.
4. Khi tiếp xúc với tác phẩm văn học, học sinh chỉ hiểu theo một chiều,
ít chịu khó phát hiện, vốn từ ngữ nghèo, diễn đạt kém. Vì vậy, không đạt hiệu
quả cao khi cảm nhận tác phẩm văn chương.
B- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
I/ Vài nét khách thể nghiên cứu.
Trường THPT số 2 Bát Xát là một trường vùng cao mới được thành lập,
điều kiện thiết yếu để phục vụ cho dạy của giáo viên và học của học sinh còn
nhiều thiếu thốn. Đây lại là nơi tập trung đại đa số đồng bào dân tộc thiểu số
có trình độ dân trí thấp với nếp sống lạc hậu từ bao đời nay. Điều này đã ảnh
hưởng không nhỏ tới việc dạy học của giáo viên và việc học tập của học sinh,
nhất là trong điều kiện kinh tế và việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học hiện nay. Tuy nhiên, bằng sự nỗ lực và lòng yêu nghề, chúng tôi đã dồn
tâm huyết của mình vào công việc mà ngành đã giao cho với mong muốn làm
cho các em học sinh vùng cao có vốn sống và vốn kiến thức nhất định, để các
em vững bước vào cuộc sống sau này. Để làm được điều đó thì phải phát huy
được tính chủ động, sáng tạo của các em, tạo điều kiện để các em được hoạt
động, từ đó tạo sự ham muốn được đến lớp mà biện pháp hữu hiệu nhất là phải
đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Vì thế, GV cần phải linh
cái đúng, cái hay của nó và bằng tài năng của mình người thầy phải cảm thụ,
cảm nhận một cách toàn diện để sau đó từng bước đưa HS bước vào tác phẩm
mà phân tích, cảm thụ và hiểu tác phẩm một cách đầy đủ, đúng đắn.
Trong cảm nhận tác phẩm văn học, người đọc phải dùng liên tưởng,
tưởng tượng để hình dung, để hiểu ý đồ, quan niệm nghệ thuật, tư tưởng nhà
văn trong tác phẩm, bởi vì nhà văn đã dùng liên tưởng, tưởng tượng làm
phương tiện, cách thức, thủ pháp nghệ thuật để sáng tác tác phẩm văn học.
Quá trình tiếp xúc, tiếp thu một giờ giảng văn trên lớp của học sinh phải nhờ
ào tài năng, kĩ năng của người thầy qua các thao tác đọc, phân tích, bình giảng,
nhận xét để bằng các giác quan, học sinh có thể hiểu tác phẩm qua hệ thống
ngôn ngữ, hình tượng, các thủ pháp nghệ thuật trong tác phẩm. Sự dẫn dắt của
người thầy rất quan trọng, vì thế thầy muốn dẫn dắt học sinh bước vào khám
phá tác phẩm thì trước hết phải hiểu tác phẩm, thâm nhập vào tác phẩm một
cách tự nhiên, thoải mái và có khả năng phân tích, đánh giá tác phẩm và qua
sự cảm thụ của mình hướng cho học sinh cảm thụ cái hay, chỗ độc đáo của tác
phẩm để từ đó từng bước hiểu ra vấn đề nhà văn đặt ra và giải quyết trong tác
phẩm. Đề cập đến bản chất của giờ giảng văn, GS Đặng Thai Mai cho rằng:
“giảng văn trước hết là theo dõi trong nếp áng văn tất cả cái tinh vi về tư
tưởng, cái độc đáo về nghệ thuật của một tác giả. Hiểu như vậy giảng văn
trước hết là chỉ ra sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, giữa kĩ thuật và
tư tưởng trong một tác phẩm văn chương”( Giảng văn Chinh phụ ngâm -
Đặng Thai Mai - ĐHSPI HN; 1992). Vậy thì muốn chỉ ra sự thống nhất ấy
trong tác phẩm rõ ràng lao động của giáo viên dạy văn vừa phải có tính nghệ
thuật vừa phải có tính sư phạm. Mà tính nghệ thuật của giờ giảng văn tất nhiên
lại phải phụ thuộc vào tài năng của giáo viên và trình độ, khả năng của học
sinh. Như trên đã nói, tiếp xúc với tác phẩm văn chương, học sinh cần có sự
liên tưởng, tưởng tượng phong phú, rõ ràng mới có thể cảm nhận được cái hay
sĩ, một vài hình ảnh minh hoạ hoặc các tài liệu quý hiếm giúp học sinh hiểu
sâu thêm tác phẩm.
Ví dụ:
- Giảng bài “ Ai đã dặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc
Tường, ta có thể dẫn dắt học sinh bằng lời giới thiệu, lời dẫn về con sông
Hương của Huế ở vẻ đẹp tự nhiên, văn hoá, lịch sử; hoặc cho học sinh nghe
đoạn nhạc “Dòng sông ai đã đặt tên?” kết hợp trình chiếu một số hình ảnh về
sông Hương, xứ Huế và hỏi cảm nhận của học sinh về dòng Hương.
- Giảng bài “ Sóng ” của Xuân Quỳnh, ta có thể bắt đầu bằng một đoạn
bài hát về biển, một bài thơ có cùng chủ đề hoặc một trò chơi từ đó gợi dẫn về
vấn đề cơ bản cần tìm hiểu trong tác phẩm.
- Giảng bài “Đàn ghi ta của Lor – ca” có thể cho học sinh khởi động
bằng cách nghe bài hát Cây đàn ghi ta của Lor – ca để tạo tâm thế và để học
sinh cảm nhận được phần nào về Lor – ca. Phần tìm hiểu về hình tượng Lor -
ca có thể trình chiếu một vài hình ảnh biểu tượng cho văn hóa Tây Ban Nha để
học sinh hiểu rõ hơn những hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng, siêu thực
trong bài. Ví dụ: hình ảnh đàn ghi ta, hình ảnh đấu sĩ và bò tót, hình ảnh áo
choàng đỏ gắt, hình ảnh hoa li - la, thiếu nữ di gan…
2. Trong giảng văn, giọng đọc của giáo viên như trên đã nói là rất quan
trọng. Với giọng đọc của mình, giáo viên có thể đã và đang truyền thụ được
cái hồn của tác phẩm cho học sinh. Qua giọng đọc của thầy, học sinh đã có thể thấy mở ra trong tâm trạng, trong cảm xúc và tư duy những gì cần lĩnh hội.
Đọc đúng, đọc diễn cảm đòi hỏi sự luyện tập công phu của người thầy. Nhiều
đoạn thơ, đoạn văn thầy không cần giảng, bình mà chỉ đọc đã có thể mở ra cho
trò bao nhiêu điều thú vị. Tuy nhiên không chỉ có thầy đọc mà thầy phải có
trách nhiệm tập luyện cho học sinh thói quen đọc đúng, đọc diễn cảm văn bản
bởi vì đầu chính là khâu đầu tiên giúp học sinh cảm nhận tác phẩm văn
chương bằng chính giọng đọc của mình để cảm thụ đúng tác phẩm, cảm thụ
có trong văn bản.
Ví dụ: Khi tìm hiểu bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh, để chỉ ra được kết
cấu nghệ thuật của bài thơ và thấy được sự tương đồng giữa “sóng” với tâm
hồn người phụ nữ đang yêu, có thể đặt câu hỏi : Giữa sóng và em trong bài
thơ có mối quan hệ như thế nào? Em có nhận xét gì về nghệ thuật kết cấu của
bài thơ? Người phụ nữ đang yêu tìm thấy sự tương đồng giữa các trạng thái
của tâm hồn mình với những con sóng. Hãy chỉ ra sự tương đồng đó.
+ Câu hỏi nêu vấn đề: Đi-xtec-vec nói rằng: “Người giáo viên bình
thường mang chân lí đến cho học trò. Người giáo viên giỏi biết dạy học trò đi
tìm chân lí”. Mà trong thực tế, chân lí nhiều khi ẩn sau những nghịch lí. Ở mỗi
tác phẩm văn chương, đều có những vấn đề, những mâu thuẫn được đặt ra.
Giáo viên giỏi sẽ nắm bắt hoặc tìm cách tạo ra những tình huống có vấn đề để
học sinh chủ động giải quyết.
Ví dụ: Nghệ sĩ Phùng đã chụp bức ảnh con thuyền trên biển sớm mờ
sương từ một cự li rất gần. Hãy lí giải vì sao Nguyễn Minh Châu lại đặt tên
cho tác phẩm của mình là “Chiếc thuyền ngoài xa” ?
*Để phát huy được tính sáng tạo của học sinh, khi xây dựng và sử dụng
hệ thống câu hỏi cần chú ý một số nguyên tắc sau:
- Cần khuyến khích được sự tham gia của tất cả các học sinh trong lớp:
Trình độ học sinh trong một lớp học không thể đồng đều. Tâm lí chung của
người dạy là hay chú ý đến những học sinh thông minh, hăng hái. Và câu hỏi
cũng thường hướng về những em vốn được coi là sáng dạ trong lớp. Như vậy,
những học sinh trung bình hoặc yếu kém thường không có cơ hội để trình bày
ý kiến. Muốn tránh tình trạng này, giáo viên nên chuẩn bị nhiều dạng câu hỏi, có dễ, có khó. Những câu hỏi khó, nếu cần phải có cả câu hỏi gợi ý để khơi
mở cho học sinh con đường đến với chân lí.
- Không nên yêu cầu học sinh trả lời hoàn toàn theo ý mình: Tác phẩm
văn chương vốn đa thanh đa nghĩa. Với mỗi thời đại, mỗi dân tộc, thậm chí
- Thói quen đọc thuộc tác phẩm, ghi nhớ, suy ngẫm tác phẩm, những
câu đoạn mà mình tâm đắc nhất.
- Thói quen liên tưởng, liên hệ với những vấn đề, những tác phẩm khác
có liên quan đến những giá trị cơ bản trong tác phẩm đang học.
- Thói quen lật đi lật lại những vấn đề quan trọng khi cảm nhận phân
tích tác phẩm.
- Thói quen cảm nhận tác phẩm theo nhiều chiều, nhiều khía cạnh
không máy móc thụ động; phải tập trung suy nghĩ, phát hiện những điều mới
lạ ở tác phẩm khi cảm nhận nó qua sự dẫn dắt gợi ý của thầy cô, có nghĩa là
phải có sự cảm nhận của riêng mình.
- Phải biết và có thói quen cảm nhận tác phẩm theo đặc trưng thể loại,
đặc trưng thi pháp.
5. Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh ở giờ giảng văn không chỉ
dừng lại ở những thao tác trên mà nó còn đòi hỏi ở cả thầy lẫn trò một cách
học, cách dạy hợp lý, khoa học, linh hoạt, không phải bài nào cũng giảng và
liên tưởng theo một cách, không phải tác giả tác phẩm nào cũng một dạng lời
bình mà phải tùy thuộc vào hoàn cảnh, tác phẩm cụ thể để hướng dẫn học sinh
cách cảm thụ, cách phát hiện. Về phía học sinh, theo tôi nếu cầu toàn 100%
học sinh đều cảm thụ tốt tác phẩm văn học bằng tư duy của các em thì khó mà
đạt được. Vì vậy phải tùy đối tượng, tùy năng lực cảm thụ văn học của từng
đối tượng mà hướng dẫn chỉ đạo các em phát hiện sáng tạo phù hợp.
6. Để giúp học sinh có được sự sáng tạo trong giờ giảng văn, giáo viên
nên hướng dẫn cho học sinh đi theo con đường thi pháp học bởi vì thi pháp
học sẽ giúp học sinh hiểu đúng, nhanh chóng phát hiện ra những điểm sáng
thẩm mỹ ở tác phẩm. Muốn vậy, người thầy phải nắm và vận dụng linh hoạt,
vững vàng lý luận thi pháp trong quá trình giảng văn. Ví dụ: - Với thơ, nên đi từ mạch cảm hứng, cảm xúc của nhân vật trữ
tình hoặc hình tượng trữ tình trong tác phẩm ( Chẳng hạn khi tìm hiểu bài thơ
1.Giao tiếp: Trình bày, trao đổi về mạch cảm xúc của bài thơ, về giai điệu,
hình tượng người lính Tây Tiến trong bài thơ.
2.Tư duy sáng tạo: phân tích, so sánh, bình luận về vẻ đẹp của bài thơ, về sự
thể hiện hình tượng người lính của bài thơ so với thơ ca CM cùng thời đại.
3.Tự nhận thức về tinh thần yêu nước , ý chí vượt khó của người lính TT, qua
đó tự rút ra bài học cho bản thân.
III/ Chuẩn bị:
GV: SGK, giáo án, tư liệu, hình ảnh minh họa, máy chiếu.
HS : Chuẩn bị bài theo câu hỏi đọc - hiểu.
IV/ Các bước lên lớp:
1. Ổn định tổ chức.
2. Kiểm tra đầu giờ.
3. Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học.
HĐ1: Khởi động
GV cho HS nghe đoạn đầu trong bài hát “Đoàn Vệ quốc quân”: Đoàn vệ
quốc quân một lần ra đi. Toàn thắng vinh quang ghi ngày trở về. Ra đi, ra đi
bảo tồn sông núi. Ra đi, ra đi thà chết chớ lui…
Những lời ca đó cho đến nay vẫn còn âm vang mãi trong lòng người
đọc…
HĐ2: Tìm hiểu chung
1. Tác giả: …
2. Đơn vị Tây Tiến: …
HĐ3: Đọc văn bản:
1.Đọc và giải thích từ khó.
2.Hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ:…
3. Bố cục:…
4. Chủ đề:…
HĐ4: Đọc - hiểu văn bản:
*HS lần lượt được tìm hiểu các nội dung:
đẹp hoang dã, nên thơ mang đậm hồn xứ sở .
3.Hình ảnh người lính Tây Tiến:
GV trình chiếu hình ảnh người lính, ra câu hỏi để học sinh thảo luận nhóm
bàn. (Tìm hiểu nội dung + tích hợp giáo dục kĩ năng sống).
H. Hình ảnh người lính TT hiện lên trong bài thơ như thế nào (bề ngoài, dáng
vẻ, p/c…)? Qua sự phân tích em đánh giá như thế nào về hình tượng này, liên
hệ về tác dụng giáo dục đối với thế hệ trẻ ngày nay?
HS thảo luận bàn (3P) trả lời câu hỏi theo sự gợi dẫn của giáo viên, kết hợp
liên hệ về tác dụng giáo dục. GV chốt các ý chính:
*Hình ảnh những người lính TT được hiện lên với một vẻ đẹp đậm chất bi
tráng:
- Bề ngoài: không mọc tóc, xanh màu lá không gợi sự tiều tuỵ mà gợi
nên dáng vẻ oai hùng, dũng mãnh.
- Điều kiện sống, chiến đấu hết sức gian khổ: “áo bào thay chiếu…”
- Vẻ đẹp tâm hồn:
+ Họ là những chàng trai hào hoa, lãng mạn,lạc quan, yêu đời.
“Mắt trừng….kiều thơm”
+ Có lí tưởng cao đẹp, quyết tâm xả thân vì tổ quốc.
"Rải rác biên cương…
…độc hành"
Tiểu kết: Với bút pháp lãng mạn , hiện thực và giọng điệu trang trọng; với sự
kết hợp hài hoà giữa cái bi và cái hùng, tác giả QD đã xây dựng thành công
bức tượng đài nghệ thuật về người lính Tây Tiến với vẻ đẹp lãng mạn, đậm
chất bi tráng
4.Lời thề gắn bó của người lính TT:
HĐ5: Kết thúc đọc hiểu:
HĐ6: Củng cố - hướng dẫn học bài: III. Kết quả thực hiện:
6,2%
Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy sau thực nghiệm chất lượng học tập
của học sinh được nâng lên rõ rệt. Cụ thể số học sinh khá giỏi tăng, học sinh
trung bình, yếu giảm đáng kể. Điều đó cho thấy đề tài bước đầu mang tính khả
thi.
PHẦN BA: KẾT LUẬN
Góp phần khơi gợi và rèn luyện sự sáng tạo cho học sinh trong giờ đọc
- hiểu là công việc thường xuyên và cần thiết ở tất cả các môn học. Tuy nhiên
ở bộ môn văn các đặc thù của nó vẫn là sự sáng tạo dựa trên sự đồng cảm, sự
cảm nhận của người học qua người dạy văn và văn bản ngôn từ trong tác
phẩm. Sự sáng tạo trong văn chương không hề có sự giống nhau bởi sự liên
tưởng, tưởng tượng ở mỗi người khác nhau, tuy vậy vẫn có chỗ giống nhau
trong tiếp nhận tác phẩm văn học giữa các đối tượng: tác giả - người dạy -
người học. Theo tôi để có sự gặp nhau ấy, cả người dạy và người học phải có
một trường liên tưởng, một sự tưởng tượng phong phú, linh hoạt để từ đó người dạy có thể đưa người học vào tác phẩm bằng hệ thống các câu hỏi,
bằng lời bình, cách đọc, lời phân tích và người học tiếp nhận tác phẩm bằng
quá trình tích luỹ từ ngữ, vốn hiểu biết và khả năng cảm nhận được tác phẩm
văn chương để lĩnh hội từ người dạy những gì tâm đắc nhất, đồng thời mở
rộng tầm hiểu biết, suy nghĩ trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Học sinh nhớ nhiều, học
nhiều là điều đáng khuyến khích nhưng đó quyết không phải là điều chủ yếu.
Điều chủ yếu là dạy học sinh cách suy nghĩ sáng tạo. Chúng ta phải xem lại
cách giảng dạy văn trong trường phổ thông của chúng ta, không nên dạy như
cũ bởi vì dạy như cũ thì không những việc dạy văn không hay mà việc đào tạo
con người cũng không có kết quả. Vì vậy dứt khoát chúng ta phải có cách dạy
khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí óc của mình và
Cảnh sông nước mây trời Tây Bắc thơ mộng (Minh họa 2)
“Ngêi ®i Ch©u Méc chiÒu s¬ng Êy.
Cã thÊy hån lau nÎo bÕn bê”
“Cã nhí d¸ng ngêi d¸ng ngêi trªn ®éc mé
c
Tr«i dßng níc lò hoa ®ong ®a”.