BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHPHẠM THỊ TƯỜNG
DẠY HỌC LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ
VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2014
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
PHẠM THỊ TƯỜNG
DẠY HỌC LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ
VÀ TIẾNG VIỆT TRONG CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành: Lý luận và PPDH bộ môn Văn và Tiếng Việt
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS. ĐẶNG LƯU
NGHỆ AN - 2014
4
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 9
1. Lí do chọn đề tài 9
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3. Đối tượng nghiên cứu 12
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 12
2.2.2. Phối hợp diễn giảng và đàm thoại 56
2.2.3. Thảo luận nhóm 66
2.2.4. Phân tích ngôn ngữ 72
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung và cách thức thực nghiệm 80
3.1.1. Mục đích thực nghiệm 80
3.1.2. Yêu cầu thực nghiệm 80
3.1.3. Nội dung thực nghiệm 80
3.1.4. Cách thức thực nghiệm 81
3.2. Tổ chức thực nghiệm 81
3.2.1. Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 81
3.2.2. Thiết kế giáo án thực nghiệm 82
3.2.3. Dạy thực nghiệm và dạy đối chứng 114
3.3. Đánh giá thực nghiệm 115
3.3.1. Nhận xét quá trình và kết quả học tập của lớp thực nghiệm 115
3.3.2. Xử lí số liệu thực nghiệm 116
3.4. Kết luận chung về thực nghiệm 118
KẾT LUẬN 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
6
7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Thống kê các bài thuộc hợp phần lý thuyết ngôn ngữ 21
và tiếng Việt trong chương trình THPT 21
Bảng 1.2. Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn
THPT 32
Bảng 1.3. Kết quả điều tra nhận thức của giáo viên về những khó khăn trong dạy học tiếng Việt 33
phương pháp, thủ pháp dạy học phù hợp. Tuy nhiên, phải nói rằng, hợp phần
này chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của giới nghiên cứu và các nhà sư
phạm. Các bài viết, các công trình đề cập đến phương pháp dạy các bài lý
thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt ít hơn hẳn so với phần Từ ngữ, Ngữ pháp,
Phong cách học. Ngay những tài liệu hiện có, nội dung dạy học được bàn đến
cũng đã xa lạ với chương trình và SGK Ngữ văn trung học phổ thông hiện
hành.
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Dạy
học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng việt trong chương trình ngữ văn trung học
phổ thông” để triển khai nghiên cứu, với mong muốn đề xuất một số cách
thức nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đối với hợp phần này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
9
Tiếng Việt là một phân môn quan trọng, cùng với Đọc - hiểu và Làm
văn tích hợp thành một môn học lấy tên gọi là Ngữ văn. Cùng với sự phát
triển giáo dục, phân môn Tiếng Việt ngày càng khẳng định vai trò quan trọng
không thể thiếu trong nhà trường. Vì thế, phương pháp dạy học tiếng Việt trở
thành bộ môn khoa học trong các trường sư phạm.
Không riêng gì việc dạy học tiếng Việt, trên thế giới “lí luận dạy tiếng”
là thuật ngữ quen thuộc của giới nghiên cứu và cũng là thuật ngữ có nhiều
cách hiểu khác nhau. Trong dạy học ngôn ngữ cũng luôn có sự phân biệt giữa
tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ - ngôn ngữ thứ hai. Nhiều lý thuyết về dạy học ngôn
ngữ đã ra đời, luôn phát triển theo hướng ngày càng gần với chức năng chính
của ngôn ngữ - chức năng giao tiếp, đó là kết quả của sự nỗ lực không ngừng
của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học. Dưới ánh sáng của các lý thuyết này,
việc dạy học tiếng Việt nói riêng và dạy học ngôn ngữ nói chung, đã được mở
rộng, phát triển từ việc dạy cách nói cách viết theo đúng “chuẩn mực” sang
việc dạy ngôn ngữ theo quy tắc ngữ pháp đến dạy ngôn ngữ là dạy khả năng
giao tiếp trong cuộc sống. Điều này được TS Nguyễn Thị Thanh Bình giới
thiệu trong bài viết “Một số xu hướng lí thuyết của việc dạy tiếng mẹ đẻ
Dạy cái gì? Dạy như thế nào? là hai vấn đề được Lê A bàn đến trong
bài viết Dạy tiếng Việt là dạy một hoạt động và bằng hoạt động [2]. Tác giả
quan tâm đến vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, trình tự dạy học
tiếng Việt cùng với một số thao tác cơ bản khi dạy học (thao tác phân tích -
phát hiện, phân tích - chứng minh, phân tích - phán đoán). Bài viết cũng giới
thiệu về phương tiện dạy học Grap - sơ đồ mạng để trình bày những vấn đề
cần truyền đạt. Có thể nói, bài viết này là một gợi ý tốt cho việc tổ chức các
11
hoạt động dạy học, lựa chọn sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học
lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt theo phương pháp giao tiếp.
Như vậy, vấn đề dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, cũng đã có
công trình nghiên cứu và các bài viết ở những quy mô khác nhau. Tuy nhiên,
cho đến nay vẫn còn thiếu những công trình đi sâu vào nghiên cứu toàn diện
phương pháp dạy học hợp phần này, đặc biệt là từ khi hai bộ sách Ngữ văn
THPT cơ bản và nâng cao được áp dụng đại trà. Do đó, việc triển khai đề tài
Dạy học lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình Ngữ Văn
trung học phổ thông theo chúng tôi vẫn là vấn đề cấp thiết.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung các bài lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình
Ngữ văn THPT (cơ bản và nâng cao).
- Hoạt động dạy học các bài lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong
chương trình Ngữ văn THPT (cơ bản và nâng cao).
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài.
- Điều tra, khảo sát thực tế dạy học các bài lý thuyết ngôn ngữ và tiếng
Việt ở một số trường trung học phổ thông.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học các bài lý thuyết
ngôn ngữ và tiếng Việt.
- Soạn giáo án và dạy một số bài để kiểm nghiệm các giải pháp đưa ra.
5. Mục đích nghiên cứu
1.1.1.1. Vấn đề lý thuyết trong nghiên cứu ngôn ngữ học và Việt ngữ
học
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, có chức năng - xã hội,
được sử dụng trong xã hội và chịu sự chi phối của quy luật xã hội. Ngôn ngữ
là một hệ thống gồm những đơn vị ngôn ngữ (thứ tiếng) xác định. Trong mỗi
ngôn ngữ lại có các tiểu hệ thống như: Ngữ âm, Từ vựng, Ngữ pháp. Mỗi tiểu
hệ thống lại chia thành các đơn vị nhỏ hơn, và tất cả các đơn vị này đều có vai
trò và ý nghĩa nhất định, giữa chúng có mối quan hệ khăng khít hỗ trợ cho
nhau, làm nên một hệ thống ngôn ngữ, mang trong mình chức năng quan
trọng nhất đó là chức năng giao tiếp và là phương tiện để tư duy.
Vậy tri thức lý thuyết ngôn ngữ đứng ở đâu trong hệ thống ngôn ngữ?
Mỗi ngôn ngữ đều gắn liền với một đất nước, dân tộc, nó được sinh ra
và phát triển nhờ việc sử dụng - giao tiếp và tư duy của con người nơi đây.
Chính điều này tạo nên màu sắc ngôn ngữ riêng của từng dân tộc trong hệ
thống ngôn ngữ thế giới và trong mỗi hệ thống ngôn ngữ - một thứ tiếng xác
định ấy, sẽ có nguồn gốc hình thành, phát triển, có yêu cầu sử dụng khác
nhau trong giao tiếp ở mọi lĩnh vực, mỗi ngôn ngữ sẽ thuộc về một loại hình
riêng, quy định đặc điểm phát âm và chữ viết khác nhau tất cả những vấn
đề này ở trong một hệ thống ngôn ngữ nào đó được gọi là tri thức lý thuyết
ngôn ngữ.
14
Tri thức lý thuyết ngôn ngữ không phải là những đơn vị cụ thể, riêng lẻ
như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà hiện thân của nó là sự tổng hợp tất cả các
tri thức cụ thể trên tạo ra một diện mạo chung nhất, khái quát nhất về ngôn
ngữ đó. Tri thức lý thuyết giúp con người hiểu sâu sắc hơn, toàn diện hơn về
tiếng mẹ đẻ của mình, làm nảy sinh tình cảm, từ đó hình thành ý thức giữ gìn,
bảo vệ và phát triển nó.
1.1.1.2. Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc học tiếng Việt của học
sinh THPT
Trong chương trình giáo dục phổ thông ở nhiều quốc gia tiên tiến trên
dạy từ bậc Tiểu học, THCS, với các đơn vị kiến thức cụ thể về ngữ âm, Từ
vựng, Ngữ pháp và Phong cách học, lồng ghép cả lý thuyết và thực hành.
Nhưng, các bài học chỉ dừng lại ở mức độ cơ bản nhất. Có nhiều lí do để giải
thích cho vấn đề này, nhưng lí do quan trọng nhất đó là do HS ở lứa tuổi này
khả năng tiếp nhận tri thức khái quát, tổng hợp còn hạn chế, do vậy cung cấp
kiến thức cụ thể riêng lẻ sẽ phù hợp với mức độ tiếp thu của các em.
Thêm vào đó, quy luật lĩnh hội tri thức của con người phải đi từ những
vấn đề riêng lẻ, cụ thể đến khái quát, trừu tượng. Đến bậc THPT, HS hội đủ
các điều kiện để lĩnh hội các tri thức khái quát, tổng hợp thể hiện ở các bài lý
thuyết.
Tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt cung cấp cho HS sự đa dạng
của hệ thống các ngôn ngữ trên thế giới, biết được vị trí của tiếng Việt trong
hệ thống ngôn ngữ chung đó, và mối quan hệ của tiếng Việt với các ngôn ngữ
họ hàng, lân cận.
Tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt góp phần rèn luyện phẩm
chất, trí tuệ cho HS. Hiểu được những bước thăng trầm của lịch sử ngôn ngữ
16
dân tộc, HS sẽ càng yêu hơn tiếng mẹ đẻ. Ý thức giữ gìn và phát triển ngôn
ngữ dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế phải được nâng cao nâng hơn để
tiếng Việt không bị lai căng, pha tạp, điều đó một phần được tạo nên nhờ tri
thức lý thuyết.
1.1.1.3. Vai trò của tri thức lý thuyết đối với việc học ngoại ngữ của
học sinh THPT
Với tốc độ hội nhập như hiện nay, việc một người có thể thành thạo
một số ngoại ngữ không phải là điều lạ. Ngoại ngữ trở thành “công cụ” cần
thiết để con người giao lưu, học hỏi. Biết nhiều ngoại ngữ sẽ mở ra nhiều cơ
hội học tập và làm việc giữa người với người ở những quốc gia khác nhau.
“Alan Doff cho rằng việc ảnh hưởng qua lại giữa tiếng mẹ đẻ và
ngoại ngữ là có thật, và không nên né tránh hay cố tình không muốn nhìn
nhận. Larsen - Freeman nêu một số phương pháp giảng dạy tiếng Anh có
được coi như là những yếu tố để phát triển tư duy; đảm bảo mối quan hệ giữa
lời nói và tư duy trong dạy học Tiếng Việt; luyện tập cho HS diễn đạt tư tưởng
của mình bằng các hình thức ngôn ngữ khác nhau.
Tùy theo từng hợp phần của phân môn Tiếng Việt, với những nội
dung, mục tiêu khác nhau, vai trò rèn luyện tư duy các hợp phần cũng không
giống nhau.
Chương trình phân môn Tiếng Việt hiện nay được xây dựng theo hướng
đồng tâm (với các đơn vị như: Ngữ âm, Từ vựng, Ngữ pháp, Phong cách học)
và phát triển. Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong phân môn
Tiếng Việt THPT chính là phần phát triển mà chương trình phân môn đã xây
dựng.
18
Kiến thức trong hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, chủ yếu
mang tính khái quát, tổng hợp nên hợp phần này có vai trò to lớn trong việc
rèn luyện tư duy trừu tượng, khái cho HS.
Chẳng hạn, khi dạy học bài Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt (Ngữ
văn 10), có yêu cầu “Về từ ngữ”, tuy nhiên, đó không phải là một loại từ
nào cụ thể (từ đơn, từ ghép: ghép đẳng lập, ghép chính phụ ) mà tổng hợp
về từ tiếng Việt được nhìn nhận, soi chiếu trong mối quan hệ với các tiểu hệ
thống nhỏ hơn (ngữ âm), lớn hơn (ngữ pháp, phong cách học). Thông qua
việc phân tích những hiện tượng ngôn ngữ riêng lẻ này, HS tiến hành thao
tác tư duy trừu tượng để khái quát thành những tri thức ngôn ngữ và tiếng
Việt.
1.1.3. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT và khả năng tiếp
nhận các tri thức lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt
Tâm sinh lí là quá trình phát triển tâm lí và thể chất của con người, với
các giai đoạn khác nhau. Hiểu đặc điểm tâm sinh lí là chìa khóa để mở mọi
cánh cửa của thế giới con người.
Trong giáo dục, việc tìm hiểu tâm sinh lí lứa tuổi là điều kiện cần thiết
để xây dựng những chương trình dạy học phù hợp nhằm phát triển và hoàn
Nhưng để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta phải xác định được nội
dung dạy học. Bởi nội dung và phương pháp là hai yếu tố có mối liên hệ
hữu cơ với nhau. Một nội dung cụ thể đòi hỏi phải có phương pháp phù
hợp. Vì vậy, muốn tìm ra phương pháp dạy học những vấn đề lý thuyết
ngôn ngữ và tiếng Việt phù hợp và có hiệu quả nhất, cần tìm hiểu nội dung
phần lí thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình và SGK Ngữ văn.
20
Trong chương trình cũ, môn Tiếng Việt THPT được dạy ở lớp 10, 11 và
được xem như là phân môn độc lập, không bị chi phối bởi Văn học và Làm
văn. Hiện nay, phân môn Tiếng Việt được dạy học ở cả lớp 10, 11 và 12. Với
tinh thần tích hợp trong biên soạn chương trình và SGK, Tiếng Việt trở thành
một phân môn có quan hệ qua lại, chặt chẽ với Đọc - hiểu, Làm văn và cả ba
hợp lại thành một cuốn sách lấy tên gọi Ngữ văn.
Với nguyên tắc tích hợp, kiến thức về tiếng Việt không chỉ giúp HS
hiểu biết về các đơn vị ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ, mà còn hướng dẫn HS vận
dụng kiến thức đó vào Đọc - hiểu văn bản và tạo lập văn bản. Thông qua việc
vận dụng này để củng cố, khắc sâu, nâng cao hiểu biết về tiếng Việt, và quan
trọng hơn, hoàn thiện khả năng giao tiếp cho HS.
So với chương trình và SGK CCGD năm 2000 thì chương trình và
SGK Ngữ văn THPT hiện nay có rất nhiều thay đổi. Điểm mới dễ nhận ra
nhất, đó là hiện nay tồn tại hai chương trình và hai bộ SGK Ngữ văn. Một bộ
được xem là cơ bản, một bộ được gọi là nâng cao.
Hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt trong chương trình cũ có 11
tiết trên tổng số 63 tiết (gồm cả 4 tiết ôn tập và kiểm tra). Trong chương trình
phân môn Tiếng Việt THPT hiện nay, hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng
Việt, ở sách cơ bản có 10 tiết trong tổng số 42 tiết (bao gồm cả 3 tiết ôn tập)
của chương trình Tiếng Việt; ở sách nâng cao có 12 tiết trên tổng số 53 tiết
của chương trình Tiếng Việt.
Qua đó có thể thấy, hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt chiếm
một tỉ lệ tương đối trong toàn bộ số tiết học Tiếng Việt (kể cả chương trình cũ
tiếng Việt (1 tiết)
4. Những yêu cầu về
sử dụng tiếng Việt
(1 tiết)
1. Hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ (2 tiết)
2, Đặc điểm văn
bản nói và văn bản
viết (1 tiết)
3. Khái quát lịch sử
tiếng Việt (2 tiết)
4. Những yêu cầu sử
dụng tiếng Việt
(2 tiết)
11
Chương 1: Tiếng Việt
và giao tiếp bằng
ngôn ngữ
1. Đặc điểm loại hình
tiếng Việt (2 tiết)
2. Giữ gìn sự trong
sáng của tiếng Việt và
chuẩn hóa tiếng Việt
(1 tiết)
3. Sự giao tiếp bằng
ngôn ngữ (2 tiết)
1. Từ ngôn ngữ chung
đến lời nói cá nhân (2
tiết).
2. Đặc điểm loại hình
xứng đáng với vị trí và tầm quan trọng của nó, vai trò quyết định thuộc về các
các cấp quản lý của ngành giáo dục, những người xây dựng chương trình,
biên soạn SGK cũng như đội ngũ nhà giáo trực tiếp đứng lớp.
Được áp dụng đại trà từ năm học 2006 - 2007 đến nay, chương trình và
SGK cũng tạo ra nhiều áp lực đối với việc đổi mới phương pháp dạy học
trong nhà trường. Áp lực này cũng thể hiện rõ ở hợp phần lý thuyết ngôn ngữ
và tiếng Việt - một hợp phần nghiêng hẳn về việc hình thành các tri thức lý
thuyết.
Vấn đề “tích hợp”được nghiên cứu, bàn luận dưới nhiều góc độ và
khía cạnh khác nhau, nhưng thực tế, nhiều GV và HS vẫn còn rất lúng túng.
Vì vậy, để có được một phương pháp dạy học mới, hiệu quả cần phải hiểu
chính xác, đầy đủ nguyên tắc tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung và
trong hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt THPT nói riêng.
23
Sự liên thông, tác động hay nói ngắn gọn là tích hợp giữa hợp phần lý
thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt với: Đọc - hiểu, Làm văn và nội bộ phân môn
Tiếng Việt được thể hiện rất rõ trong việc lựa chọn và sử dụng ngữ liệu.
Chương trình Tiếng Việt cũ, ngữ liệu sử dụng cho Tiếng Việt nói chung
và các bài thuộc hợp phần lý thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt nói riêng, được
các nhà biên soạn SGK lựa chọn tự do theo ý muốn, miễn là ngữ liệu đó minh
họa tốt cho các tri thức đã hoặc sẽ nêu trong bài. Trong khi đó, ở hợp phần lý
thuyết của phân môn Tiếng Việt hiện nay, ngữ liệu phải ưu tiên trước hết cho
tất cả các văn bản đã và đang học trong SGK. Ví dụ, trong hệ thống câu hỏi
hướng dẫn học bài của bài Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (Ngữ văn 10,
cơ bản, tập 1, tr. 15) có câu hỏi:
Anh (chị) vừa học bài Tổng quan văn học Việt Nam. Hãy cho biết:
a. Thông qua văn bản đó, hoạt động giao tiếp diễn ra giữa các nhân vật
giao tiếp nào? (Ai viết? Ai đọc? Đặc điểm của các nhân vật đó về lứa tuổi,
vốn sống, trình độ hiểu biết, nghề nghiệp, ?)
b. Hoạt động giao tiếp đó được tiến hành trong hoàn cảnh nào? (Hoàn
giữa phân môn Tiếng Việt và Làm văn, trong câu hỏi luyện tập của các bài lý
thuyết ngôn ngữ và tiếng Việt, những người biên soạn chương trình đã khéo
léo lồng ghép những sản phẩm ngôn ngữ của HS (câu văn, đoạn văn, bài
văn ), để làm ngữ liệu giúp các em chiếm lĩnh tri thức Tiếng Việt và ngược
lại để rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản cho HS.
Chẳng hạn, khi dạy học bài Những yêu cầu về sử dụng tiếng Việt phần
luyện tập có câu hỏi sau: “Đọc lại bài làm văn số 4 của anh (chị), hãy phân
tích và sửa chữa các lỗi (nếu có) về chữ viết, về từ ngữ, về câu văn, về cấu tạo
25