Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Mục lục
Phần mở đầu
A - Phần mở đầu
I - Lý do chọn đề tài:
1/ Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài ngời.
Ngôn ngữ còn là hiện thực trực tiếp của t tởng:
2/ Xuất phát từ nhiệm vụ của dạy đọc ở tiểu học:
3/ Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phơng pháp và hình thức tổ
chức dạy học Tiếng việt trong chơng trình mới:
4/ Thực trạng ở trờng Tiểu học hiện nay:
II - Mục đích nghiên cứu:
III - Giới hạn đề tài:
IV - Ph ơng pháp nghiên cứu:
1/ Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết:
2/ Phơng pháp điều tra khảo sát:
3/ Phơng pháp thực nghiệm s phạm:
B - Phần nội dung
Chơng I: Những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
I - Một số cơ sở lý luận:
1/ Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học:
2/ Một số vấn đề liên quan đến phơng pháp dạy học:
3
4
4
4
4
5
6
7
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
20
20
24
25
25
25
25
31
36
36
36
36
49
52
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
2
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Lới cảm ơn
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo Đặng Kim Nga -
cán bộ giảng dạy khoa giáo dục tiểu học trờng đại học s phạm Hà Nội đã tận
tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các giảng viên trong khoa giáo dục Tiểu học
đã quan tâm, giúp đỡ tôi và đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản về lý
luận nghiên cứu để tôi có điều kiện thuận lợi nhất thực hiện đề tài này.
Cuối cùng xin đợc cảm ơn các bạn đồng nghiệp, những ngời đã chia sẽ với
tôi những khó khăn, góp những ý kiến quý báu cũng nh giúp đỡ tôi tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài này.
chảy) đọc có ý thức (không hiểu đợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là
đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này đợc hình thành trong hai hình thức
đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng đợc rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn
nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực đến
những kỹ năng khác.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
4
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng nh cho phép thông hiểu nội
dung văn bản. Ngợc lại nêu không hiểu điều đang đọc thì không thể đọc nhanh và
diễn cảm đợc. Nhiều khi, khó mà nói đợc rạch ròi kỹ năng nào làm cơ sở cho kỹ
năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mới đọc đúng. Vì
vậy trong dạy đọc không thể xem nhẹ yếu tố nào.
- Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phơng pháp và thói quen
làm việc với bản bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành một
sự tôn sùng ngự trị trong nhà trờng đó là một trong những điều kiện để trờng học
thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải
làm cho học sinh thích đọc và thấy đợc rằng khả năng đọc là có lợi ích cho học
sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đờng đặc
biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.
- Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đợc đọc nên bên cạnh
nhiệm vụ rèn kỹ năng đọc, giáo dục lòng yêu sách phân môn tập đọc còn có
nhiệm vụ.
+ Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh.
+ Phát triển ngôn ngữ và t duy cho học sinh.
+ Giáo dục t tởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh.
3/ Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phơng pháp và hình thức tổ
chức dạy học Tiếng việt trong chơng trình mới:
Môn Tiếng việt trong chơng trình tiểu học mới, thực hiện sự đổi mới cả về
mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế
bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phơng.
Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nh thế nào, làm thế nào để chữa lỗi
phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh
hơn, rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn.
Làm thế nào để để hiểu đợc văn Làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc
hiểu, với cách dạy nh thế nào để cho những gì đợc đọc hiểu và tác động và chính
cuộc sống các em Đó là những trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ tập đọc từ
thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả cha cao mà trong chơng trình cha có hớng
dẫn cụ thể, cha đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
6
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Xuất phát từ những lý do vừa nêu trên trong luận văn này chúng tôi chọn
nghiên cứu về đề tài: Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2 .
II - Mục đích nghiên cứu:
1/ Nghiên cứu thực hiện đề tài này nhằm rèn kỹ năng đọc cho học học sinh
lớp 2 chơng trình mới.
2/ Nhiệm vụ:
- Khảo sát nội dung tìm hiểu ở SGK
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc dạy tập đọc. Tìm hiểu
về nội dung và phơng pháp dạy tập đọc lớp 2.
- Khảo sát thực trạng dạy đọc thông qua các giờ dạy tập đọc.
- Khảo sát kỹ năng đọc của học sinh qua một bài tập đọc.
III - Giới hạn đề tài:
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi trờng tiểu học. Nghiên cứu vấn đề rèn kỹ năng
đọc cho học sinh lớp 2 trờng Tiểu học Châu Kim - Quế Phong - Nghệ An.
IV - Ph ơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu theo
dẫn: Đặng Kim Nga
Chơng I: Những cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
I - Một số cơ sở lý luận:
1/ Một số vấn đề liên quan đến nội dung dạy học:
1.1/ Khái niệm đọc:
Môn Tiếng việt ở trờng phổ thông có nhiệm vụ hình thành năng lực hoạt
động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ đợc thể hiện trong bốn
dạng hoạt động, tơng ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đọc là
một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức viết sang lời nói có
âm thanh và thông hiểu nó (ứng với hình thức đọc thành tiếng) là quá trình chuyển
trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn vị nghĩa không có âm thanh (ứng với
đọc thầm) Hai mảng này có liên quan với nhau bởi vì đọc thành tiếng đúng thì mới
điểu và ngợc lại có hiểu mới đọc đúng đọc hay.
1.2/ ý nghĩa của việc đọc:
Những kinh nghiệm của đời sống, những thành tựu của văn hoá khoa học t
tởng tình cảm của các thế hệ trớc và của cả những ngơì đơng thời phần lớn đã đợc
ghi lại bằng chữ viết. Nếu không biết đọc thì con ngời không thể tiếp thu nền văn
minh của loài ngời, không thể sống một cuộc sống bình thờng có hạnh phúc với
đúng nghĩa của từ này trong xã hội hiện đại. Biết đọc con ngời đã nhận khả năng
tiếp nhận lên nhiều lần, từ đây anh ta biết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức
các mối quan hệ tự nhiên xã hội t duy, biết đọc con ngời sẽ có khả năng chế ngự
một phơng tiện văn hoá cơ bản giúp họ giao tiếp đợc với thế giới bên trong của ng-
ời khác, thông hiểu t tởng, tình cảm của ngời khác đặc biệt khí đọc các tác phẩm
văn chơng, con ngời không chỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm,
nảy nở những ớc mơ tốt đẹp đợc khơi dậy năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo
cũng nh bồi dỡng tâm hồn. Không biết đọc con ngời sẽ không có điều kiện hởng
thụ sự giáo dục mà xã hội dành cho họ, không thể hình thành đợc một nhân cách
toàn diện. Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin thì biết đọc ngày càng quan
trọng vì nó sẽ giúp ngời ra sử dụng các nguồn thông tin, đọc chính là học, học nữa,
học mãi, đọc để tự học học cả đời.
giữa những mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc. Đó là điểm phân biệt ngời mới
biết đọc và ngời đọc thành thạo. Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên
bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác biểu cảm bấy nhiêu.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
10
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với nắm kỹ thuật đọc (tức là việc chuyển
dạng thức chữ viết của từ và âm thanh) đọc đợc hiểu và kỹ thuật đọc cộng với sự
thông hiểu đọc (không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài) ý nghĩa cả hai
mặt của thuật ngữ đọc đợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lý học và phơng pháp
dạy học.
Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu
dài T.G.E Gôrốp chia việc hình thành kỹ năng này qua 3 giai đoạn phân tích, tổng
hợp (còn gọi là giai đoạn phát sinh, hình thành một cấu trúc chính thể của hành
động) và giai đoạn tự động hoá.
Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây ngời ta đã chú
trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kỹ năng
đọc, làm việc với văn bản. Đòi hỏi tổ chức giờ tập đọc sao cho việc phân tích nội
dung của bài đọc, đồng thời hớng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hớng đến đọc
có ý thức bài đọc.
Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đa ra cho các
em đọc thì các em sẽ không có hứng thú học tập và không có khả năng thành
công. Do đó hiểu những gì đợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc.
Mục đích này chỉ có thể đạt đợc thông qua con đờng luyện giao tiếp có ý
thức. Một phơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu đạt tới
trong sự chiếm lĩnh ngôn ngữ. Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọc thầm.
Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bớc sau:
+ Hiểu nghĩa các từ ngữ
+ Hiểu nghĩa các câu
điệu gồm toàn bộ các phơng tiện siêu đoạn (siêu âm đoạn tính) đợc sử dụng bình
diện câu nh độ thấp của âm thanh cờng độ mạnh yếu, hay là môi trờng truyền dẫn
(độ dài ngắn của âm thanh, hay là thời gian thực tế của âm thanh) âm sắc (là sắc
thái riêng của âm thanh)
Ngữ điệu là yếu tố gắn chặt với lời nói, là yêu tố tham gia tạo thành lời nói
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
12
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Mỗi ngôn ngữ, có một ngữ điệu riêng, ngữ điệu Tiếng việt nh các ngôn ngữ
có thanh điệu khác, chủ yếu đợc biểu hiện ở sự lên giọng và xuống giọng (trờng
độ) và sự chuyển giọng (phối hợp cả cờng độ và trờng độ).
1.4.2/ Cơ sở lý thuyết văn bản phong cách học và việc dạy đọc cho học sinh:
Việc dạy học không thể dựa trên lý thuyết văn bản, những tiêu chuẩn để
phân tích, đánh giá một văn bản nói chung cũng nh lý thuyết để phân tích đánh giá
các tác phẩm văn chơng nói riêng. Việc hình thành kỹ năng đọc cho học sinh phải
dựa trên những tiêu chuẩn đánh giá văn bản tốt, tính chính xác, tính đúng đắn và
tính thẩm mỹ, dựa trên các đặc điểm về kiểu ngôn ngữ, các phong cách chức năng,
các thể loại văn bản các đặc điểm về tác phẩm của thể loại văn chơng dùng làm
ngữ liệu đọc ở Tiểu học.
Ví dụ: Cách đọc và khai thác để hiểu nội dung bài thơ, một đoạn tả cảnh,
một câu tục ngữ, một truyền thuyết, một bài lịch sử là khác nhau. Việc h ớng
dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài đọc cũng phải dựa trên những hiểu biết về đề
tài, chủ đề kết cấu nhân vật, quan hệ giữa nội dung hình thức, các biện pháp thể
hiện trong tác phẩm văn học nhằm miêu tả, kể chuyện và biểu hiện các phơng
tiện, biện pháp tu từ.
Khi luyện đọc cho học sinh dựa trên những hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ
văn học, tính hình tợng, tính tổ chức cao và tính hàm đa nghĩa của nó.
* Chuẩn bị cho việc đọc thành tiếng:
Giáo viên hớng dẫn học sinh chuẩn bị tâm thế để đọc. Khi ngồi đọc cần
phát âm Tiếng việt. Đọc đúng bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm
vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ (đọc đúng ngữ điệu) .
- Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng
việt.
+ Đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch
+ Đọc đúng các chính âm: Có ý thức phân biệt để không đọc Ơn, ân cơn
ma, cân ma.
+ Đọc đúng các âm cuối
+ Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phơng nh lẫn thanh (~) và
thanh nặng (.) VD: Dũng - Dụng, xã - xạ.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
14
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
+ Đọc đúng bao gồm cả đúng tiểu tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa
vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc
không đợc tách một từ làm hai. VD: Ông già bẻ gẫy từng chiếc một/cách dễ dàng.
+ Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm:
Ví dụ không đọc: - Em cầm tờ/lịch cũ
Ngày hôm qua đâu rồi
+ Không tách quan hệ từ là với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: - Mẹ
là/ngọn gió của con suốt đời:
- Việc ngắt hơi phải phù hợp với các dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu
hơn ở dấu chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, học giọng
ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm, với
câu cầu khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác
nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu..
Nh vậy đọc đúng đa bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm.
- Trình tự luyện đọc đúng: Trớc khi lên lớp giáo viên phải dự tính để ngăn
ngừa các lỗi khi đọc. Tuỳ đối tợng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà
trình chuyển từ ngoài vào trong này.
Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời
gian đọc thầm cho từng đoạn và bài.
+ Đọc hiểu: Hiệu quả của đọc thầm đợc đo bằng khả năng thông hiểu nội
dung văn bản đọc. Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức đọc hiểu. Kết
quả của đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài. Tức
là toàn bộ những gì đợc đọc. Nh tâm lý ngôn ngữ học đã chỉ ra để hiểu và nhớ
những gì đợc đọc ngời đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng nh nhau
mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ chìa khoa những nhóm từ mang ý
nghĩa cơ bản. Đó là những từ để giúp ta hiểu đợc nội dung của bài. Trong những
bài khoa văn chơng đó là những từ dùng đắt tạo nên giá trị nghệ thuật của từ có
tín hiệu nghệ thuật. Đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm nh các từ láy, những từ
đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chơng.
Tiếp đó cần hớng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng
của bài. Những câu nêu ý nghĩa chung của bài.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
16
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
2/ Một số vấn đề liên quan đến phơng pháp dạy học:
2.1/ Nguyên tắt dạy học:
Những nguyên tắt đặc trng của dạy học Tiếng việt ở tiểu học phải phản ánh
đợc đặc trng của chính quá trình dạy học Tiếng việt ở Tiểu học và chi phối bao
trùm lên rất cả quá trình dạy. Những nguyên tắc đang đợc xem là chung nhất và
mang tính đặc thù trong dạy học Tiếng việt ở Tiểu học là nguyên tắt phát triển lời
nói (còn gọi là nguyên tắc giao tiếp huy nguyên tắc thực hành) nguyên tắc phát
triển từ duy (còn gọi là nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện t duy
hay nguyên tắc phát triển) và nguyên tắc tính đến trình độ phát triển tiếng mẹ đẻ
của học sinh.
2.1.1/ Nguyên tắc phát triển lời nói (nguyên tắc) giao tiếp, nguyên tắc
của việc thực hiện nguyên tắc, yêu cầu thứ hai là phải phát huy tính tích cực chủ
động của học sinh trong giờ học Tiếng việt. Yêu cầu thứ ba là giáo viên cần hệ
thống hoá, phát huy những năng lực tích cực của học sinh hạn chế và xoá bỏ
những mặt tiêu cực về lời nói của các em trong quá trình học tập. Ví dụ, chú trọng
dạy phong cách viết và dạng độc thoại là những phong cách và dạng lời nơi học
sinh mới làm quen lần đầu tiên khi đến trờng. Chú ý chữa các lỗi phát âm địa ph-
ơng đặc biệt là các lỗi chính tả do phát âm địa phơng.
Với những học sinh học Tiếng việt với t cách là thứ tiếng th hai. Việc vận
dụng nguyên tắc này cũng rất quan trọng. Nếu tiếng mẹ đẻ có đặc điểm giống
Tiếng việt thì học sinh cần sử dụng kinh nghiệm nói năng sang nói Tiếng việt. Còn
những điểm nào không giống thì xem là cản trở, cần làm so sánh loại hình, nghiên
cứu sự chuyển di tích cực và tiêu cực để có ứng dụng trọng dạy học Tiếng việt cho
những đối tợng này.
Vấn đề nguyên tắc dạy tiếng đang đợc tiếp tục nghiên cứu từ mô hình thực
tế đến các quy luật, từ quy luật đến các nguyên tắc các phơng pháp rồi lại quay về
thực tế. Quy trình cần có này cha đợc khép kín. Vì vậy trên thực tế, các nguyên tắc
dạy học Tiếng việt cha đợc ứng dụng triệt để và cha có kết quả cao.
2.2/ Phơng pháp dạy học:
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
18
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Phơng pháp dạy học Tiếng việt là cách thức làm việc của thầy giáo và học
sinh nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức và kỹ năng Tiếng việt.
* Các phơng pháp dạy học Tiếng việt Tiểu học:
+ Phơng pháp phân tích ngôn ngữ:
Là phơng pháp đợc sử dụng một cách có hệ thống trong việc xem xét tất cả
các mặt của ngôn ngữ: Ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu tạo từ, chính tả, phong
cách với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ. Hình thức và cách
thức cấu tạo ý nghĩa của việc sử dụng chúng trong nói năng. Các dạng phân tích
học sinh trình độ của giáo viên, điều kiện vật chất.
II - Một số cơ sở thực tiễn:
1/ Các phơng tiện dạy học:
- ở địa bàn chúng tôi đồ dùng dạy học đã có là bảng phụ phấn màu, phiếu
bài tập và tranh minh họa trong sách giáo khoa.
Đồ dùng, các phơng tiện hiệu quả giờ dạy tập đọc. Hiện nay trong thực tế
dạy học tập đọc có hai cách làm trái ngợc nhau. Có những giáo viên khi dạy tập
đọc không bao giờ quan tâm đến việc chuẩn bị đồ dùng gì khác ngoài quyển SGK.
Ngợc lại có những giáo viên cho rằng đồ dùng dạy học là điều kiện đầu tiên quyết
định chất lợng giờ dạy. Để minh hoạ cho một tiết tập đọc có giáo viên đã bỏ ra vài
trăm ngàn đồng để có đợc một bức tranh.
Khi chuẩn bị đồ dùng dạy học, giáo viên cần xác định đợc mục đích của đồ
dùng đó là gì, nó đợc sử dụng vào lúc vào và cách sử dụng của nó ra sao. Trong
thực tế có những giáo viên đã sử dụng đồ dùng trực quan một cách tuỳ tiện mà
không nắm đợc mục đích của chúng.
+ Các tài liệu dạy học:
- Sách giáo khoa
Sách đợc xây dựng theo 2 trục là chủ điểm và kỹ năng trong đó chủ điểm đ-
ợc lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kỹ năng đợc lấy làm khung cho từng tuần,
từng đơn vị học.
Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị học gắn với một chủ điểm cho
trong 2 tuần (riêng chủ điểm nhân dân học trong 3 tuần) thời gian còn lại (5 tuần)
để ôn tập, kiểm tra giữa kỹ hoặc cuối kỳ.
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
20
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
Tập một tập trung vào mảng Học sinh - nhà trờng - gia đình gồm 8 đơn vị
học dạy trong 16 tuần và 2 tuần cho ôn tập kiểm tra giữa kỳ và cuối kỳ.
Các đơn vị học là: Em là học sinh (Tuần 1, 20 bạn bè (Tuần 3, 4) trờng học
- Phân môn luyện từ và câu có 1 bài dạy trong 1 tiết
- Phân môn tập làm văn có 1 bài dạy trong 1 tiết
* Những thuận lợi:
- Khổ sách lớn hơn so với SGK lớp 2 cũ, kênh chữ rõ ràng giúp học sinh dễ
dàng trong việc tập đọc.
- Các chủ điểm sát thực, gần gủi với đời sống hàng ngày của học sinh.
+ Các loại văn bản không phải là văn đợc đa vào dạy trong phân môn tập
đọc nh văn bản hành chính, báo chí hành dụng, giúp học sinh vận dụng những
điều đã học vào cuộc sống. Không văn chơng hoá kiến thức trung các bài tập đọc
của Tiểu học.
+ Đa vào dạy các truyện vui đem đến cho các giờ học những tiếng cời nhẹ
nhàng, qua đó góp phần hình thành ở cách em trí thông minh, óc hài hớc và lòng
nhân nhận.
- Khó khăn: Khổ sách lớn, giấy lại mỏng nên việc quản lý và giữ gìn SGK
không đợc tốt.
* Sách giáo viên: Cấu trúc bài soạn trong SGK nhìn chung gồm 3 phần:
Mục tiêu của bài học, đồ dúng dạy học những hoạt động dạy học chủ yếu. Cấu
trúc này phản ánh đợc sự đổi mới về phơng pháp dạy học thu định hớng tổ chức
các hoạt động học tập cho học sinh, học sinh đợc hoạt động dới nhiều hình thức,
đợc hỗ trợ nhiều phơng tiện và thiết bị dạy học để hoạt động.
- SGV chỉ đa ra những gợi ý về cách tổ chức cho học sinh làm việc về cách
đánh giá, về việc đúng các thiết bị mà không nếu thành các yêu cầu mang tính
chất bắt buộc giáo viên phải làm theo. Vì thế giáo viên có cơ hội để vận dụng linh
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
22
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
hoạt và sáng tạo những hớng dẫn nói trên vào điều kiện daỵ học cụ thể của lớp
mình.
SGV đồng thời là một tài liệu nguồn, trong sách có nhiều bài đã cung cấp
kỹ năng đọc của học sinh còn thấp. Đọc ngắt nghỉ hơi cha đúng, học sinh cha hiểu
đợc cách nói văn chơng vốn lý luận cha có. Kết quả học đọc của các em cha đáp
ứng đợc yêu cầu của việc hình thành kỹ năng đọc, các em cha nắm đợc công cụ
hữu hiệu để lĩnh hội tri thức, t tởng tình cảm của ngời khác chứa đựng trong văn
bản đọc.
- Đa số các em còn ham chơi vốn kiến thức của các em còn hạn chế.
- Các em còn phụ thuộc nhiều vào giáo viên
Chơng II
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao
hiệu quả dạy học về phân môn tập đọc lớp 2
I - Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập
đọc lớp 2
1/ Đối mới các phơng tiện dạy học:
- Xây dựng phổ biến các phơng tiện dạy học khác nhau.
- Khuyến khích giáo viên làm đồ dùng phù hợp với nội dung bài. Biết sử
dụng phơng tiện khác nhau một cách có hiệu quả.
- Hớng dẫn học sinh sử dụng các đồ dùng dạy học để các em tự phát triển
tri thức mới hình thành những kỹ năng cần thiết phát triển năng lực cá nhân
Ng ời thực hiện: Nguyễn Thị Vinh
24
Ng ời h ớng
dẫn: Đặng Kim Nga
2/ Đổi mới nội dung dạy học:
Nh ta đã biết chất lợng đọc của học sinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong
đó vai trò hớng dẫn của giáo viên rất quan trọng.
2.1/ Chuẩn bị kỹ cho việc đọc:
- Giáo viên có kỹ năng đọc thành thục.
Kỹ năng đọc là mục đích cuối cùng chúng ta muốn có ở học sinh sau mỗi
giờ học. Những kỹ năng này trớc hết phải có kỹ năng giải mã nghĩa, ý của văn bản
đó. Giáo viên phải tạo đợc hình đọc lý tởng cũng tức là phải có kỹ năng đọc thành