Thi pháp thơ đường trong chương trình ngữ văn trung học phổ thông - Pdf 45

LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Th.S
Nguyễn Thị Quế Thanh, người đã tận tình hướng dẫn tôi
thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Xin bày tỏ lòng biết ơn quý thầy cô giáo đã giảng dạy và
đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình học
tập.
Xin chân thành cảm ơn khoa Khoa học xã hội, Phòng
Đào tạo, Trường Đại học Quảng Bình đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu.
Cảm ơn những người thân yêu trong gia đình, bạn bè
đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực
hiện khóa luận.

Tác giả
Võ Hoàng Ngọc Hân


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tôi dưới sự hướng dẫn
của Th.S Nguyễn Thị Quế Thanh - Giảng viên trường Đại học Quảng Bình. Nội dung
khóa luận có tham khảo và sử dụng tài liệu của các tác giả, tôi đã trích đầy đủ trong
phần tài liệu tham khảo. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong khóa luận là
trung thực. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về nội dung khoa học của công trình
này.
Tác giả
Võ Hoàng Ngọc Hân


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN

Bookmark not defined.
2.2.1. Quan niệm nghệ thuật về con người .................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Không gian và thời gian nghệ thuật..................... Error! Bookmark not defined.


2.2.3. Thể loại và kết cấu ............................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Ngôn ngữ ............................................................. Error! Bookmark not defined.
Chương 3:ỨNG DỤNG THI PHÁP HỌC VÀO GIẢNG DẠY THƠ ĐƯỜNG Ở
TRƯỜNG PHỔ THÔNG .............................................. Error! Bookmark not defined.
3.1. Vấn đề dạy học các tác phẩm thơ Đường trong trường THPT hiệnnay ......... Error!
Bookmark not defined.
3.1.1. Thuận lợi .............................................................. Error! Bookmark not defined.
3.1.2. Khó khăn.............................................................. Error! Bookmark not defined.
3.1.2.1.Về phía người học ............................................. Error! Bookmark not defined.
3.1.2.2.Về phía người dạy ............................................. Error! Bookmark not defined.
3.1.3. Một số giải pháp và kiến nghị ............................. Error! Bookmark not defined.
3.2. Ứng dụng thi pháp học vào thiết kế một số bài giảng thơ Đường trong chương
trình Ngữ văn trung học phổ thông ............................... Error! Bookmark not defined.
3.2.1. Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng LăngError! Bookmark not
defined.
3.2.2. Thu hứng.............................................................. Error! Bookmark not defined.
3.2.3. Hoàng Hạc lâu ..................................................... Error! Bookmark not defined.
3.2.4. Khuê oán .............................................................. Error! Bookmark not defined.
3.2.5. Điểu minh giản .................................................... Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ................................................................... Error! Bookmark not defined.
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................. Error! Bookmark not defined.


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài

1


nghệ thuật đặc sắc.
Vì những lí do trên, vì lòng ngưỡng mộ, sự yêu thích những tác phẩm thơ
Đường, người viết triển khai đề tài: Thi pháp thơ Đường trong chương trình Ngữ văn
trung học phổ thông nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu thơ Đường dưới góc nhìn thi
pháp, đồng thời ứng dụng vào việc giảng dạy thơ Đường trong trường phổ thông. Qua
đó hiểu được những đặc sắc của thơ Đường, có được cái nhìn toàn diện hơn về một
thời đại rực rỡ của thi ca Trung Quốc.
2. Lịch sử vấn đề
Là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc, thơ Đường chứa đựng những giá trị vô
cùng to lớn về nội dung cũng như nghệ thuật. Đến với thơ Đường không phải chỉ là
một cuộc dạo chơi trong lúc trà dư tửu hậu, mà còn để nhìn thấy sự cấu tạo và bản chất
của cái đẹp. Cho đến nay, có không ít công trình nghiên cứu, tìm hiểu về thơ Đường,
thi pháp thơ Đường dưới nhiều những góc độ khác nhau.
Nhóm các tác giả Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử trong Về thi pháp thơ
Đường (NXB Đà Nẵng, 1996) đã dịch và nghiên cứu các phạm trù về thi pháp thơ
Đường như yếu tố không gian, thời gian, các vấn đề đối ngẫu trong thơ Đường luật, về
trình tự phân tích một bài thơ bát cú Đường luật, pháp thơ ca Trung Quốc,...
Quách Tấn, nhà thơ được mệnh danh là người giữ đền thơ Đường luật đã lưu lại
cho chúng ta một công trình nghiên cứu mang tiêu đề Thi pháp thơ Đường (NXB Trẻ,
1998). Ông giới thiệu bài biên khảo Thi pháp thơ Đường qua hình thức những bức thư,
luật thi được diễn giải một cách tỉ mỉ trong công trình tâm huyết của mình với hi vọng
những người yêu thích thơ Đường hiểu và sáng tác thơ theo lối Đường thi hiệu quả
nhất.
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải trong luận án tiến sĩ Thi pháp thơ Đường (NXB
Giáo dục, 1997) đã chỉ một cách cụ thể và sâu sắc các phương diện trong thi pháp thơ
Đường như: con người trong thơ Đường, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật,
thể loại và kết cấu, ngôn ngữ thơ Đường.

Nghiên cứu đề tài này, người viết nhằm mục đích: tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu
thơ Đường dưới góc nhìn thi pháp các thi phẩm trong chương trình Ngữ văn cơ bản ở
trường phổ thông, đồng thời ứng dụng vào việc giảng dạy thơ Đường trong nhà
trường. Mặt khác, có được cái nhìn toàn diện hơn về văn học Trung Quốc nói chung
và thơ Đường nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thi pháp thơ Đường ở nhà trường phổ thông, đề tài tập trung khảo
sát dựa trên bình diện quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật, thể loại, kết cấu và ngôn ngữ.
3


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những tác phẩm thơ Đường trong chương trình Ngữ
văn trung học phổ thông theo chương trình hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai đề tài nghiên cứu này, người viết sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu: phương pháp khảo sát, phương pháp phân tích - tổng hợp,
phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp hệ thống, phương pháp loại hình,
phương pháp đối chiếu - so sánh, phương pháp xã hội học.
6. Đóng góp của đề tài
Từ kết quả của việc nghiên cứu thi pháp thơ Đường qua các tác phẩm ở nhà
trường phổ thông, đề tài góp một phần nhỏ vào việc tiếp nhận các tác phẩm thơ Đường
trong nhà trường, góp thêm một tiếng nói mới giúp cho người đọc thấy được những
đặc sắc, những thành tựu rực rỡ của thơ Đường nói riêng và văn học Trung Quốc nói
chung.
7. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được
triển khai trong ba chương:

qua hơn 300 năm chia cắt. Năm 581, Dương Kiên (thuộc dòng ngoại thích) phế bỏ vua
Bắc Chu (triều đại cuối cùng của Bắc Triều), tự xưng vua đổi hiệu là Tùy. Sau khi lên
ngôi, Tùy Văn Đế (Dương Kiên) đã ban hành một loạt chính sách nhằm khuyến khích
phát triển kinh tế, giảm nhẹ gánh nặng cho nông dân. Nhờ những chính sách tương đối
hợp lí ấy mà tình hình chính trị, kinh tế của nhà Tùy trong những năm đầu tương đối
ổn định. Con của Dương Kiên (Dương Quảng) giết bố cướp ngôi lấy hiệu là Tùy
Dưỡng Đế, thực sự là tên bạo chúa. Y tìm mọi cách bòn rút sức lực, tiền bạc của nhân
dân nhằm phục vụ cho lạc thú của mình. Do chế độ cai trị hà khắc, đầu thế kỉ thứ bảy,
khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi chống lại nhà Tùy báo hiệu sự diệt vong của vương
triều này và sự xuất hiện của vương triều phong kiến mới. Trong bối cảnh ấy, Lý Uyên
5


đã dựng cờ khởi nghĩa, tập hợp lực lượng và cùng con trai của mình tấn công vào kinh
đô Tràng An buộc Tùy Dưỡng Đế phải tự sát, xóa bỏ nhà Tùy, lập nên một vương
triều mới lấy quốc hiệu là Đường (618). Bài học dẫn tới sự sụp đổ của nhà Tùy không
thể không trở thành mối quan tâm của các vua chúa đầu đời Đường. Rõ ràng họ đã nhận
ra những mâu thuẫn, những xung đột gay gắt trong lòng xã hội Trung Quốc đời nhà
Tùy để có những đối sách phù hợp, điều hòa các mâu thuẫn ấy. Những chính sách đổi
mới thể hiện qua đối nội và đối ngoại. Ổn định dân trong nước bằng chính sách quân
điền (lấy đất đai hoang hóa chia cho người lao động); giảm tô thuế, bãi bỏ tất cả các
loại thuế vô lí; bãi bỏ tất cả các hình phạt hà khắc tạo điều kiện cho nhân dân làm ăn
sinh sống, khuyến khích người dân làm giàu chính đáng, về đối ngoại, nhà Đường cho
mở cửa biên giới (điều này vốn có ở đời Hán sau đó bị khống chế gắt gao) để thông
thương với kinh tế nước ngoài góp phần chấn hưng nền kinh tế trong nước. Những
chính sách đối nội, đối ngoại đúng đắn ấy đã kích thích tất cả các ngành kinh tế: thương
mại, giao thông vận tải, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ. Nền
kinh tế nhà Đường duy trì nhịp độ tăng trưởng trong vòng 100 năm liên tục (618 742). Nó đạt được sự cực thịnh vào niên hiệu Khai Nguyên (Đường Huyền Tông 712 742) và tác động tích cực đến giới nghệ sĩ đương thời được Đỗ Phủ ghi lại trong bài
Ức tích kỳ nhị :
" Ức tích Khai nguyên toàn thịnh nhật,

hình thức lưu giữ, chuyển giao văn bản thơ ca cho đương thời và cho hậu thế.
Hội họa cũng là ngành nghệ thuật có quan hệ chặt chẽ với thơ ca - mối quan hệ
tự nhiên và trực tiếp. Ở Trung Quốc hội họa được coi là "vô thanh thi" (thơ không
tiếng). Một tác phẩm hội họa thực sự là một bài thơ bằng đường nét và màu sắc. Hội
họa và chữ viết có chung nguồn gốc. Hội họa là hình thức cụ thể của chữ viết, chữ viết
là hình thức biểu đạt trừu tượng hơn. Dù hội họa Trung Hoa sử dụng lối vẽ cụ thể, tỉ
mỉ, chi tiết hay lối vẽ phác họa thâu tóm cái thần cốt thì đều nổi bật ở cái không gian.
Đó là khoảng trống, khoảng trắng đầy ắp tinh thần triết học Trung Hoa. Không gian
hội họa ấy ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc tới việc hình thành không gian trong thơ
Đường. Người ta bắt gặp cái mô hình không gian được gói ghém trong một chữ
"không" ở hàng loạt bài thơ: "không sơn bất kiến nhân"(Lý Bạch), "Thử địa không dư
Hoàng Hạc lâu" (Thôi Hiệu), "Dạ tĩnh xuân xuân không" (Vương Duy),… Trong tác
phẩm hội họa người ta cũng bắt gặp một đôi câu thậm chí cả bài thơ. Như vậy, hội họa
vừa trở thành nguồn cảm xúc, vừa là nơi lưu trữ thơ ca.
Ngoài ra đề tài trong thơ Đường cũng ảnh hưởng lớn từ đề tài tranh cổ điển
Trung Hoa: sơn thủy, hoa điểu, chân dung,… trong đó cảm xúc trước thiên nhiên
chiếm một tỉ trọng lớn trong sáng tác của thi nhân đời Đường.
Thơ - nhạc - múa gắn với nhau từ rất sớm. Âm nhạc và múa là đề tài quen
thuộc đối với các nhà thơ đời Đường, còn thơ tăng sức âm vang của mình nhờ âm
nhạc. Những bài thơ viết về nhạc, những bài nhạc lấy lời thơ chứng tỏ mối quan hệ
chặt chẽ giữa chúng.
Sự ảnh hưởng tự nhiên, mối quan hệ chặt chẽ giữa các ngành nghệ thuật khác
với thơ ca đời Đường đã tạo nên sự phong phú và sắc thái biểu đạt của thơ ca. Thơ
8


Đường có sức sống mạnh mẽ, lâu bền, sức lay động tiềm tàng cùng sự sâu lắng để trở
thành niềm khát khao tìm hiểu của chúng tôi và của bao người. Lịch sử xã hội nói
chung, văn học nói riêng luôn tuân thủ quy luật kế thừa và phát triển. Thơ Đường kế
thừa, phát triển hợp quy luật những tinh hoa văn học thời trước (từ Kinh thi đến trước


ba nhà thơ: Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị . Ngoài ra còn có Vương Duy, Mạnh
Hạo Nhiên, Vương Xương Linh, Cao Thích, Sầm Than, Vương Hàn, Thôi Hiệu,
Vương Kiến, Trương Tịch, Hàn Dũ, Mạnh Giao, Giả Đảo, Trương Kế... Mỗi nhà thơ
có một phong cách tài hoa điêu luyện khác nhau, mỗi người một vẻ không sao kể xiết
trong thời kỳ thịnh đạt này.
Thời kì trung Đường (766 - 835): Thơ hiện thực tiếp tục phát triển mạnh
và đẩy lên thành phong trào Tân nhạc phủ do Nguyên Chẩn (799 - 781) và Bạch Cư
Dị (772 - 846) khởi xướng. Bản thân tên của phong trào do hai ông khởi xướng
cũng đã có ý nghĩa nhấn mạnh, đề cao tinh thần hiện thực trong sáng tác nghệ
thuật văn chương. Cùng với hai nhà thơ này còn có một loạt các cây bút nổi tiếng
khác như Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Mạnh Giao (751 - 814); Giả Đảo (779 843); Lưu Vũ Tích (772 - 842)… Phẩm chất hiện thực là đặc điểm nổi bật trong
thơ Đỗ Phủ ở buổi thịnh Đường. Giờ đây đang trong bối cảnh xã hội bắt đầu suy
tàn nó được khởi động trở thành một phong trào thơ hiện thực đặc sắc. Nó tiếp tục
phơi bày hiện thực xấu xa, thối nát của một triều đại đang suy vong và là tiếng nói
oán hờn của những con người vô tội.
Thời kì vãn Đường (836 - 907 ): Xã hội xuống cấp, triều đình phong kiến ngày
càng thối nát đẩy quá trình suy yếu thêm nhanh chóng và đi đến diệt vong. Thơ ca giai
đoạn này vẫn giữ được tinh thần hiện thực có từ thịnh - trung Đường. Khi phong trào
Tân nhạc phủ có những dấu hiệu không đồng đều thì phong trào Chính nhạc phủ mà
Bì Nhật Hưu (833 - 883) là tác giả, đã tiếp tục chủ trương gắn thơ ca với thời cuộc.
Bên cạnh Bì Nhật Hưu người ta còn thấy hai cây bút xuất sắc là Đỗ Tuân Hạc (846 904) và Nhiếp Di Trung (837 - ?). Song song với dòng thơ hiện thực, dòng thơ lãng
mạn tiếp tục giữ vững với các nhà thơ tiêu biểu như Đỗ Mục (803 - 853), Lý Thương
Ẩn (813 - 856) và Ôn Đình Quân (812 - 870)… Tuy thành tựu không được như thời kì
thịnh Đường và thời kì trung Đường nhưng vãn Đường vẫn xuất hiện những bài thơ
xứng đáng là điểm độc đáo khép lại 300 năm thơ ca của một thời kì đầy biến động.
1.1.2. Sự phong phú đa dạng của thơ Đường
Như trên đã nhận xét: Thơ Đường quả là bức tranh toàn cảnh về thời đại. Đọc
thơ Đường ta thấy có những cảnh thiên nhiên đẹp đến nao lòng người, có thác nước,
có non cao, có âm thanh chùa vắng, có những hàng liễu buồn man mác trong cảnh

đã chia thơ Đường ra làm các nhóm là: cung đình, nhàn dật, điền viên sơn thủy, biên
tái, xã hội, tâm tình, vịnh sử. Chia ra như vậy nhưng không nhất thiết là mỗi nhà thơ
chỉ có mặt trong một thi phái. Nhiều tác giả đã thành công trong nhiều đề tài khác
nhau. Lý Bạch, Đỗ Phủ là một ví dụ: hầu như ở trường phái nào, hai tác giả này cũng
có mặt và thành công.
11


Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ đó, thơ ca thời
Đường xuất hiện nhiều trường phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ. Nhiều
tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở thời kỳ này được đời sau truyền tụng và ca ngợi. Căn cứ
vào đề tài sáng tác, các nhà nghiên cứu văn học sử Trung Quốc đã chia thơ Đường
thành các trường phái sau:
Trường phái Điền viên sơn thủy: Phái Điền viên sơn thủy còn được gọi là phái
"Vương - Mạnh" bởi vì hai thi nhân tiêu biểu của phái này đó là Mạnh Hạo Nhiên
(689 - 740) và Vương Duy (701 - 761). Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sống gần gũi với
với cảnh thôn quê lặng lẽ, bình dị. Hình ảnh thiên nhiên nơi thôn dã trong thơ ông
được miêu tả đẹp đẽ biết bao. Đó là cảnh thanh nhàn êm ả của làng quê, cảnh núi sông
hùng vĩ và tráng lệ… Người thứ hai đó là Vương Duy tự Ma Cật, tuy suốt đời làm
quan nhưng ông thường sống như một ẩn sĩ, là người sùng tín đạo Phật, thơ mang đậm
ý vị thiền nên được mọi người tôn vinh là Thi Phật. Ông là một người rất đa tài, không
những nổi tiếng về thơ mà còn am hiểu về âm nhạc, có tài thư pháp và là một danh
họa. Khi nhận xét về Vương Duy, Tô Thức đời Tống cho rằng: "Thi trung hữu họa,
họa trung hữu thi" (Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy
trong họa có thơ).
Trường phái Biên tái: Phái Biên tái còn được gọi là phái "Cao - Sầm", đó là
Cao Thích (702 - 765) và Sầm Than (716 - 770). Thơ của Cao Thích mang đậm chất
trữ tình hào phóng nhưng lại khẳng khái hiên ngang, trong khi đó thơ của Sầm Than
thì mỹ lệ huyền ảo, âm điệu dồn dập vút cao. Ngoài ra còn có một số tác giả cũng góp
phần quan trọng cho thi phái này như: Vương Xương Linh (698? - 757) và Lý Kỳ

kiệt xuất nhất của hai trường phái đó trong lịch sử thơ ca cổ điển Trung Quốc.
Từ những nhận xét trên, có thể thấy thơ Đường phong phú về đề tài, nổi bật và
tập trung nhất vào hai khuynh hướng sáng tác là: hiện thực và lãng mạn. Như một giá
trị lịch sử văn học bất biến, dù phải trải qua bao thử thách, bao biến cố của thời đại,
nhưng hai khuynh hướng ấy vẫn trường tồn mãi mãi. Nó là kết quả của một quá trình
lĩnh hội những tinh hoa rực rỡ của đời Đường mà thi ca cổ trước đó chưa bao giờ đạt
đến được. Hiện thực và lãng mạn là hai bộ phận thống nhất trong một chỉnh thể của
thi ca đời Đường góp phần cống hiến to lớn cho văn học Trung Quốc.
1.2. Thi pháp thơ Đường
1.2.1. Thi pháp và thi pháp học
Việc nghiên cứu về thi pháp ở nước ta trong những năm gần đây đang được
nhiều nhà khoa học quan tâm. Trước đây, do những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử - xã
hội, đối với bộ môn Văn học, các nhà nghiên cứu chưa quan tâm nhiều đến hình thức
của tác phẩm mà chú trọng vào khía cạnh nội dung tư tưởng. Một tác phẩm văn học,
nội dung và hình thức không thể tách rời nhau. Vì "nội dung" chỉ có giá trị khi tồn tại
13


trong một hình thức nhất định và "hình thức" chỉ thực sự là hình thức khi biểu đạt một
nội dung.
GS Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (NXB
Giáo dục, 1999) cho rằng: "Thi pháp là hệ thống các nguyên tắc nghệ thuật chi phối
sự tạo thành của một hệ thống nghệ thuật với các đặc sắc của nó. Thi pháp không phải
là nguyên tắc có trước, nằm bên ngoài, mà là nguyên tắc bên trong vốn có của sáng
tạo nghệ thuật. Nó là mĩ học nội tại của sáng tác nghệ thuật, gắn liền với sự sáng tạo
và một trình độ văn hóa, nghệ thuật nhất định, mang một quan niệm nhất định đối với
cuộc đời, con người và bản thân nghệ thuật. Thi pháp biểu hiện trên các cấp độ: tác
phẩm, thể loại, ngôn ngữ, tác giả và bao trùm lên là cả nền văn học".[36, tr. 4]
Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao (NXB Đại học quốc gia, 2007)
khẳng định: "Thi pháp là tổ hợp những đặc tính thẩm mĩ - nghệ thuật và phong cách

chín muồi. Sự đột biến này thể hiện ở kiểu tư duy nghệ thuật, một hệ thống thi pháp
mới mẻ và độc đáo, tạo nên cái mốc quan trọng trên con đường phát triển của thơ ca
Trung Quốc. Thi pháp thơ Đường rất phong phú, đa dạng [23, tr.48]. Với khuôn khổ
của đề tài chúng tôi chỉ trình bày một số yếu tố tiêu biểu trong hệ thống thi pháp thơ
Đường qua các phương diện sau:
- Quan niệm nghệ thuật về con người.
- Thời gian nghệ thuật.
- Không gian nghệ thuật.
- Thể loại và kết cấu.
- Ngôn ngữ.
Nhà văn M.Gorki từng nói: " Văn học là khoa học về con người". Trong văn
học, con người là chủ thể, là đối tượng và đồng thời là mục đích. Trong phạm vi của
đề tài, chúng tôi chỉ xét quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Đường, tức là
quan niệm ở một thời đại thơ ca của một dân tộc. Đối tượng trung tâm của văn học là
con người, cho nên trong hệ thống thi pháp nó cũng là yếu tố trung tâm so với các yếu
tố khác. Trong thơ Đường, có hai kiểu con người chủ yếu, đó là con người vũ trụ và
con người xã hội.
Con người vũ trụ: Quan điểm về con người trong nghệ thuật với quan niệm triết
học có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Triết học cổ đại Trung Quốc nói riêng cũng
như các dân tộc thời cổ nói chung quan niệm con người được đặt trong mối tương
thông tương hợp với thiên nhiên "thiên nhân tương dữ". Con người là một "tiểu vũ
trụ" trong lòng "đại vũ trụ". Con người xuất hiện trong tư thế vũ trụ, đứng giữa đất trời
"đầu đội trời, chân đạp đất", hòa hợp đất trời. Thơ Đường đặc biệt quan tâm thể hiện
quan hệ tương giao, hòa hợp giữa con người với con người. Hình tượng con người vũ
trụ thể hiện khát vọng của con người được sống thanh bình, hòa hợp vào nhịp sống của
vũ trụ vô biên.
Con người xã hội: Thơ Đường khi phản ánh con người mà chủ yếu là tầng lớp
nhân dân thấp cổ bé họng, con người xã hội được phản ánh bằng quan hệ mâu thuẫn,
đối lập gay gắt. Mọi nỗi đau khổ của con người đặc biệt là con người bất hạnh, đến
những bất công xã hội của vua quan phong kiến đều được các nhà thơ hiện thực phản

thiếu sức sống. Các thi nhân miêu tả nó một cách cụ thể và chi tiết.
Không gian nghệ thuật của thơ Đường đã đạt đến mức hoàn mĩ, tiêu biểu cho
không gian nghệ thuật thơ Trung Quốc.
Cũng như quan niệm về con người nghệ thuật và không gian nghệ thuật, thời
gian nghệ thuật của Thơ Đường là sự đúc kết những tinh hoa của thời gian trong thơ ca
17


Trung Quốc. Chúng ta có thể phân chia thời gian nghê thuật trong thơ Đường thành
hai kiểu chính đó là: thời gian vũ trụ và thời gian đời thường.
Thời gian vũ trụ: Nói đến thời gian vũ trụ tức là nói đến thời gian trong mối
quan hệ với không gian. Khi quan niệm không gian, chúng ta hình dung về nó rõ hơn
vì không gian là cái có thể nhìn thấy được, còn thời gian thì vô hình. Nhưng thời gian
vũ trụ trong thơ Đường luôn có mối quan hệ biện chứng với không gian. Người ta
dùng không gian để thể hiện thời gian và ngược lại. Trong thơ Đường có rất nhiều địa
danh và đằng sau địa danh ấy vẫn thấy sự tiềm ẩn, bóng dáng của thời gian. Với tư
cách là thời gian vũ trụ, thời gian nghệ thuật, thơ Đường ít chịu đóng khung trong thời
hiện tại mà luôn có xu hướng vận hành trong vòng lưu chuyển của thời gian, ngược về
quá khứ, xuôi đến hiện tại (rộng mở), nhàn nhã khoan thai.
Thời gian đời thường: Khi phản ánh đời sống của con người trong xã hội, thời
gian nghệ thuật là thời gian đời thường. Thời gian đời thường chủ yếu là thời hiện tại,
có tính cụ thể. Ở đây người ta không kể về cái đã thuộc về quá khứ xa xăm mà kể về
cái đang diễn ra rất thực, rất đời thường, chính vì thế mà thời gian đời thường gấp gáp,
tất bật và đầy tính ký sự.
Khi nghiên cứu, chúng ta thấy rằng, trong hệ thống thế giới hình tượng, thời
gian nghệ thuật giữ một vai trò quan trọng. Nó có sự liên hệ mật thiết với các yếu tố
khác. Trong thơ Đường, thời gian vũ trụ và thời gian đời thường không chỉ tiêu biểu
cho thời gian nghệ thuật trong thơ cổ điển Trung Quốc mà còn ảnh hưởng sâu đậm
trong những sáng tác thơ ca chữ Hán và chữ Nôm của Việt Nam.
Về phương diện thể thơ, các nhà thơ đời Đường sử dụng hai thể thơ chính là cổ

ứng một phần. Cách phân chia này tồn tại phổ biến đặc biệt trong nhà trường phổ
thông, giáo viên vẫn áp dụng nó để giảng dạy một bài luật thi với học sinh.
Có ý kiến lại chia thành ba phần: 2/4/2 do Francois Cheng, nhà kí hiệu học
Pháp gốc Trung Quốc đề xuất. Theo ông, ở liên một và liên bốn, trật tự thời gian
chiếm ưu thế; ở liên hai, liên ba, trật tự không gian chiếm ưu thế. Tính chất họa thể
hiện rõ nhất ở bốn câu giữa. Đây là cách chia gần với văn bản hiện đại (mở bài, thân
bài, kết bài).
Có ý kiến chia bài luật thi thành hai phần (4/4). Mô hình này do Kim Thánh
Thán (đời Thanh) đề xuất. Bốn câu trên được Thánh Thán gọi là Tiền giải ( nặng về
cảnh), bốn câu dưới được gọi là hậu giải (nặng về tình).
Ngoài ra, cũng có nhà nghiên cứu tìm hiểu luật thi họ chia thành hai phần(1/7)
nhằm phù hợp với từng bài.
Đối với bài thơ tứ tuyệt cũng có nhiều cách chia. Có thể chia hai phần (tiền giải,
hậu giải) hoặc bốn phần (khai, thừa, chuyển, hợp)…
Không có cách phân chia nào áp dụng được cho tất cả các bài thơ Đường, mỗi
19


chỉnh thể bài thơ đưa bạn đọc đến với những cái hay, cái đẹp riêng.
Khi nói về ngôn ngữ thơ Đường, trong Đường thi tuyển dịch (NXB Thuận Hóa,
2007), tác giả Lê Nguyễn Lưu đã nhận xét rằng: "Ngôn ngữ thơ Đường kết tinh được
nhiều cái biểu cảm mà còn có khả năng biểu ý, kết hợp cảm quan với nhận thức truyền
thống và cách tân, kế thừa và sáng tạo". Ngôn ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc ấy là do
các biện pháp tu từ tạo ra. Nhiều khi các biện pháp tu từ xen kẽ chồng chéo lên nhau,
làm bật lên cái "tứ" sâu xa như người ta vẫn thường nói "ý tại ngôn ngoại" (ý ở ngoài
lời). Bài thơ nhất là tứ tuyệt và bát cú rất ngắn gọn, sao cho trong một số câu nhất
định, một số từ có hạn phải diễn đạt hết cảm nghĩ của tác giả… Cho nên nó rất cô
đọng và hàm súc: lượng thông tin của nó tất nhiên không chỉ nằm trong ngữ nghĩa. Bài
thơ như khung cửa sổ mở ra trước vườn hoa, người đọc qua đó để ngắm nhìn cảnh vật
bên ngoài. Vì thế các biện pháp tỉ dụ, ẩn dụ được vận dụng phổ biến và rất đa dạng.

quan niệm nghệ thuật về con người, không - thời gian nghệ thuật, thể loại - kết cấu và
ngôn ngữ. Mong muốn có cái nhìn cụ thể hơn về thi pháp thơ Đường và ứng dụng vào
việc dạy và học thơ Đường trong nhà trường phổ thông.

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status