SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT NGÔ QUYỀN
SÁNG KIẾN DỰ THI CẤP TỈNH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP “DẠY HỌC DỰ ÁN” TRONG DẠY HỌC
CÁC BÀI HỌC NHẬT DỤNG - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Tác giả:
Trần Thị Thanh Hương
Trình độ chuyên môn:Thạc sĩ
Chức vụ:
Giáo viên
Nơi công tác:
Trường THPT Ngô Quyền
NAM ĐỊNH, NĂM 2014
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP “DẠY HỌC DỰ ÁN” TRONG DẠY HỌC
CÁC BÀI HỌC NHẬT DỤNG - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn
3. Thời gian áp dụng sáng kiến: năm học 2013- 2014
4. Tác giả:
1. Dạy học dự án là một chiến lược dạy học ở nhiều nước trên thế giới
Mầm mống đầu tiên của dạy học dự án (viết tắt DHDA) đã có trong quan niệm của các
nhà giáo dục kinh điển như Rouseau (1712-1778), H.Pestalozzi (1746-1827), F.Frobel (17821852) và W. Humboldt ... Xuất hiện trước hết từ châu Âu rồi lan sang Bắc Mĩ, ngày nay, DHDA
mang tính tòan cầu. Đã có nhiều công trình của các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về dạy
học dự án, đó là các công trình: J.Deway, W.Kilpatrich (Mĩ), Celestin Freinet (1896-1966) và
Macarenko- nhà sư phạm tiên tiến Liên Xô cũ...
2. Dạy học dự án đã được triển khai rộng rãi trong các trường THPT ở Việt Nam
Ở Việt Nam, DHDA chính thức du nhập vào năm 2003. Có rất nhiều bài viết tiếp cận
DHDA từ góc độ lý luận trên các tạp chí và website; tiêu biểu các tác giả như: PGS.TS Đỗ
Hương Trà, PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa và Võ Thị Bảo Ngọc, TS Nguyễn Văn Cường và
Th.S Nguyễn Thị Diệu Thảo... Ngoài ra, DHDA cũng được nghiên cứu trong các khóa luận và
luận văn tốt nghiệp. Và hằng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo có kế hoạch tập huấn rộng rãi chương
trình Dạy học cho tương lai t(dạy học của Intel, phiên bản 10.4) trong đó có DHDA cho các GV
phổ thông toàn quốc
3. Dạy học dự án là một phương pháp dạy học tích cực đem lại nhiều ưu thế
- Với đặc trưng: dạy học thông qua hoạt động của chính người học nhằm hình thành và phát
triển các kĩ năng tự học, tự nghiên cứu và dạy học dựa trên việc đánh giá, tự đánh giá và cùng
3
đánh giá, phương pháp dạy học dự án ̣ ̣ đã thể hiện được ưu điểm nổi bật của mình trong việc
hướng tới các mục tiêu của giáo dục hiện đại mà UNESCO đề xướng: “Học để biết, học để làm,
học để chung sống, học để tự khẳng định mình”.
- DHDA được vận dụng vào thực tiễn dạy học môn Ngữ văn ở trường THPTsẽ phát huy tính
tích cực, chủ động của HS trong học tập; tạo được hứng thú cho HS và góp phần đa dạng hóa
các PPDH. Bởi lẽ HS sẽ hứng thú hơn với việc học khi có cơ hội thâm nhập vào những vấn đề
phức tạp, mang tính thách thức cao và đôi khi đầy rẫy những vấn đề nhưng rất sát với thực tế
đời sống Vậy nên, DHDA đã trở thành một trong những PPDH “làm cho GV chỉ cần dạy ít mà
HS học được nhiều và làm cho nhà trường bớt sự nhàm chán và bớt sự nhọc nhằn” (GI.
Lớp- Trường
Số HS
Phương án
1/4 bài
2/4 bài
3/4 bài
4/4 bài
10K- Ngô Quyền
47
47
0
0
0
10I- Ngô Quyền
40
0
40
0
0
10D1- Ngô Quyền
45
0
45
0
0
Tổng
132
47
85 (35.6 %)
0 (64.4%)
ghi chép, bản nhưng không làm riêng
thân không ảnh hưởng đến tiến
có ý kiến gì
trình lớp học
7
7
2
8
5
3
7
6
2
22 (35.5 %)
18 (29%)
7(11,5%)
trạng học sinh không thực sự hứng thú với việc học
môn ngữ Văn đồng thời cũng phản ánh tình trạng giáo viên chưa biết cách lôi kéo HS tham gia
tích cực vào giờ dạy của mình.
3. Về kiểm tra đánh giá
5
Việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn ở bậc THPT vẫn có nhiều bất cập, chưa “đo” được
toàn diện năng lực của người học, chưa khuyến khích được sự sáng tạo của HS trong làm bài và
chưa góp phần điều chỉnh, đổi mới PPDH. Các đề kiểm tra hầu như được ra theo dạng “đề
đóng”, tính tích hợp (giữa các phân môn Tiếng Việt, Làm văn, Văn học và liên môn) chưa cao;
các câu hỏi chủ yếu đánh giá HS ở hai mức nhận biết và thông hiểu. Mặt khác việc đánh giá còn
Mang
tính phức
hợp
Tính tự
lực cao
Định
hướng
thực tiễn
Dạy học
dự án
Hợp tác
làm việc
Định
hướng
sản phẩm
- Mục tiêu dạy học trong DHDA mang tính định hướng rõ ràng và được thiết kế dựa trên
chuẩn chuẩn kiến thức và nhắm tới kĩ năng tư duy bậc cao của thế kỉ 21.
- Nội dung dạy học trong DHDA mang tính tổng hợp hoặc liên môn. Vấn đề phải hấp dẫn, sát
với thực tiễn để thiết kế được nhiều hoạt động.
- Phương tiện dạy học trong DHDA rất đa dạng và đặc biệt thuận lợi khi có sự hỗ trợ của các
phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại.
- Kiểm tra, đánh giá trong DHDA mang tính đa chiều: dựa trên việc đánh giá, tự đánh giá và
cùng đánh giá. Việc kiểm tra đánh giá của GV diễn ra trong toàn bộ quá trình hoàn thành nhiệm
20%
Mô tả, trình bày
30%
Thảo luận nhóm
50%
Thực hành
75%
Ứng dụng ngay việc học/ Dạy cho người khác
90%
Nguồn: />- Về năng lực tư duy và kĩ năng
+ Phát triển kĩ năng tự học, tự định hướng và xử lý các vấn đề phức tạp
+ Rèn các kĩ năng: thu thập và xử lí thông tin; công nghệ thông tin và làm việc nhóm
+ Phát triển tư duy sáng tạo; giải quyết vấn đề và kĩ năng thuyết trình
-Về môi trường học tập: tạo ra bầu không khí học tập cởi mở, thoải mái và dân chủ
2.2. Nhược điểm của DHDA
- DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống
- DHDA cần nhiều thời gian và công sức chuẩn bị nên không thể tiến hành một cách thường
xuyên trong chương trình môn học.
- Mặt khác, DHDA đòi hỏi về cơ sở vật chất, tư liệu tham khảo... nên ở những nơi còn thiếu và
yếu về các phương tiện dạy học thì khó triển khai DHDA.
- DHDA yêu cầu phải thay đổi thói quen dạy học cũ của GV và HS
3. Quy trình của “dạy học dự án”
2. Khả năng vận dụng phương pháp “dạy học dự án” trong dạy học các
bài học nhật dụng của môn Ngữ văn THPT
Khái niệm bài học nhật dụng (BHND) được nói đến trong bài nghiên cứu
này để chỉ những bài học mà toàn bộ hay một phần nội dung của bài học có tính
nhật dụng. Như vậy, BHND bao gồm các bài đọc- hiểu các văn bản nhật dụng;
những bài học Làm văn và số ít bài tiếng Việt có hướng tới tính nhật dụng cho học sinh
bằng cách sử dụng các văn bản nhật dụng làm ngữ liệu hoặc gíup HS tạo lập các văn bản
nhật dụng (văn bản viết và văn bản nói)
2.1. Đối với bài đọc- hiểu các Văn bản nhật dụng
a. Đặc điểm bài học
9
Đây là loại văn bản không sử dụng hư cấu, tưởng tượng. Đặc điểm nổi bật của văn bản nhật
dụng là tính thực tiễn và tính cập nhật. Đặc trưng này làm cho lọai bài học này có sức lôi cuốn
người học không những trong hoạt động đọc- hiểu văn bản mà còn cuốn hút họ trong việc sưu
tầm, tìm hiểu các thông tin có liên quan, thống kê số liệu về các vấn đề tương tự đang diễn ra
xung quanh họ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc văn bản nhật dụng trở thành sợi dây kết nối
người học với thực tiễn
b. Mục tiêu bài học
- giúp HS hiểu nội dung của 1 số bài viết về các vấn đề cấp thiết đặt ra trong cuộc sống; biết
cách đọc- hiểu Văn bản nhật dụng và nâng cao ý thức trách nhiệm của cá nhân với xã hội.
- Nhằm đáp ứng được mục tiêu trên, nguyên tắc chỉ đạo trong các giờ đọc- hiểu VBND là: Tổ
chức cho HS liên hệ tới bản thân và các vấn đề nhật dụng có liên quan; Đảm bảo cá nhân trực
tiếp tham gia bài học và kết hợp làm việc trên văn bản lấy từ thực tiễn. Điều này cho thấy, với
bài đọc- hiểu văn bản nhật dụng phải tạo cơ hội nhiều nhất cho HS tham gia đọc- hiểu văn bản
theo hướng tự tìm hiểu, thuyết minh tư liệu liên quan đến chủ đề bài học.
- Từ 2 đặc điểm nêu trên và qua khảo sát kĩ lưỡng từng bài học tiếng Việt trong chương trình,
chúng tôi thấy ngoài nội dung các bài thực hành, một số đơn vị kiến thức là những vấn đề lý
thuyết nhưng rất lại gần gũi, quen thuộc và có liên quan tới thực tiễn giao tiếp trong cuộc sống
hằng ngày của HS. Cụ thể:
- Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ với các nhân tố tham gia giao tiếp, hai quá trình giao
tiếp (tạo lập và lĩnh hội), hai dạng (nói và viết trong giao tiếp), sản phẩm của giao tiếp là văn
bản. Đây là một hoạt động mà các em thường xuyên tiến hành trong cuộc sống gia đình, nhà
trường và ngoài xã hội.
- Các phong cách chức năng: trừ PCNN nghệ thuật thì PCNN sinh hoạt, PCNN báo chí,
PCNN hành chính... cũng không phải là những vấn đề quá xa lạ với HS. Chẳng hạn: ở PCNN
sinh hoạt, ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hằng ngày để thông tin, trao đổi ý nghĩ, đáp ứng
nhu cầu tự nhiên của con người trong cuộc sống. Còn với PCNN báo chí, ngôn ngữ báo chí là
ngôn ngữ được dùng trong các thể loại báo chí (tin tức, phóng sự) thì các em cũng được thấy
thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng: đài, báo, truyền hình,...
c. Khả năng vận dụng dạy học dự án:
Có thể sử dụng DHDA như một biện pháp hoặc một kĩ thuật dạy học nhằm đa dạng hóa các hoạt
động học tập. GV có thể xây dựng dự án nhỏ, thực hiện được trong khỏang thời gian ngắn như
thời gian làm bài tập trong mục Luyện tập ở cuối mỗi bài học. Điển hình ở các bài học về phong
cách ngôn ngữ
2.2.2. Các bài học Làm văn
a. Đặc điểm bài học:
11
Tập trung vào một số nội dung sau: Trình bày một vấn đề; Phát biểu theo chủ đề; Kế hoạch cá
động
⋅
Xây dựng ý tưởng dự án và kịch bản dự án
12
của
giáo viên
⋅
Xác định mục tiêu cần đạt khi thực hiện dự án
⋅
Xác định các nguồn hỗ trợ dạy học
Hoạt động 2: Thiết kế dự án
⋅
Lập kế hoạch bài dạy và soạn giáo án
⋅
Chuẩn bị các tài liệu có liên quan đến dự án
⋅
Nhận nhiệm vụ nhóm; chia nhiệm vụ nhóm thành nhiệm vụ nhỏ hơn
⋅
Họp nhóm, bàn bạc lên kế hoạch thực hiện dự án
Giai đoạn 2: Hoạt động trong giờ học (Thực hiện dự án, báo cáo sản phẩm và đánh giá dự án)
Hoạt động1 Giáo viên
Học sinh
Tổ chức
thực
hiện
dự án
- Nêu lại ý tưởng dự án và nhiệm - Họp nhóm, tập hợp lại tài liệu
vụ đã bàn giao
- Nhóm trưởng thiết lập các vai, giao nhiệm
- Chỉ dẫn cách thực hiện và hạn
vụ cho từng thành viên trong nhóm và tiến
định thời gian
hành thực hiện dự án
- Kiểm tra tiến độ và hỗ trợ kịp - Hòan thiện sản phẩm; thống nhất cách thức
thời khi HS gặp vướng mắc
dự án
tòan nhóm
báo cáo lại cho GV.
Giai đoạn3: Hoạt động sau giờ học
GV
⋅ Bàn giao nhiệm vụ mới cho các nhóm (có chỉ dẫn cụ thể)
Hoạt
⋅ Nhận nhiệm vụ mới và hoàn thiện sản phẩm nhóm
động
củaHS
⋅
Các nhóm rút kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức về bài học
3.2. Vận dụng phương pháp dạy học dự án trong dạy học bài: “Phỏng vấn
và trả lời phỏng vấn” (SGK Ngữ văn 11, tập1)
3.2.1. Giai đoạn 1: Hoạt động trước giờ học
- Hoạt động 1: Chuẩn bị dự án, định hướng bài học
+ Xây dựng ý tưởng dự án và kịch bản dự án:
Để thu thập thông tin cho chuyên mục “Trang vàng truyền thống” của tờ báo Đòan
TNCSHCM trườngnhân dịp kỉ niệm ngày 20/11, em được giao nhiệm vụ phỏng vấn các nhân vật
(Thầy (cô) hiệu trưởng; Một thầy (cô) giáo đã dạy học lâu năm tại trường; bác lao công đã gắn
bó với trường từ ngày thành lập đến nay và Anh (chị) bí thư Đoàn trường)
+ Xác định mục tiêu dự án
+ Xác định các nguồn hỗ trợ dạy và học
- Hoạt động 2: Thiết kế dự án
+ Lập kế hoạch bài dạy và Soạn giáo án
- Từng thành viên báo cáo kết quả và nhóm tổng hợp kết quả,
- Hỗ trợ khi HS gặp vướng mắc
hòan thiện sản phẩm
- Hoạt động 2: Tổ chức báo cáo sản phẩm
+ GV nêu lại nhiệm vụ nhóm, chỉ dẫn về cách thức, thời gian trình bày sản phẩm
+ Các nhóm trình bày sản phẩm và chọn ra sản phẩm ấn tượng nhất
+ GV tổ chức cho HS phân tích cuộc phỏng vấn vừa được chọn
+ Các nhóm trình diễn một hoạt động phỏng vấn và trả lời phỏng
+ GV tổ chức cho HS phân tích cuộc phỏng vấn được chọn và định hướng kiến thức
- Hoạt động 3: Tổ chức thảo luận, đánh giá dự án
3.2.3. Giai đoạn 3: Hoạt động sau giờ học
GV: Bàn giao nhiệm vụ mới: Cung cấp choHS 1đoạn video (đã xóa lời) ghi lại hình ảnh trang
phục của giới trẻ hiện nay. Dựa trên đoạn phim này hãy thực hiện một cuộc phỏng vấn một thầy
(cô) giáo trong trường theo chủ đề:“Về trang phục HS và thanh niên hiện nay”
HS: Nhận nhiệm vụ mới; Rút kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức
III. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
1.Mục đích thực nghiệm
Kiểm nghiệm tính khả thi của DHDA khi dạy học bài học nhật dụng của môn Ngữ văn ở
trường THPT và đánh giá triển vọng của phương pháp này trong việc tạo ra nhiều hứng thú, tích
cực hóa hoạt động của HS
2. Địa điểm, đối tượng và thời gian thực nghiệm
15
+ Thống nhất với HS kế hoạch thực hiện
3.2. Tiến trình thực nghiệm
16
Được tiến hành vào 2 tiết học cùng ngày 4/2014. Các hoạt động cụ thể như sau:
3.2.1. Khởi động bài học (5phút)
GV giới thiệu lại về dự án đã được chuẩn bị trước khi học bài “Viết quảng cáo”:
3.2.2. Thực hiện dự án (30 phút)
Giáo viên
- Nêu lại ý tưởng và kịch bản
dự án đã thống nhất và các
nhiệm vụ đã bàn giao cho
các nhóm
- Chỉ dẫn cách thực hiện và
hạn định thời gian
- Thường xuyên kiểm tra
tiến độ thực hiện dự án của
từng nhóm
- Quan sát bao quát thái độ
làm việc của các thành viên
trong các nhóm
- Hỗ trợ kịp thời khi HS
gặp vướng mắc
Học sinh (làm việc theo hình thức nhóm)
- Họp nhóm, tập hợp lại tài liệu được lựa chọn
+ 4 VBQC cùng được trình bày trên PowerPoint và ở một vị trí của lớp học
+ Các nhóm nhận xét, phân tích, đánh giá và chọn ra VBQC hay nhất và kết quả VBQC
về xe máy của nhóm 2 được các nhóm đánh giá là độc đáo nhất
17
- Hoạt động 3: GV tổ chức cho các nhóm HS phân tích VBQC hay vừa được chọn và trên cơ sở
nhận xét của các nhóm, GV tổng hợp và định hướng kiến thức bài học về: Vai trò và yêu cầu
chung của VBQC
- Hoạt động 4: Các nhóm trình bày sản phẩm quảng cáo mà nhóm đã thiết kế được với tư cách là
nhân viên Marketting (thời gian 5- 7 phút):
+ Các nhóm lần lượt trình bày sản phẩm quảng cáo mà nhóm đã thiết kế; còn các nhóm
còn lại đóng vai là các khách hàng, người tiêu dùng
+ Đại diện các nhóm sáng tỏ ý tưởng quảng cáo của nhóm mình về các mặt: Mục đích và
đối tượng quảng cáo; Phân tích các yếu tố hấp dẫn của VBQC
- Hoạt động 5: GV tổ chức cho các nhóm HS báo cáo về các bước tiến hành viết một văn bản
quảng cáo mà nhóm đã thực hiện (5-6 phút). GV tổng hợp và định hướng cho HS kiến thức về
Cách viết một VBQC
- Hoạt động 6: GV đưa thêm một số lưu ý để giúp HS thiết kế được một sản phẩm quảng cáo hấp
dẫn và thu hút nhất
3.2.4. GV tổ chức cho HS thảo luận, đánh giá dự án (10 phút)
- Tổ chức thảo luận: các nhóm cử đại diện đưa ra các nhận xét và câu hỏi chất vấn (nếu có) về
dự án của các nhóm khác. GV đóng vai “trọng tài” điều hành cuộc thảo
- Đánh giá dự án:
+ HS điền vào các phiếu (Phiếu tham vấn, Phiếu đánh giá (xem phụ lục)
+ Cùng với việc trực tiếp quan sát thái độ làm việc và sự cộng tác, GV tập hợp các kết
quả kết hợp với Biên bản làm việc nhóm, Phiếu đánh giá để xem xét tính điểm cho tổng điểm
tòan nhóm . Từ việc nhận điểm tổng của GV, các nhóm HS đã căn cứ vào quá trình làm việc và
I.
Câu hỏi trong đề kiểm tra gồm 7 câu, nội dung chủ yếu bám sát 4 nội dung chính của bài học
nhằm kiểm tra mức độ hiểu bài của HS và giúp các em nhớ bài học ngay trên lớp. HS làm bài
kiểm tra với thái độ nghiêm túc.
ĐỀ KIỂM TRA TRẮC NGHIỆM
(Thời gian làm bài: 5phút)
1. Lựa chọn từ đúng để hòan thiện khái niệm về văn bản quảng cáo:
Văn bản quảng cáo là loại văn bản [...] về một sản phẩm dịch vụ nhằm [...] và thuyết phục
khách hàng về chất lượng, tiện ích,... của sản phẩm, dịch vụ mà ham thích [...] và [...] dịch
vụ đó
a. Thông tin/ thu hút/ mua hàng/ sử dụng
b. Miêu tả/ thu hút/ sản phẩm/ sử dụng
c. Cung cấp thông tin/ giới thiệu/ mua hàng/ sử dụng
d. Miêu tả/ giới thiệu/ mua hàng/ sử dụng
2. Mục đích nào sau đây không phù hợp cho một văn bản quảng cáo?
a. Giới thiệu một cuốn sánh mới hay một bộ phim mới chiếu
b. Trình bày, giới thiệu một mặt hàng mới
c. Chào mời mọi người cùng đến khai trương một cửa hàng
d. Giới thiệu nội dung một hội thảo về môi trường
3. Nội dung nào sau đây là cần thiết nhất trong một văn bản quảng cáo?
a. Tên sản phẩm và nhà sản xuất
b. Tên sản phẩm và chất lượng sản phẩm
c. Tên sản phẩm và quy trình sản xuất
d. Tên sản phẩm và địa chỉ liên hệ
4. Khâu khó khăn nhất khi phải xây dựng một văn bản quảng cáo là gì?
19
Kết quả thu được như sau :
Điểm kết quả thực nghiệm
Lớp
Thực nghiệm10D
Đối chứng
10E
Số
HS
Điểm giỏi
Điểm khá
(9 – 10)
(7 – 8)
Điểm trung
bình
Không đạt
(0 –> 4)
(5– 6)
HS
%
47
9
19
19
41
14
30
5
10
So sánh kết quả nhận thức của 2 lớp thực nghiệm và lớp đối chứng qua 2 biểu đồ
Hình 1: Biếu đồ thể hiện số lượng điểm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
20
Hình 2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ xếp loại phần trăm học lực của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
Như vậy, sau khi tiến hành bài giảng thử nghiệm ta thấy kết quả chất lượng bài kiểm tra ở lớp
thực nghiệm cao hơn ở lớp đối chứng
II.
đã có 40/45 HS chọn phương án a và không có HS nào chọn b,c cho câu hỏi: “Khi cùng các bạn
học tập theo dự án, em thấy không khí giờ học diễn ra như thế nào?
a. Giờ học sôi nổi, thỏai mái không nhiều áp lực và có một sự trải nghiệm thú vị
b. Giờ học bình thường như bao giờ học khác mà không có DHDA
c. Giờ học tẻ nhạt, trầm lắng; không có nhiều hấp dẫn
Rõ ràng DHDA đã cải thiện được không khí đơn điệu, buồn tẻ của những giờ học mà ở
đó thuần túy chỉ là sự truyền thụ một chiều của GV. Trong giờ học có sử dụng DHDA, được trực
tiếp tham gia kiến tạo và xây dựng kiến thức cùng với sự trải nghiệm thú vị của chính bản thân,
HS đã cảm thấy rất thoải mái, cởi mở và thân thiện. Chính không khí sôi nổi này đã kích thích
tinh thần học tập, đem lại rất nhiều hào hứng cho các em khi thực hiện các nhiệm vụ học tậpĐây cũng là điều góp phần tháo gỡ được sự lúng túng của rất nhiều GV Ngữ văn hiện nay trong
việc tìm kiếm một PPDH có thể nâng cao được hứng thú học tập cho HS.
2. Về năng lực tư duy và rèn luyện kĩ năng
22
Trong bài học “Viết quảng cáo” có sử dụng DHDA, PPDH này đã tích cực hóa hoạt
động học tập của HS và đảm bảo HS được tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, tích cực.
Qua kết quả cuộc phỏng vấn, con số 35/45 HS khẳng định: Hoạt động chủ yếu trong tiết học
thực nghiệm này là tham gia thực hiện các bài tập dự án, thảo luận sôi nổi và đưa ra được ý
kiến của cá nhân. Và 30/45 HS có thừa nhận đã tự nghiên cứu và tìm hiểu thêm các tài liệu
trước khi bắt đầu với tiết học thực nghiệm.
Có thể dễ dàng nhận thấy, khi DHDA đặt HS vào vị trí “tác giả tích cực” của quá trình
học tập, HS được tự đề xuất, lựa chọn vấn đề nghiên cứu và tự tiến hành các công việc thì HS đã
hoàn tòan chủ động (thu thập, xử lý thông; tích cực thực hiện các hành động học trong sự tương
tác với người khác). Nhờ đó mà tính tự lực, tính trách nhiệm đồng thời năng lực tư duy sáng tạo
và giải quyết vấn đề có điều kiện phát triển. Hơn nữa, khi HS đưa ra được ý kiến của cá nhân đó
là lúc các em được tự tìm hiểu chính mình và tự khẳng định mình. Đây cũng chính là biểu hiện
của kĩ năng tự học mà DHDA hình thành và phát triển ở người học.
Chúng tôi sẽ tiếp tục thực nghiệm trên diện rộng hơn để có thể áp dụng DHDA một cách đại trà.
II. Kiến nghị
Qua nghiên cứu và thực hiện đề tài này, chúng tôi có đề xuất kiến nghị sau:
- Có thể mở rộng mô hình DHDA cho tất cả các môn học trong trường THPT, đặc biệt là khi dạy
học các nội dung kiến thức phức hợp có liên quan đến thực tiễn
- Để có thể vận dụng tốt PPDH dự án thì GV phải thực sự nghiên cứu để có được sự chuyển biến
trong PPDH; mà điều này đòi hỏi người GV phải thâm nhuần tư tưởng của phương pháp DHDA.
Theo đó, cần có quá trình đào tạo GV một cách bài bản và thường xuyên.
- Cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất và các phương tiện dạy học, trang thiết bị hiện đại để
DHDA đạt được hiệu quả tối ưu. Biên chế lại số HS trong từng lớp để hỗ trợ cho cho việc tổ
chức các nhóm học tập.
+ Đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá, nội dung kiểm tra cần chú trọng đến thực tiễn của kiến
thức mà các em đã được học.
+ Việc áp dụng phương pháp DHDA khi dạy học một nội dung kiến thức nào đó là việc làm
không đơn giản, nó liên quan đến các yếu tố khác như: nội dung kiến thức, điều kiện tổ chức dạy
học cũng như đối tượng HS. Để đạt được mục tiêu dạy học, chúng tôi không tuyệt đối hóa một
phương pháp nào mà cần phối hợp với các PPDH khác. Việc vận dụng DHDA sẽ đạt được kết
quả cao hơn khi có sự kết hợp và phát huy ưu thế của các PPDH truyền thống
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục & Đào tạo. Chương trình giáo dục phổ thông. Nxb giáo dục, 2006
2. Bộ giáo dục & Đào tạo. Phân phối chương trình Ngữ văn 10,11,12
3. Bộ giáo dục& Đào tạo. SGK Ngữ văn 10, 11,12 ( tập I, II). Nxb giáo dục, 2009
4. Phan Trọng Luận. Thiết kế bài giảng ngữ văn 10, 11 và 12 (Tập 1,2). Nxb giáo dục, 2006.
24
5. Nguyễn Thị Phương Hoa- Võ Thị Bảo Ngọc. Tình hình vận dụng phương pháp project
trong dạy học ở trường Đại học Ngoại Ngữ- Đại học Quốc gia Hà Nội. Nxb Đại học Quốc Gia
Thỉnh
thoảng
Chưa bao giờ
25