NGHIÊN cứu xây DỰNG bản đồ NGUY cơ TRƯỢT lở KHU vực xã bản díu, HUYỆN xín mần, TỈNH hà GIANG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG kê đa BIẾN - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------

Bùi Bảo Trung

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ TRƢỢT LỞ
KHU VỰC XÃ BẢN DÍU, HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG
BẰNG PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG KÊ ĐA BIẾN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------

Bùi Bảo Trung

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BẢN ĐỒ NGUY CƠ TRƢỢT LỞ
KHU VỰC XÃ BẢN DÍU, HUYỆN XÍN MẦN, TỈNH HÀ GIANG
BẰNG PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH THỐNG KÊ ĐA BIẾN
Chuyên ngành:

Địa chất học

Mã số:

60440201

năm 2014

Học viên

Bùi Bảo Trung


LỜI MỞ ĐẦU
Trượt lở đất là một loại tai biến địa chất diễn ra với các quy mô khác nhau,
phát sinh trên địa hình cao, phân cắt mạnh và có liên quan chặt chẽ đến các yếu tố
về tự nhiên như địa chất, địa hình, địa mạo và lượng mưa của khu vực. Bên cạnh đó,
các hoạt động nhân sinh như cắt sườn dốc làm đường, xây dựng công trình trên thân
khối trượt, chặt phá rừng … cũng là những yếu tố làm tăng rủi ro do trượt lở đất gây
ra.
Xã Bản Díu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang là một xã biên giới Việt Nam và
Trung Quốc, đây là khu vực hàng năm vào mùa mưa thường xảy ra trượt lở đất gây
thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản của nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến sự
phát triển kinh tế-xã hội của xã. Mặc dù, chính quyền địa phương đã tiến hành xử lý
các sự cố tạm thời như gia công và xây dựng các kè đập, đào hố thoát nước ngầm
nhằm hạn chế tác hại của trượt lở, song các biện pháp này thường chỉ áp dụng ở
những nơi đã xảy ra trượt lở nên chưa có hiệu quả cao trong việc phòng tránh và
giảm nhẹ tai biến.
Để xây dựng cơ sở khoa học cho việc đánh giá về tổn thương, thiệt hại và rủi
ro do trượt lở đất gây ra, hướng tới quy hoạch phát triển bền vững vùng biên giới
này đòi hỏi phải có những tính toán, dự báo tin cậy về khả năng phát triển tai biến.
Do đó, việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu xây dựng bản đồ nguy cơ trượt lở
khu vực xã Bản Díu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang là rất cần thiết. Việc nghiên
cứu này còn làm sáng tỏ được mối quan hệ, trọng số của các yếu tố tác nhân gây
trượt lở đất trong khu vực, làm cơ sở cho việc hoạch định quy hoạch không gian
nhằm giảm thiểu tai biến tại đây.

Trong thực tế, trượt xảy ra khá phổ biến, đặc biệt là ở vùng núi. Trượt xảy ra
có thể gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh tế, công trình và cả sinh mạng con
người nên có thể được xem là một trong những tai biến địa chất nghiêm trọng.
Theo Patrick L.Abbott (2005), trượt lở đất là một hiện tượng tai biến thiên
nhiên, dưới tác dụng của quá trình địa chất động lực, công trình, gây mất ổn định
mái dốc, sườn dốc hay vách dốc (gọi chung là mái dốc) tạo ra sự dịch chuyển vật


chất, phá hủy mọi thứ liên quan trên đường đi của chúng. Trượt lở xảy ra khi khối
đất bị mất cân bằng, các lực gây ra trượt vượt quá các lực giữ trượt.
Các quá trình trượt đất là sản phẩm của các sự thay đổi của các điều kiện
hình thái địa mạo, thủy văn và địa chất. Sự thay đổi những điều kiện được thực hiện
bởi các quá trình địa động lực, phát triển của thực vật, các hoạt động nhân sinh,
cũng như tần suất, cường độ lắng đọng trầm tích và chấn động.
Theo Varnes (1984), thuật ngữ “trượt lở” bao gồm tất cả các hiện tượng di
chuyển của khối trượt trên bề mặt dốc. Các hiện tượng này bao gồm cả các hiện
tượng không thực sự trượt như đá đổ, đá rơi và dòng bùn đá.


1.1.2. Phân loại
Có nhiều hệ thống phân loại trượt lở trong đó có hai hệ thống được sử dụng

rộng rãi, đặc biệt ở các nước phương Tây là hệ thống đưa ra bởi Skempton và
Hutchinson (1969) và Varnes (1984). Cả hai hệ thống đều phân loại theo kiểu dịch
chuyển nhưng khác nhau ở trạng thái của dòng dịch chuyển. Sự dịch chuyển mái
dốc nhìn chung bắt đầu từ sự phá hủy của lực cắt, tạo ra các bề mặt trượt là ranh
giới của đới phá hủy. Việc lựa chọn hệ thống phân loại phụ thuộc vào mục đích
nghiên cứu là phân tích điều kiện phá hủy khối trượt hay luận giải kết quả dịch
chuyển của khối trượt.
Trong luận văn này, hệ thống phân loại theo Varnes (1984) (bảng 1.1) được


Đất rơi

Xoay

Sụp

Mảnh vụn sụp

Đất sụp

Tịnh tiến

Dịch chuyển

Dịch chuyển khối

Dịch chuyển khối đất

Trượt


khối

mảnh vụn

Chảy ngang

Dịch chuyển
ngang


- Kiểu dịch chuyển dạng rơi (dạng lật):
Kiểu dịch chuyển dạng rơi/lật (hình 1.3) là hiện tượng khi một phần mái dốc
(đất, đá) bị lật quay, rơi ra khỏi mái dốc với trọng tâm quay quanh một điểm hay
một trục giả định. Quá trình rơi/lật có thể bị tác động bởi trọng lực vào phần khối lở
ở những vật liệu hình hành các khe nứt tạo góc dốc ngược hoặc dưới tác động của
nước, băng tồn tại trong khối đất đá.

Hình 1.3. Dịch chuyển dạng lật

- Trượt xoay:
Trượt xoay là hiện tượng các khối đất, đá được dịch chuyển theo bề mặt phá
hủy dạng mặt cong lõm giả định (hình 1.4). Nếu bề mặt phá hủy (theo mặt cắt
ngang) có dạng cung trượt hình trụ hay cycloit thì trong quá trình trượt, biến dạng
bên trong khối trượt ít, thành phần đất đá cơ bản không bị xáo động. Khi trượt xảy
ra, phần đầu khối trượt dịch chuyển chủ yếu theo chiều thẳng đứng, phần bề mặt
mái dốc phía trên khối trượt có khuynh hướng tạo ra độ nghiêng dốc ngược với mái
dốc.


Hình 1.4. Trƣợt xoay

- Trượt tịnh tiến:
Trượt tịnh tiến là hiện tượng khối trượt dịch chuyển xuống qua bề mặt dạng
mặt phẳng hoặc hơi gồ ghề (hình 1.5). Trượt tịnh tiến nhìn chung là nông hơn trượt
xoay. Các bề mặt phá hủy thường dạng hình lòng máng rộng theo mặt cắt ngang.
Ngược lại, mặt trượt xoay có khuynh hướng khôi phục lại khối trượt về trạng thái
cân bằng.

Hình 1.5. Trƣợt tịnh tiến

trong khối dịch chuyển dần giống với dạng dòng chất lỏng sệt (hình 1.7). Sự biến
đổi dần dần từ trượt tới chảy xảy ra phụ thuộc vào lượng nước trong đất, tính lưu
động và phạm vi phát triển của khối trượt. Trượt lở mảnh vụn có thể trở thành dòng
mảnh vụn có tốc độ cực nhanh trong các điều kiện nhất định.


Hình 1.7. Dịch chuyển tạo dòng

Dòng lở mảnh vụn (debris) là một dạng di chuyển dòng nhưng với quy mô
lớn hơn, dồn dập hơn, tốc độ di chuyển nhanh hơn các dòng mảnh vụn mái dốc mở
ở trên.
Một dạng nữa của kiểu di chuyển này gọi là dòng đá gốc (bedrock flow), đặc
trưng cho sự biến dạng liên tục theo không gian bề mặt trái đất như lở sâu, chúng
dịch chuyển rất chậm dọc theo các bề mặt ứng suất cắt không kết nối với nhau do
quá trình tạo nếp uốn tạo ra. Rõ ràng rằng, sự dịch chuyển dòng còn có thể bắt đầu
từ các quá trình trượt trên đá gốc hoặc khối đá phiến nên những loại này có thể phân
loại là một dạng trượt hỗn hợp.


TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Anh
1. Ali Mohammadi Torkashvand, Akram Irani, Jaliledin Sorur, 2014. The
preparation of landslide map by Landslide Numerical Risk Factor (LNRF) model
and Geographic Information System (GIS). The Egyptian Journal of Remote
Sensing and Space Sciences, Sciencedirect;
2. Benni Thiebes, 2011. Landslide analysis and early warning systems. Department
of Geography and Regional Research, University of Vienna, pp 179-185;
3. Bonham-Carter, 1994. Geographic Information System for Geoscientists:
Modelling with GIS: Pergamon Press. Oxford, 398p;
4. Carrara, A., & Pike, R. J. (2008). GIS technology and models for assessing

16. Yiping Wu, LixiaChen, Cong Cheng, Kunlong Yin, Á.Török. GIS-based
landslide hazard perdicting system and its real-time test during a typhoon, Zhejiang
Province, Southeast China. Engineering Geology, pp175;
Tiếng Việt
1. Trần Thanh Hà, 2013. Quan hệ giữa đặc điểm địa mạo và trượt lở đất tại tỉnh
Lào Cai. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN. Các khoa học Trái đất và Môi trường, Tập
29, Số 3 (2013) 35-44;
2. Trần Trọng Huệ, 2004. Nghiên cứu đánh giá tổng hợp các loại hình tai biến địa
chất trên lãnh thổ Việt Nam và các giải pháp phòng tránh. Đề tài Độc lập cấp Nhà
nước, Viện Địa chất;
3. Trần Trọng Huệ, 2009. Nghiên cứu đánh giá và dự báo chi tiết hiện tượng trượt
lở và xây dựng các giải pháp phòng chống cho thị trấn Cốc Pài, huyện Xín Mần,
tỉnh Hà Giang. KC.08.33/06/10;
4. Phạm Văn Hùng, 2011. Đánh giá hiện trạng và phân vùng cảnh báo nguy cơ
trượt lở đất tỉnh Quảng Nam. Tạp chí các Khoa học về Trái đất, 3ĐB, số 33, tr 2-5;
5. Trần Mạnh Liểu, 2007. Phương pháp phân vùng dự báo khả năng phát triển tai
biến địa chất theo chỉ tiêu tích hợp các yếu tố phát triển tai biến. Tạp chí xây dựng
số 9/2007;


6. Trần Mạnh Liểu, 2008. Một vài phương pháp đánh giá định tính và định lượng
vai trò của các yếu tố hình thành và phát triển tai biến địa chất.Tuyển tập báo cáo
Hội nghị Khoa học công nghệ trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội;
7. Trần Mạnh Liểu, 2007. Đặc điểm thông tin địa chất và khả năng sử dụng các mô
hình xác suất trong nghiên cứu địa chất. Tạp chí khoa học công nghệ xây dựng, số
2/2007;
8. Trần Mạnh Liểu, Nguyễn Quang Huy,Nguyễn Thị Khang, Hoàng Đình Thiện,
Bùi Bảo Trung, (2013). Dự báo nguy cơ và cường độ phát triển tai biến trượt lở khu
vực thị xã Bắc Kạn. Tạp chí Khoa học Công nghệ Xây dựng số 3+4/2013;
9. Nguyễn Thành Long, 2009. Xây dựng phương pháp đánh giá độ rủi ro tai biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status