ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ HOÀN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI MỞ
PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ
SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÙI THỊ HOÀN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI MỞ
PHẦN ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN TRUNG HỌC CƠ
SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:TS. Nguyễn Trọng Hoàn
: Giáo viên :
HS
Học sinh
SGK
: Sách giáo khoa :
SGV
Sách giáo viên
THCS
: Trung học cơ sở
NXB
: Nhà xuất bản
i
i
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ...................................................................................................................i
Danh mục chữ viết tắt .................................................................................................ii
iii
2.2. Kĩ năng đặt câu hỏi mở phần đọc - hiểu văn bản chương trình Ngữ văn cấp
THCS.........................................................................................................................31
2.2.1. Lên kế hoạch chuẩn bị cho các câu hỏi...........................................................31
2.2.2. Đặt câu hỏi ......................................................................................................32
2.2.3. Lắng nghe, đồng cảm và chia sẻ .....................................................................33 2.3.
Đề xuất hệ thống câu hỏi mở phần Văn học dân gian .......................................34 2.3.1.
Khái quát đặc trưng chủ yếu của một số thể loại của Văn học dân gian trong chương
trình Ngữ văn cấp THCS..............................................................................34 2.3.2. Một
số đề xuất khi xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Văn học dân gian ở trường
THCS.............................................................................................................39 2.4. Đề xuất
hệ thống câu hỏi mở phần Văn học trung đại.......................................44 2.4.1. Khái quát
đặc trưng của Văn học trung đại trong chương trình Ngữ văn bậc
THCS.........................................................................................................................44
2.4.2. Một số đề xuất khi xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Văn học trung đại ở
trường THCS.............................................................................................................48 2.5.
Đề xuất hệ thống câu hỏi mở phần Văn học hiện đại ........................................50 2.5.1.
Khái quát đặc trưng của Văn học hiện đại trong chương trình Ngữ văn cấp
THCS.........................................................................................................................50
2.5.2. Một số đề xuất khi xây dựng câu hỏi mở trong dạy học Văn học hiện đại ở
trường THCS.............................................................................................................53 2.6.
Điều kiện để xây dựng hệ thống câu hỏi mở .....................................................55 2.6.1.
Trên cơ sở mục tiêu bài học, giáo viên chủ động thiết kế nội dung chuẩn bị bài cho học
sinh.........................................................................................................55 2.6.2. Học sinh
tích cực trong việc khai thác kiến thức và bộc lộ năng lực .............56 2.6.3. Giáo viên và
học sinh làm việc trên lớp theo tinh thần tương tác ..................57 2.6.4. Đổi mới phương
pháp kiểm tra và đánh giá....................................................57 Tiểu kết chương
Thống kê các văn bản trong chương trình Ngữ văn lớp 8 ........................18 Bảng 1.6.
Thống kê các văn bản trong chương trình Ngữ văn lớp 9 ........................19 Bảng 1.7.
Thống kê các câu hỏi hướng dẫn HS được sử dụng trong phần đọc hiểu văn bản Ngữ
văn lớp 6 ..............................................................................................20 Bảng 1.8. Thống
kê các câu hỏi hướng dẫn HS được sử dụng trong phần đọc hiểu văn bản Ngữ văn lớp
7 ..............................................................................................21 Bảng 1.9. Thống kê các
câu hỏi hướng dẫn HS được sử dụng trong phần đọc hiểu văn bản Ngữ văn lớp
8 ..............................................................................................21 Bảng 1.10. Thống kê các
câu hỏi hướng dẫn HS được sử dụng trong phần đọc hiểu văn bản Ngữ văn lớp
9 ..............................................................................................21 Bảng 1.11. Cấu trúc giảng
dạy trong sách giáo viên Ngữ văn..................................22 Bảng 1.12. So sánh hai dạng
câu hỏi: Câu hỏi phát hiện và câu hỏi mở ..................25 Bảng 2.1. Các nội dung giảng
dạy của tục ngữ.........................................................37 Bảng 2.2. Hệ thống câu hỏi mở
giúp HS tìm hiểu tư liệu về văn bản truyền thuyết 40 Bảng 2.3. Hệ thống câu hỏi mở khi
dạy truyện cổ tích "Thạch Sanh" .....................41 Bảng 2.4. Hệ thống câu hỏi mở khi dạy
truyện cười "Lợn cưới, áo mới"................42 Bảng 2.5. Đề xuất hệ thống câu hỏi mở khi
dạy các văn bản tự sự ..........................53 Bảng 3.1: Bảng thống kê ý kiến học sinh về
kiến thức, kĩ năng, thái độ của bài
học ...................................................................................................................................98
Bảng 3.2: Bảng thống kê số lượng ý kiến về mức độ phù hợp giữa năng lực với hệ thống
câu hỏi mở đã sử dụng trong bài "Thầy bói xem voi"....................................99 Bảng 3.3:
Bảng thống kê số lượng ý kiến về mức độ phù hợp giữa năng lực với hệ thống câu hỏi
mở đã sử dụng trong bài "Bạn đến chơi nhà". ...................................99 Bảng 3.4: Bảng
thống kê số lượng ý kiến về mức độ phù hợp giữa năng lực với hệ thống câu hỏi mở đã
sử dụng trong bài "Một thứ quà của lúa non: Cốm" .............100
vi
Bảng 3.5: Bảng thống kê số lượng ý kiến đánh giá của học sinh về khả năng đạt yêu
tìm tòi phát hiện cảm nhận theo những suy nghĩ riêng của HS. Như vậy, tác phẩm văn
học sẽ trở thành đối tượng của thầy trò trong quá trình dạy học. Hiện nay phương pháp
giảng dạy tích cực theo quan điểm "Lấy học sinh làm trung tâm" đã được đưa vào ứng
dụng. Trong hoạt động dạy học nói chung, trong giờ giảng văn nói riêng với phương pháp
này thì phải có sự tác động qua lại giữa GV và HS. Để phát huy tính tích cực của HS
trong hoạt động học tập thì GV có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo hoạt động của trò. Trò phải là
chủ thể tự giác tích cực trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Để giờ học tác phẩm văn
chương trở nên sinh động, vai trò của học trò trong giờ học được khẳng định và mối liên
hệ qua lại thường xuyên giữa thầy và trò được duy trì thì không thể thiếu hệ thống câu hỏi.
Lý luận dạy học đã có nhiều công trình nghiên cứu được áp dụng trong quá trình
giảng dạy văn học đem lại hiệu quả cao. Trong các công trình đó các nhà nghiên cứu
cũng đều chú trọng đến phương pháp gợi mở mà trong đó câu hỏi được
1
sử dụng như một liệu pháp chính để phát huy tư duy của HS. Trong quá trình giảng
dạy, tuỳ vào điều kiện thực tế, tuỳ cách sáng tạo của mỗi GV xây dựng hệ thống câu hỏi
và tiến hành thực hiện cách hỏi nhằm định hướng và tổ chức điều khiển hoạt động của
HS trong giờ giảng văn. Nhưng việc sử dụng câu hỏi như thế nào để kích thích HS, giúp
các em học tập chủ động hơn càng là một yêu cầu không thể thiếu. Bởi lẽ dạy học văn là
không chỉ là dạy một môn nghệ thuật mà cũng là dạy một môn khoa học. Vì vậy, dạy học
văn ngày nay cần phải giúp HS bộc lộ suy nghĩ và cách cảm thụ văn học riêng. Để từ
đó, học văn thực sự mang lại hứng thú cho HS, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách các em,
mang lại nhiều lợi ích và kĩ năng sống cho bản thân người học.
Trong quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng thì câu hỏi
luôn được xem là một trong những cách thức tích cực hóa vai trò của người học. Đó là
một trong những công cụ quan trọng để hướng dẫn người học chiếm lĩnh tri thức và
hình thành kỹ năng. Khi được đặt vào những tình huống đối diện với những câu hỏi, HS
sẽ phải vận dụng các thao tác phân tích, so sánh, liên tưởng, suy luận rồi từ đó rút ra kết
đã đưa ra căn cứ để xây dựng hệ thống câu hỏi Ngữ văn cấp THCS... Những năm gần
đây, trong cuốn Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ văn cấp THCS
(2009-2010), Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các môn khoa học xã hội phải xây dựng
hệ thống câu hỏi mở và đáp án mở trong quá trình dạy học. Cùng với nỗ lực đổi mới
phương pháp dạy học, trường Đại học Giáo dục đã tổ c hứ c n h iề u c uộ c h ộ i t h ả o đề cậ
p v ấn đề dạ y h ọ c v ớ i câ u h ỏ i hi ệ u q uả . T r ong c u ộ c h ộ i th ả o đ ã c ung c ấ p nh i ều b ài n
g hi ên c ứu c ó g iá t rị v ề vấ n đ ề nà y c ũ n g n h ư đư a ra nh ữn g t iê u c hí đá n h gi á c â u hỏ i c ó
hi ệu qu ả.
Nhìn chung, ở trên thế giới và trong nước, vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học
không còn xa lạ. Và sự phong phú của các công trình cũng đã phần nào nói lên điều đó.
Tuy nhiên vấn đề đặt câu hỏi nói chung và câu hỏi mở trong môn Ngữ Văn nói riêng
chưa có tài liệu nào viết một cách thật sự "bài bản". Chưa có một cuốn sách thật sự
chuyên về vấn đề đặt câu hỏi mở trong dạy học Ngữ Văn. Những bài viết về vấn đề này
phần nào mới chỉ nằm rải rác trong các tài liệu. Trong khi đó, nghiên cứu đặt câu hỏi
mở trong dạy học nói chung và dạy học Ngữ Văn nói riêng có giá trị ứng dụng rất cao
trong việc giúp giáo viên thực hiện một giờ dạy phù hợp với bản chất của dạy học hiện
đại theo quan điểm "lấy người học làm trung tâm". Thông qua đề tài Xây dựng hệ
thống câu hỏi mở phần đọc hiểu văn bản chương trình Ngữ văn cấp THCS, chúng ta
sẽ xác lập một hệ thống khoa học các vấn đề về đặt câu hỏi mở trong dạy học và áp
dụng lý thuyết đó xây dựng một quy trình thiết kế câu hỏi mở với đối tượng cụ thể là
dạy học phần đọc hiểu văn bản chương trình Ngữ văn cấp THCS.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu xây dựng hệ thống câu hỏi mở phần đọc hiểu văn
bản chương trình Ngữ văn Trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Ngữ văn cấp THCS.
5
4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
6
+ Hệ thống câu hỏi mở phần Văn học hiện đại
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: hệ thống hóa phân tích tổng hợp các thông tin để
phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu lý luận.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp: điều tra, phỏng vấn, thống kê toán học, phân
tích, tổng hợp số liệu, lấy ý kiến chuyên gia để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu thực
tiễn.
7.3. Phương pháp thực nghiệm
Soạn, giảng trực tiếp trên lớp bằng một số giáo án trong chương trình Ngữ
văn THCS.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lí luận của đề tài
- Bổ sung thêm phần cơ sở lý luận về lí luận dạy học, phương pháp dạy học
và phương pháp dạy học Ngữ văn.
- Làm rõ thực trạng dạy học Ngữ văn ở nhà trường THCS hiện nay.
- Cung cấp một cách rõ ràng và hệ thống cơ sở lí luận những vấn đề cơ bản
về xây dựng hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn THCS.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xây dựng và triển khai hiệu quả hệ thống câu hỏi mở có thể góp
cao chất lương daỵ hoc̣ Ngữ văn
phần nâng
trong nhà trường phổ thông và có thể được ứng
Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng về dấu hiệu bản chất của câu hỏi, đều
được các tác giả nêu ra, đó là: xuất hiện điều chưa rõ, cần được giải quyết từ điều đã
biết. Trong đời sống cũng như trong nghiên cứu khoa học, con người chỉ nêu ra thắc
mắc, tranh luận khi đã biết nhưng chưa đầy đủ, cần biết thêm. Nếu khi không biết gì
hoặc biết tất cả về sự vật nào đó, thì không có gì để hỏi về sự vật đó nữa. Sự tương
quan giữa cái biết và cái chưa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con người.
Trong quá trình dạy học nói chung và trong dạy học Ngữ văn nói riêng, câu hỏi
được đặt ra khi người dạy muốn tạo "tình huống có vấn đề", đòi hỏi HS phải suy nghĩ
trả lời nhằm thu được kiến thức và đạt được những yêu cầu về kĩ năng, hoặc thái độ cụ
thể cho từng bài học.
Câu hỏi được đặt ra là cách thức để thực hiện sự giao tiếp và cốt yếu là để
khêu gợi, thúc đẩy sự giao tiếp nhằm đạt đến mục đích cuối cùng của bài học.
Câu hỏi chứa trong mình những nội dung khác nhau để học hỏi, để truyền đạt
8
và để kiểm tra, tích lũy tri thức cho HS.
Mục đích nêu câu hỏi trong dạy học là để:
+ Kiểm tra sự chuẩn bị bài học ở HS. + Thực
hiện việc giảng bài. + Luyện tập và thực
hành.
+ Tổ chức, hướng dẫn HS học tập.
+ Khích lệ, kích thích suy nghĩ. +
Đánh giá trình độ của HS.
Về bản chất, theo GS. TS Nguyễn Thanh Hùng thì "câu hỏi trong nhà trường là
hình thức phổ biến và hết sức cơ bản để bày tỏ quan hệ tin cậy và tôn trọng HS ở người
GV" [43;7]. Thực chất nêu câu hỏi là vận dụng phương pháp đối thoại trong dạy học
Ngữ văn. Nó xứng đáng là một trong những phương pháp dạy học theo hướng tích cực
hóa hoạt động của HS.
Vì câu hỏi có một vai trò quan trọng như thế nên có thể nói chất lượng cũng như
khả năng thành công của một bài học và một giờ dạy sẽ được quyết định chủ yếu qua
hệ thống câu hỏi. Bài học ấy, giờ học ấy đã thật sự phát huy được tính tích cực của
người học hay chưa; mục đích của bài học ấy, giờ học ấy có hướng đến
phát triển năng lực hay không, về căn bản là do hệ thống câu hỏi quyết định.
1.1.2. Lí thuyết về hệ thống câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn
1.1.2.1. Khái niệm câu hỏi mở
Có nhiều tài liệu đã giải thích cụ thể "Thế nào là một câu hỏi mở"? Theo TS.
Nguyễn Minh Tuấn thì câu hỏi mở là hỏi khi muốn nắm bắt ý kiến riêng của người hỏi,
đào sâu thêm thông tin, khơi gợi người được hỏi nói về những điều mà người hỏi muốn
biết hay chưa rõ [26].
Còn trong dạy học, các câu hỏi yêu cầu HS tự bảo vệ ý kiến và giải thích lý do
của mình gọi là những câu hỏi mở. Câu hỏi mở là câu hỏi có nhiều đáp án và khuyến
khích HS suy nghĩ chứ không chỉ khôi phục thông tin từ trong trí nhớ.
1.1.2.2. Vai trò của câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn
Việc giảng dạy tri thức mới hay kỹ năng mới trong môn Ngữ văn thông thường
phải dựa trên nền tảng đã biết của HS. Chiến thuật đặt câu hỏi gợi mở của GV sẽ khiến
HS nhớ thông tin tốt hơn, học bài mà có cảm giác thú vị khi mình tự cảm nhận, phát
hiện những chi tiết nghệ thuật độc đáo, hay tiếp thu kiến thức mới. Việc đặt câu hỏi gợi
mở không chỉ giới hạn về ở phạm vị ngôn ngữ như từ vựng, cấu trúc cú pháp mà còn
có thể khơi gợi ý tưởng, cảm xúc, tình huống, sự liên
tưởng nào đó…
10
Câu hỏi mở kích thích HS đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm.
Không chỉ có một câu trả lời đúng. Đưa ra các câu hỏi mở cho nhóm HS sẽ thu được vô
số các ý tưởng và câu trả lời khác nhau.
Câu hỏi mở giúp GV thăm dò, lấy ý kiến của HS, đòi hỏi HS tư duy nhiều,
sự bạo dạn, khả năng thuyết trình và bảo vệ ý kiến riêng của HS. Sự nhàm chán của
những tiết dạy thông thường sẽ được thay thế bằng sự cởi mở, sôi nổi, hồn nhiên và đầy
thú vị! Vậy mới biết, hiệu quả của những câu hỏi mở quả thực là rất lớn.
1.1.2.3. Đặc điểm của câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn
Qua quá trình thực tế giảng dạy trên lớp và việc nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi thấy
có một số đặc điểm tiêu biểu để chúng ta có thể dễ dàng nhận ra dấu hiệu của
các câu hỏi mở được sử dụng trong giờ dạy:
+ Khi một câu hỏi mở được đặt ra, nó yêu cầu HS phải tạm dừng, suy nghĩ và phản ứng.
+ Câu trả lời của HS có thể không phải là đúng theo định hướng của GV, mà nó là cảm
xúc cá nhân, ý kiến, hay ý tưởng, nhận định riêng của HS về một vấn đề nào đó.
+ Khi hỏi những câu hỏi mở, việc kiểm soát nội dung sẽ chuyển qua cho GV và GV bắt
đầu trao đổi với HS.
Có thể phân loại các dạng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn như sau:
Bảng 1.1. Phân loại một số dạng câu hỏi mở trong dạy học Ngữ văn
Một số dạng câu hỏi mở
Ví dụ
a. Câu hỏi đào sâu (giúp khai thác (?) Chi tiết trong tác phẩm này có ý nghĩa gì với
thông tin tác phẩm, mở rộng vấn em?
đề, giúp tìm bản chất cốt lõi, chủ (?) Em có thể mở rộng ý này như thế nào?
đề của tác phẩm)
(?) Tại sao vấn đề này lại quan trọng thế? Tại sao
em nghĩ vậy?
(?) Em có thể trình bày vấn đề được gợi ra trong tác
phẩm theo một cách khác được không? Em
có thể giải thích lý do cho mọi người không?
trong tác phẩm chưa và em đã xử lý ra sao?
...
e. Câu hỏi hành động (giúp HS (?) Em chuẩn bị làm gì...?
lập kế hoạch và triển khai các ý (?) Khi nào em sẽ...?
tưởng vào tình huống thực tế)
Như vậy, thông qua hệ thống các câu hỏi trên, khi GV áp dụng vào từng bài
giảng, từng văn bản theo những đặc trưng riêng biệt, nó sẽ giúp cho HS tìm ra được các
mối quan hệ trong hiện tượng, sự kiện, tự đưa ra diễn giải hoặc kết luận riêng về tác
phẩm. Hệ thống câu hỏi này giúp khuyến khích quá trình đọc và đồng sáng tạo với tác
giả, tăng khả năng liên tưởng, tưởng tượng (đây là yếu tố quan trọng đối với việc học Văn).
Đồng thời, HS biết cách lựa chọn nhiều phương pháp để giải quyết các đề văn,
hình thành lối tư duy và cách viết, cách giải quyết vấn đề mà không lâm vào "thế bí" khi
viết văn như các HS gặp phải hiện nay.
13
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Đặc điểm của môn Ngữ văn Trung học cơ sở (THCS)
1.2.1.1. Cấu trúc
Bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc THCS được biên soạn theo Chương trình
THCS ban hành kèm theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24 tháng 1 năm
2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bên cạnh những hướng cải tiến chung
của bộ Chương trình như giảm tải, tăng thực hành, gắn đời sống, nét cải tiến nổi bật nhất
của Chương trình và sách giáo khoa môn Ngữ văn là hướng tích hợp.
Biểu hiện rõ nhất của hướng đó là việc sáp nhập ba phần lâu nay vẫn thường được
gọi là ba phân môn (Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn) vào một chỉnh thể là Ngữ văn.
Việc thay đổi cấu tạo và tên gọi môn học ảnh hưởng không nhỏ đến cấu trúc sách
6
24 tiết 27
23 tiết
47 tiết
7
tiết 24
16 tiết
43 tiết
8
tiết 37
21 tiết
45 tiết
9
tiết
29 tiết
Bảng 1.3. Thống kê các văn bản trong chương trình Ngữ văn lớp 6
- Truyền thuyết:
Con Rồng, cháu Tiên, Bánh chưng bánh giầy, Thánh Gióng;
Sơn Tinh, Thủy Tinh, Sự tích Hồ Gươm.
- Truyện cổ tích:
Văn học dân
Thạch Sanh, Em bé thông minh, Cây bút thần (truyện
gian
cổ tích Trung Quốc), Ông lão đánh cá và con cá vàng
(truyện cổ tích của A. Pu-skin).
- Truyện ngụ
ngôn:
Ếch ngồi đáy giếng, Thầy bói xem voi; Chân, Tay, Tai,
Mắt, Miệng.
- Truyện
cười:
Treo biển, Lợn cưới áo
mới.
Văn học trung
đại
- Con hổ có nghĩa (Truyện trung đại Việt
Nam).
- Mẹ hiền dạy con (Trích từ sách "Liệt nữ truyện" Trung
Quốc