Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
BẢNG VIẾT TẮT
BTMT: Biểu thức miêu tả
TPPT: Thành phần phụ trước
TPTT: Thành phần trung tâm
TPPS: Thành phần phụ sau
DT: Danh từ
ĐT: Động từ
TT: Tính từ
Đ.T: Đại từ
GT: Giới từ
1
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
Chiếu vật là vấn đề thứ nhất của Ngữ dụng học. Nghiên cứu về chiếu vật
không thể không quan tâm đến biểu thức miêu tả (BTMT) bởi đó là một phương
thức chiếu vật quan trọng. Nhìn nhận BTMT dưới góc độ ngữ pháp, góc độ của
cụm từ chính phụ không còn là điều mới mẻ. Kết quả nghiên cứu dường như
mang tính ổn định. Dưới góc độ Ngữ dụng học, việc nghiên cứu BTMT mới chỉ
dừng lại ở tìm hiểu chức năng chiếu vật của chúng. Sự vật có thể được biểu hiện
theo lối định danh hoặc theo lối miêu tả (bằng tổ hợp từ miêu tả hay BTMT).
Biểu vật theo lối miêu tả chỉ ra các đặc điểm của sự vật rõ ràng phụ thuộc vào
chủ quan của người quan sát. Miêu tả không chỉ để miêu tả mà chức năng của nó
là hướng người nghe, người đọc tới một kết luận ngầm ẩn nào đó. Các công
trình nghiên cứu về ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp đều
1. Khi vấn đề ngôn ngữ trong hoạt động hành chức được đặt ra, cũng là lúc
vấn đề chiếu vật và phương thức chiếu vật được quan tâm nghiên cứu nhưng phải
đến Đỗ Hữu Châu trong “Đại cương ngôn ngữ học” (T2 - 1993), vấn đề BTMT
mới được đề cập, xem xét. GS Đỗ Hữu Châu đã trình bày quan điểm về BTMT
như một phương thức chiếu vật với những nét cơ bản nhất: về sự xuất hiện của
BTMT; vai trò của BTMT trong hoạt động chiếu vật; chức năng của BTMT; phân
loại BTMT. Trên cơ sở những nghiên cứu ban đầu đó, đã có những luận văn Thạc
sĩ khoa học đi sâu tìm hiểu về chiếu vật như “Sự chiếu vật và phương thức chiếu
vật” (Đỗ Xuân Quỳnh, 2003), về BTMT như “Ý nghĩa của từ chỉ lượng qua
BTMT trong ca dao và trong thơ Nguyễn Bính” (Khổng Thị Hạnh, 2007). Bằng
việc khảo sát qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại, tác giả Đỗ Xuân
Quỳnh đã nghiên cứu khá chi tiết về đặc điểm cấu tạo, từ loại và tính chất của các
yếu tố chiếu vật trong biểu thức chiếu vật, đặc điểm chuỗi yếu tố chiếu vật của
biểu thức chiếu vật. Tuy nhiên, những nhận xét, kết luận đó còn ở mức độ lí
thuyết khái quát. Những ví dụ trong những tác phẩm văn xuôi Việt Nam hiện đại
là những minh hoạ cho những kết luận lí thuyết. Tác giả chưa đặt vấn đề nghiên
cứu BTMT gắn liền với vấn đề phong cách, tìm hiểu đặc điểm của BTMT trong
một tác phẩm, tức đặt vấn đề BTMT trong một hoạt động giao tiếp cụ thể. Có thể
nói, đây là một con đường, một phương thức để nhận ra phong cách nhà văn từ
góc nhìn ngôn ngữ. Luận văn của Khổng Thị Hạnh (2007) nghiên cứu cụ thể hơn
3
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
về BTMT nhưng chỉ đi sâu vào thành phần phụ trước (TPPT), tìm hiểu ý nghĩa
của phụ từ chỉ lượng. Trong BTMT, thành phần phụ sau (TPPS) là thành phần kết
tinh ý nghĩa, vai trò, nảy sinh nhiều vấn đề nghiên cứu. Nó không chỉ quy chiếu
sự vật, giúp người nghe (đọc) tách sự vật ra khỏi những đối tượng cùng loại mà
còn miêu tả sự vật, qua đó thể hiện nội dung, tư tưởng của người viết. Đi sâu tìm
III. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng tới mục đích khảo sát chi tiết đặc
điểm cấu tạo, tìm ra ý nghĩa của những BTMT tiêu biểu - BTMT được sử dụng
với tần số cao và có giá trị biểu trưng lớn, làm cơ sở để nhận ra ý nghĩa của
thiên truyện và phần nào thấy được nét đặc trưng phong cách nhà văn Hồ Anh
Thái.
Đồng thời, đề tài còn nhằm mục đích thực tế là định hướng một cách tiếp
cận TPVC từ góc nhìn ngôn ngữ bên cạnh những hướng tiếp cận mà chúng ta đã
biết.
IV. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Trong khuôn khổ một khóa luận tốt nghiệp, chúng tôi chỉ khảo sát, nghiên
cứu trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” trong tập truyện cùng
tên của Hồ Anh Thái. Đối tượng nghiên cứu cụ thể là những BTMT tiêu biểu,
xuất hiện với tần số cao và có giá trị biểu trưng lớn: BTMT kim tước, BTMT
mũi, BTMT rượu.
V. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp hệ thống: khảo sát, phân loại ngữ liệu theo những tiêu chí nhất
định để rút ra nhận xét, đánh giá.
-
Phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp.
-
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Phong cách học - Từ vựng học - Ngữ
dụng học.
VI. Đóng góp của đề tài
Về phương diện lí thuyết: Kết quả nghiên cứu của khóa luận là gợi ý cho
Cơ sở ngữ nghĩa học
1.1.1. Chức năng tín hiệu học của từ
Với tư cách là đơn vị của hệ thống ngôn ngữ, từ được chuyên môn hóa về
mặt chức năng. Nghĩa là, trong ngôn ngữ, có những từ thực hiện chức năng này,
lại có những từ thực hiện chức năng kia. Trong [21, T93 - 94] GS Đỗ Hữu Châu
chỉ ra các chức năng tín hiệu học của từ: Chức năng biểu vật, chức năng biểu
niệm, chức năng bộc lộ, chức năng hiệu lệnh, chức năng đưa đẩy, chức năng ngữ
pháp, chức năng thay thế và chức năng định phong cách.
Gắn với đề tài khóa luận, chúng tôi quan tâm đến chức năng biểu vật của
từ. Trong ngôn ngữ, sự vật có thể được biểu thị theo lối định danh hay được dẫn
xuất theo lối miêu tả. Theo [21, T98], nếu biểu vật theo lối định danh là “biểu
vật theo cách tổng hợp”, “tìm cách gán ghép cho sự vật, hiện tượng một hình
thức âm thanh” thì biểu vật theo lối miêu tả là “biểu vật theo cách phân tích”. Ở
đây, nhận thức về sự vật, hiện tượng như một tổng thể đi sau nhận thức về đặc
điểm, nội dung, công năng, tính chất… của chính sự vật hiện tượng ấy. Ví dụ:
“mụ chủ lầu xanh kiếm tiền trên thân xác phụ nữ ấy…”. Từ những đặc điểm của
đối tượng: “chủ lầu xanh, kiếm tiền trên thân xác phụ nữ”, ta có thể nhận ra và
gọi tên đối tượng là “Tú Bà”. Lối biểu vật này đi ngược lại lối định danh:
chuyển từ giai đoạn lí tính, trừu tượng, khái quát sang giai đoạn cảm tính, cụ thể
với các biểu hiện của sự vật, hiện tượng. Nếu biểu vật theo lối định danh được
thực hiện bằng những tên gọi thì biểu vật theo lối miêu tả được thực hiện bằng
những tổ hợp từ miêu tả (BTMT). Lối miêu tả này làm rõ một hoặc một số đặc
7
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
điểm của đối tượng được nói đến. Thông qua sự miêu tả cụ thể ấy, người nghe
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
một ngữ cảnh cụ thể. Do đó, BTMT chỉ ra một sự vật, hiện tượng, trạng thái…
cụ thể trong thực tế khách quan, giống như từ trong hoạt động lời nói. Sự khác
nhau ở chỗ, nếu từ chỉ ra sự vật bằng cách gọi tên thì BTMT quy chiếu sự vật
bằng cách miêu tả những đặc điểm, dấu hiệu nhận biết của chính sự vật, hiện
tượng ấy. Việc chọn lựa những đặc điểm làm dấu hiệu để phân tách sự vật ra
khỏi những sự vật cùng loại, sự lựa chọn từ ngữ để miêu tả những đặc điểm đó
phụ thuộc vào quan hệ giữa người nói (viết) với người nghe (đọc), vào sự hiểu
biết của người nói (viết) và người nghe (đọc) về sự vật, hiện tượng đó. Sự lựa
chọn này cũng đồng thời phụ thuộc vào thái độ, quan điểm của người nói (viết)
về đối tượng và ý đồ ngầm ẩn nào đó mà người nói (viết) muốn thể hiện thông
qua hành động quy chiếu. Như vậy, BTMT không chỉ mang nghĩa biểu vật, có
chức năng quy chiếu sự vật mà cách chiếu vật của BTMT đem lại nhiều ý nghĩa
về phía chủ quan người nói (viết) như quan điểm, tư tưởng, thái độ…Đây cũng
là đối tượng tìm hiểu của khóa luận này.
Đỗ Hữu Châu trong [21, T119 - 121] có nhận xét rằng: Ý nghĩa biểu niệm
và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ gắn bó nên “muốn hiểu sâu sắc giá trị ngữ pháp
của một từ, không thể không biết đến ý nghĩa biểu niệm của chúng. Ngược lại,
để xác định các ý nghĩa biểu niệm thực có của từ, không thể không chú ý đến
các giá trị ngữ pháp, đến hoạt động ngữ pháp của nó trong câu, trong cụm từ”.
Nhận xét này có giá trị đối với khoá luận ở chỗ, khi xem xét cấu tạo của một
cụm từ - một BTMT, việc xác định được vị trí, chức năng ngữ pháp của các từ là
thành tố phụ, thành tố trung tâm sẽ có tác dụng làm sáng tỏ mối quan hệ ý nghĩa
của các thành tố đó, từ đó xác định được ý nghĩa của cụm từ và của BTMT.
1.1.3. Nghĩa của từ trong hoạt động hành chức
Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ không hoàn toàn trùng với nghĩa của
từ trong hoạt động hành chức mà có những chuyển biến nhất định. Sau một thời
gian sử dụng, các nghĩa biểu vật mới xuất hiện, đồng thời, nghĩa biểu niệm của
yêu thương, gắn bó của lão Hạc đối với con chó Vàng – kỉ niệm của người con
trai lão. Vì thế, cụm từ “cậu Vàng” không chỉ quy chiếu đến một con vật cụ thể
- con chó Vàng mà còn thể hiện thái độ, tình cảm của lão Hạc (người nói) với
con chó Vàng (đối tượng được nói tới).
Chúng ta biết rằng, từ có chức năng định danh. Nhưng khi đi vào hoạt động
hành chức, diễn ra hiện tượng “định danh lại”. GS Đỗ Hữu Châu trong [21,
10
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
T100] chỉ ra rằng: trong lời nói, sự vật cần được nêu ra trong tính cụ thể, có thể
cảm giác được của chúng. Vì vậy, khi tên gọi không đáp ứng được yêu cầu biểu
hiện sự vật, hiện tượng trong tính cụ thể sinh động nữa thì ngôn ngữ phải tìm
cách thay thế tên gọi cũ bằng một tên mới hay bằng một tổ hợp miêu tả. VD:
“Máy bay” cũng có thể là “máy bay”, cũng có thể là “quạ”, “diều hâu”, “con
nhặng xanh”, “những con thiêu thân”, “lũ hung thần quái đản”. Sự định danh
lại, nhất là định danh bằng tổ hợp miêu tả, do có những miêu tả tố chỉ ra đặc
điểm cụ thể của đối tượng theo chủ quan đánh giá của người nói (viết) và theo
một hoàn cảnh giao tiếp nhất định nên không chỉ đơn thuần định danh sự vật,
quy chiếu sự vật mà còn thể hiện tư tưởng, thái độ của người nói (viết). Tìm
hiểu những hiện tượng định danh lại trong mối quan hệ với từ gốc định danh,
với ngữ cảnh giúp hiểu rõ hơn ý nghĩa của BTMT trong một tác phẩm – một
hoạt động giao tiếp cụ thể.
1.2.
Cơ sở ngữ dụng học
1. 2.1.Chiếu vật và phương thức chiếu vật
Về khái niệm chiếu vật, GS Đỗ Hữu Châu trong [23, T61] chỉ ra
tên chung (DT chung) thì có thể vừa gọi tên loại, vừa gọi tên cá thể trong loại.
Trừ trường hợp chiếu vật loại, việc dùng tên chung một mình để chiếu vật cá thể
lệ thuộc quá nhiều vào ngữ cảnh, vào hành vi ngôn ngữ tạo ra phát ngôn chứa
tên chung chiếu vật cá thể. Để giúp người nghe (đọc) dễ dàng suy ra nghĩa chiếu
vật cá thể của một biểu thức chiếu vật không phải là tên riêng nào đó, người nói
(viết) thường dùng biện pháp miêu tả để tạo ra các BTMT chiếu vật. Như vậy,
miêu tả chiếu vật là ghép các yếu tố phụ vào một tên chung, nhờ các yếu tố phụ
mà tách được sự vật – nghĩa chiếu vật ra khỏi các sự vật khác cùng loại với
chúng. BTMT tương đương với một tên riêng vì BTMT đã thu hẹp phạm vi
chiếu vật của tên chung đến cực tiểu. Nghĩa chiếu vật của một BTMT chỉ còn là
một cá thể như nghĩa chiếu vật của một tên riêng.
BTMT phác hoạ lại hình ảnh, chân dung, bộ mặt sự vật, do đó khơi mở trí
tưởng tượng bay bổng, phát triển tri giác cảm tính nhạy bén trong con người. Sử
dụng lối tư duy hình tượng, không đòi hỏi cao về tính chính xác, tính khái quát,
tính lôgic nên BTMT được sử dụng rộng rãi với những đối tượng và phạm vi
giao tiếp phong phú. BTMT có ý nghĩa lớn trong TPVC. BTMT thường được
12
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
dùng để biểu hiện những hình tượng trong văn chương, vì ngôn ngữ văn chương
có tính thẩm mỹ cao, kết tinh cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ đời thường. Sự miêu
tả thường giàu hình ảnh, tinh tế trong màu sắc, đường nét, có sức khêu gợi tưởng
tượng. Đồng thời, sử dụng BTMT còn đem đến cho ngôn từ sự uyển chuyển,
nhịp nhàng trong thanh điệu, ngữ âm.
Vì BTMT có những ý nghĩa như vậy nên trong nhiều trường hợp, biểu vật
theo lối định danh được chuyển sang biểu vật theo lối miêu tả, sử dụng BTMT
để cụ thể hoá đối tượng được nói tới, thay cho việc dùng DT chung.
1.2.2.2.Đặc điểm cấu tạo của biểu thức miêu tả
BTMT chưa được SP1, SP2 biết thì biểu thức tương ứng là một biểu thức không
xác định. Vì lẽ đó, chúng ta thường chỉ dùng BTMT không xác định khi đưa sự
vật, hiện tượng lần đầu tiên vào diễn ngôn. Sau đó, ở các phát ngôn kế tiếp, sự
vật đó sẽ được biểu thị bằng các biểu thức xác định.
Theo tiêu chí chức năng, BTMT được chia ra BTMT có chức năng chiếu
vật và BTMT có chức năng thuộc ngữ. BTMT có chức năng chiếu vật là BTMT
quy chiếu đến một sự vật, hiện tượng cụ thể trong thực tại khách quan. Đó có
thể là chiếu vật cá thể, chiếu vật một số hoặc chiếu vật loại. Có những BTMT có
chức năng thuộc ngữ, không có chức năng chiếu vật. Không phải BTMT nào
trong diễn ngôn cũng có chức năng chiếu vật. Rất nhiều trường hợp BTMT được
dùng để miêu tả, giúp cho người nghe, người đọc hiểu biết đầy đủ hơn về sự vật
nghĩa chiếu vật. Không chỉ dừng lại ở miêu tả sự vật mà trong một số trường
hợp (nhất là trong TPVC), BTMT có những yếu tố miêu tả tu từ học, là những
định ngữ tu từ, thể hiện những dụng ý tu từ của nhà văn. VD: “Tiếp vào ngày
ấy, Nguyễn Tuân đi tầu điện, đưa tem Thống chế Pêtain ra mua vé, không một
người sơ vơ nào nhận…” (Nguyễn Tuân)
“Tem Thống chế Pêtain” là một BTMT có chức năng miêu tả thuộc ngữ.
Nếu để chiếu vật, chỉ cần viết “đưa tiền ra mua vé” (thời 1945 hành khách đi tầu
điện ở Hà Nội có thể dùng tem bưu điện để mua vé vì giá trị của một con tem
bằng giá trị một lượt đi tầu) là đủ. “Thống chế Petain” là biểu thức tên riêng
gồm từ chỉ chức vụ“Thống chế” và một tên riêng “Petain”. “Petain”, từ 1940
đến 1945 là người đứng đầu chính phủ Pháp tay sai cho Hitler. Đưa yếu tố miêu
tả này vào BTMT, dụng ý mỉa mai thực dân Pháp đã bị Nhật hất cẳng ở Đông
Dương của Nguyễn Tuân rất rõ. Đây là những yếu tố miêu tả tu từ.
14
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
Như vậy, chương I đã trình bày những cơ sở lí thuyết về ngữ nghĩa học,
tổng hợp. Tuy BTMT có DT trung tâm là một DT đơn vị nhưng đặt trong ngữ
cảnh, chúng ta vẫn hiểu được BTMT này quy chiếu đến một chùm hoa kim tước.
DT trung tâm của BTMT kim tước bao gồm DT chỉ tập hợp của kim tước
như “vườn, rừng” (13%), DT chỉ tổng thể cây kim tước như “cây” (21,7%), DT
chỉ bộ phận của cây kim tước như “hoa, quả, hạt, cành, lá, gốc” (61%) và DT
chỉ thời gian (4,3 %). Trong số các DT chỉ bộ phận của cây kim tước, phần lớn
là những DT chỉ bộ phận khả li (có thể tách rời khỏi cây mà không tác động
quyết định đến sự tồn tại của cây) như “hoa, quả, hạt, lá, cành” (60,9% DT chỉ
16
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
bộ phận cây). DT chỉ bộ phận bất khả li (không thể tách rời khỏi cây vì tác động
quyết định đến sự tồn tại của cây) ít hơn như “gốc cây” (39,1%). Trong những
DT chỉ bộ phận khả li, DT chỉ hoa và biến thể của hoa (chùm, ánh) chiếm tỉ lệ
lớn nhất (50%). Điều đó chứng tỏ hình ảnh hoa kim tước có ý nghĩa rất lớn
trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm.
Trung tâm của BTMT kim tước là DT chung, đều có chức năng chiếu vật –
chỉ ra sự vật nghĩa chiếu vật. Những BTMT này, bao gồm cả chiếu vật loại và
chiếu vật cá thể. BTMT chiếu vật loại chiếm phần lớn (73,9%) so với BTMT
chiếu vật cá thể (26,1%). Để xác định BTMT đó là chiếu vật loại hay chiếu vật cá
thể, ta có thể dựa vào TPPT của BTMT. BTMT có TPPT là từ chỉ lượng “một”
thường là BTMT chiếu vật loại. VD: “Cả một vườn kim tước bừng sáng xoã ra
như mái tóc vàng của người đẹp ngủ trong rừng”[2, T24]. BTMT này không chỉ
một cây kim tước, một vườn kim tước cụ thể mà chỉ khái quát ý nghĩa “loại” của
vườn kim tước. Nhưng, có khi, BTMT có TPPT là từ chỉ lượng “một” nhưng
không thể là BTMT chiếu vật loại. Khi đó, ta phải dựa vào yếu tố ngữ cảnh, dựa
vào lời dẫn, lời kể của tác giả. Đây là cơ sở nhận diện rõ nhất chức năng chiếu vật
loại hay chiếu vật cá thể của DT trung tâm, của BTMT chứa DT trung tâm đó.
từ chỉ xuất. Trong đó, DT chỉ sự vật chiếm phần lớn (75%) so với DT đơn vị
(8,4%) và từ “cái” chỉ xuất (16,6%). Ở BTMT mũi, các DT trung tâm đều có
chức năng chiếu vật cá thể. Đặt trong những ngữ cảnh cụ thể, BTMT mũi hướng
sự quy chiếu tới mũi Nilam hoặc mũi Ravi hoặc mũi của cả hai người. Do đó,
“mũi” không có chiếu vật loại. VD: “Nhưng Ravi chỉ để cho (1) chóp mũi chạm
vào (2) chóp mũi Nilam, rồi (3) hai cái chóp mũi Ấn Độ, (4) hai tác phẩm tuyệt
vời của tạo hóa cứ thế mà trườn lên nhau…[2, T24].
BTMT (1) quy chiếu đến chóp mũi Ravi chiếu vật cá thể.
BTMT (2) quy chiếu đến chóp mũi Nilam chiếu vật cá thể.
BTMT (3) quy chiếu đến chóp mũi Nilam và Ravi chiếu vật cá thể.
BTMT (4) quy chiếu đến chóp mũi Nilam và Ravi chiếu vật cá thể.
BTMT mũi chiếu vật cá thể bởi “mũi” là bộ phận của nhân vật cụ thể trong
tác phẩm, khác với kim tước - có khi quy chiếu một cây kim tước hay một bộ
phận cụ thể của cây kim tước gắn với một hành động cụ thể của một nhân vật,
có khi quy chiếu một cây kim tước bất kì hay toàn bộ rừng kim tước.
18
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
2.1.3. Yếu tố trung tâm của BTMT rượu
Trong tác phẩm có 22 BTMT rượu và hầu hết xuất hiện ở cuối tác phẩm,
gắn với phần đời cay đắng, xót xa của Nilam. DT trung tâm của BTMT rượu
hầu hết là từ đơn (95,5%). Phần lớn các DT trung tâm là DT chung chỉ vật chứa
đựng (rượu) như “chai, chén” (86,4%) trong đó “chai” chiếm phần lớn (57,9%)
so với “chén” (42,1%). Hình ảnh chai rượu xuất hiện gắn liền với nhân vật
Nilam, với hành động “chôn” những bé gái sơ sinh của cô. BTMT có DT
trung tâm là “chai” xuất hiện nhiều lần mang lại không khí ám ảnh cho tác
phẩm. 9 % BTMT rượu có DT trung tâm chỉ nơi bán rượu và 4,6 % BTMT rượu
BTMT mũi; chỉ vật chứa đựng (rượu), nơi bán (rượu) và người uống (rượu) đối
với BTMT rượu.
2.2.Thành phần phụ trước của BTMT kim tước, BTMT mũi, BTMT rượu
Đối với BTMT, tìm hiểu đặc điểm số lượng, cấu tạo, từ loại của TPPT góp
phần vào việc tìm hiểu ý nghĩa của BTMT, đặc biệt là BTMT trong một TPVC.
Bởi cách lựa chọn, sử dụng TPPT như thế nào thể hiện chủ quan của người viết.
2.2.1.Thành phần phụ trước của BTMT kim tước
Hầu hết BTMT kim tước có TPPT (69,6 %), 30,4 % BTMT kim tước
không có TPPT. Trong số những BTMT kim tước có TPPT thì 87,5 % BTMT
có một TPPT và 13 % BTMT có hai TPPT, không có BTMT có 3 TPPT. Trong
số những BTMT kim tước có một TPPT, chỉ có 12,5 % BTMT có TPPT là từ
chỉ tổng lượng, 12,5 % BTMT có TPPT là DT đơn vị và tới 75 % BTMT có
TPPT là từ chỉ lượng. Trong đó, 50 % là từ chỉ lượng không xác định (những,
các, từng) và 50 % là từ chỉ lượng xác định (một). Từ chỉ lượng xác định của các
BTMT này là số từ “Một”. Nếu xét tần số xuất hiện của từ chỉ lượng xác định
“Một” trong số các BTMT kim tước thì số từ “Một” xuất hiện 7/23 BTMT kim
tước (30,4 %). Đây là một tỉ lệ lớn, chứng tỏ số từ “Một” có vai trò lớn trong
việc thể hiện ý nghĩa của BTMT. Về ý nghĩa cụ thể của số từ “Một” trong
BTMT kim tước chúng tôi sẽ trình bày kĩ ở chương 3.
Trong số 3 BTMT kim tước có 2 TPPT thì 2 BTMT (66,7 %) có TPPT có
cấu tạo là: từ chỉ lượng – từ chỉ đơn vị.
VD: “Những/ chùm// hoa kim tước rủ xuống…” [2, T 24]
TPPT1 – TPPT2
20
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
Có thể nói, TPPT của BTMT kim tước không quá phức tạp. Đáng chú ý là
TPPT của những BTMT này 100% là từ chỉ lượng xác định, không có BTMT
21
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
rượu nào có TPPT là từ chỉ tổng lượng hay từ chỉ xuất. Những từ chỉ lượng xác
định đó là những từ chỉ số ít (Một, Hai, Nửa), trong đó, số từ “Một” chiếm phần
lớn (66,7%), số từ “Hai” chiếm 11,1% và số từ “Nửa” chiếm 22,2%. Rõ ràng, so
với BTMT kim tước và BTMT mũi thì BTMT rượu có TPPT cấu tạo đơn giản
nhất. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều BTMT có TPPT là từ chỉ lượng xác định
chỉ số ít là một hiện tượng đáng chú ý. Nếu ở BTMT kim tước, 50 % BTMT có
TPPT là từ chỉ lượng là từ chỉ lượng xác định, ở BTMT mũi là 33,3% BTMT có
TPPT có từ chỉ lượng xác định thì tỉ lệ này ở BTMT rượu là 40,9%. Điều đó
chứng tỏ, ở BTMT rượu, từ chỉ lượng xác định (cụ thể: từ chỉ lượng xác định
chỉ số ít) góp phần quan trọng tạo nên ý nghĩa của BTMT rượu. Về ý nghĩa cụ
thể của những TPPT có từ chỉ lượng xác định này, chúng tôi sẽ trình bày kĩ ở
chương sau.
Như vậy, nếu như phần lớn BTMT kim tước có 1 TPPT thì hầu hết các BTMT
mũi và đa phần BTMT rượu không có TPPT. Ở cả BTMT kim tước, mũi, rượu đều
không có những BTMT có 3 TPPT. Một điểm đáng chú ý ở cả 3 BTMT này là hiện
tượng sử dụng nhiều lần từ chỉ lượng xác định (nhất là số từ “Một”).
2.3. Thành phần phụ sau của BTMT kim tước, BTMT mũi, BTMT rượu
TPPS của BTMT là TPPS của cụm DT. So với TPPT, TPPS thường đa dạng
hơn về cấu trúc, phong phú hơn về ý nghĩa, linh hoạt hơn về thứ tự sắp xếp và lớn
hơn về độ dài kích thước. TPPS cụm DT được phân bố vào hai vị trí: vị trí của
các thực từ hay các kiến trúc chứa thực từ nêu đặc trưng miêu tả (vị trí 1) và vị trí
của các từ chỉ định “này, kia, ấy, nọ” (vị trí 2). Trật tự sắp xếp các thành tố phụ
sau ở vị trí 1 lại vô cùng phức tạp, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào
đi sâu nghiên cứu. Đỗ Xuân Quỳnh trong [50] khảo sát chi tiết về các yếu tố chiếu
Trong BTMT kim tước, BTMT mũi và BTMT rượu, phần lớn các miêu tả
tố có cấu tạo là từ đơn (69,8 %). Trong đó, miêu tả tố là từ đơn đơn âm chiếm
phần lớn hơn (68,2 %) so với miêu tả tố là từ đơn đa âm (31,8 %). Từ đơn đơn
âm làm miêu tả tố trong BTMT kim tước, BTMT mũi, BTMT rượu thường là
DT, ĐT, TT, Đ.T chỉ xuất, trong đó DT có tỉ lệ lớn hơn cả (40,9 %). Từ đơn đơn
âm có ở cả ba BTMT (kim tước, mũi, rượu). VD: “Chị ta đưa cho Nilam một
chén rượu, kèm theo cái nhìn đầy cảm thông.”[2, T32].
Từ đơn đa âm tiết làm miêu tả tố trong BTMT kim tước, BTMT mũi,
BTMT rượu là các từ chỉ tên người, tên nước của tiếng nước ngoài (Ấn Độ) và
từ chỉ tên hoa “kim tước” – một loài hoa ở Ấn Độ. Từ đơn đa âm làm miêu tả tố
23
Ý nghĩa của biểu thức miêu tả trong truyện ngắn “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” của Hồ Anh Thái
không xuất hiện ở BTMT rượu. VD: “Nhưng Ravi chỉ để cho chóp mũi chạm
vào chóp mũi Nilam.”[2, T24].
Các từ đơn thực hiện chức năng miêu tả tố này thường kết hợp với các DT
trung tâm chỉ bộ phận của sự vật (như “lá, hoa, cành, gốc cây” trong BTMT
kim tước; “chóp mũi, đường” trong BTMT mũi; hoặc DT chỉ vật chứa đựng
như “chén”, “chai” trong BTMT rượu) có tác dụng cá thể hóa sự vật hoặc bộ
phận của sự vật được nói tới, tách ra khỏi những sự vật cùng loại hay các bộ
phận khác của sự vật ấy.
b. Từ phức
Trong BTMT kim tước, BTMT mũi và BTMT rượu, miêu tả tố là từ phức
xuất hiện ít hơn từ đơn (từ đơn 69,8 %, từ phức 30,2 %). Trong số đó, từ ghép
chiếm phần lớn (84,2 %), từ láy chỉ có 15,8 %. Ở 3 BTMT (kim tước, mũi,
rượu) này, từ ghép phân nghĩa và từ ghép hợp nghĩa có tỉ lệ 50 %, không có từ
2.3.1.2.Miêu tả tố được cấu tạo bởi cụm từ
Trong BTMT kim tước, BTMT mũi, BTMT rượu, các miêu tả tố có cấu tạo
là cụm từ xuất hiện với tần số thấp hơn so với từ, chỉ bằng 1/3 tần số xuất hiện
của miêu tả tố là từ. Trong đó, không có miêu tả tố là cụm từ đẳng lập, 5,5 %
miêu tả tố là cụm từ chủ - vị, 5,5 % miêu tả tố là ngữ cố định và tới 89 % miêu
tả tố là cụm từ chính phụ. Điều này có thể lí giải bằng đặc điểm chức năng của
từng loại cụm từ. Cụm từ chính phụ thường không trình bày hoàn chỉnh, toàn
vẹn về đặc điểm sự vật, hiện tượng mà chỉ ra một đặc điểm nào đó của sự vật,
miêu tả đặc điểm nhằm gợi mở suy nghĩ cho người nghe (đọc) về sự vật, hiện
tượng đó. Còn cụm từ chủ - vị thường trình bày một ý tương đối hoàn chỉnh. Do
đó, cụm từ chính phụ được Hồ Anh Thái lựa chọn chủ yếu để miêu tả kim
tước, mũi, rượu. Cụm từ đẳng lập không được sử dụng bởi đặc trưng của cụm
từ đẳng lập là các thành tố có quan hệ ngang bằng, bình đẳng với nhau, sẽ khó
khăn trong miêu tả đặc điểm, tính chất, mức độ, cảm xúc, tâm trạng của sự vật
và đối với sự vật, khó thấy được mối quan hệ gắn kết móc xích giữa các đặc
điểm cần được chỉ ra trong miêu tả tố.
Về đặc điểm của ngữ cố định, cụm từ chính phụ, cụm từ C - V làm miêu tả tố
trong BTMT kim tước, mũi, rượu, chúng tôi có thể rút ra những nhận xét như sau:
a. Cụm từ chính phụ
25