LỜI CẢM ƠN
Thực tập thực tế có vai trò rất quan trọng trong quá trình đào tạo các chuyên
ngành của nhà trường nói chung, ngành quản trị nhân lực nói riêng. Với mục đích
gắn liền nhà trường với xã hội, lý luận thực tiễn, hằng năm Khoa và nhà trường đều
tổ chức cho sinh viên năm cuối đi thực tập.
Sau 4 năm học tập chuyên ngành quản trị nhân lực thuộc khoa Tổ chức và
quản lý nhân lực, em và các bạn đã được tạo điều kiện đi thực tập từ 16/01/2017
đến 17/03/2017. Với thời gian trên thực tập tại UBND Xã Bản Díu, huyện Xín
Mần, tỉnh Hà Giang, em đã có cơ hội gắn lý thuyết với thực tế, trau dồi thêm
nhiều kĩ năng quản lý hơn.
Bên canh sự hướng dẫn nhiệt tình của cán bộ, công chức UBND xã Bản Díu
cùng với nỗ lực của mình về mặt thời gian, vận dụng những kiến thức đã học được
ở nhà trường để tìm hiểu thực tiễn, nâng cao năng lực cũng như các yêu cầu cần
thiết của CB Văn phòng, em nhận thức sâu sắc được những nghĩa vụ, trách nhiệm
và vai trò quan trọng của cán bộ, công chức. Từ đó đã rèn luyện phẩm chất đạo đức,
nghề nghiệp như cẩn thận hơn, tỉ mỉ hơn…. Và nâng cao năng lực bản thân để hoàn
thành tốt công việc.
Em xin chân thành cảm ơn UBND Xã Bản Díu, đặc biệt là Văn phòng đã tạo mọi
điều kiện để em tìm hiểu và vận dụng những kiến thức sách vở vào thực tế công việc, để
em có thể hoàn thành tốt đợt thực tập cuối khóa này.
Đồng thời em cũng xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Tổ chức và
quản lý nguồn Nhân lực cùng các thầy cô giáo bộ môn trong trường Đai học Nội vụ Hà
Nội đã hết lòng giúp đỡ và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong quá trình học
tập.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VIẾT TẮT
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................................1
1.5.2. Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã.....................................................................................................15
1.5.3. Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã..............16
1.5.4. Công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.............16
1.5.5. Trang thiết bị và điều kiện làm việc......................................................17
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ, CÔNG CHỨC TẠI UBND XÃ BẢN DÍU,HUYỆN XÍN MẦN,TỈNH HÀ
GIANG...................................................................................................................18
2.1. Khái quoát chung về UBND xã Bản Díu..................................................18
2.1.1. Lịch sử hình thành.................................................................................18
2.1.2. Vị trí, chức năng....................................................................................18
2.1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn............................................................................19
2.1.4. Cơ cấu tổ chức của UBND xã Bản Díu năm 2016................................21
2.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Xã Bản Díu................23
2.2.2.1 Về trình độ năng lực chuyên môn........................................................25
2.2.2.2. Trình độ lý luận chính trị....................................................................26
2.2.2.3. Trình độ quản lý nhà nước, trình độ tin học, ngoại ngữ......................27
2.2.2.4 Về khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao......................................29
2.2.2.5.Về năng lực tổ chức, quản lý công việc...............................................30
2.3. Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC xã Bản Díu....................31
2.3.1. Thực trạng nâng cao thể lực..................................................................31
2.3.2. Thực trạng nâng cao trí lực....................................................................32
2.3.2.1. Qua công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã...............32
2.3.2.2. Qua cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức cấp xã..............33
2.3.2.3. Chính sách đãi ngộ, tạo động lực đối với đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã..............................................................................................................34
2.3.3. Thực trạng nâng cao tâm lực.................................................................36
2.3.3.1. Qua công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức cấp xã.................36
CB
Cán Bộ
CQ
Cơ Quan
CQHC
Cơ quan hành chính Nhà Nước
CHXHCNVN
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
HCNN
Hành chính nhà nước
HĐND
Hội đồng nhân nhân
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
QLNN
lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. Tuy nhiên, một thực tế khách
quan là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tương đối thấp, không
tương xứng với vị trí, vai trò của họ cũng như đáp ứng đầy đủ các chức danh theo
quy định của Nhà nước. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của chính quyền cấp cơ sở; nghiêm trọng hơn là dẫn đến nhiều sai phạm, làm
mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây ra tình trạng mất ổn định
cục bộ tại một số địa phương. Như vụ việc ở Thanh Hóa "xé rào" bổ nhiệm 8 phó
1
giám đốc Sở Nông nghiệp hay ở Hải Dương một sở có 44 lãnh đạo mà chỉ có 2
nhân viên...Do đó việc nâng cao chất lượng của cán bộ, công chức để đáp ứng tiêu
chuẩn chức danh và đòi hỏi của thực tế khách quan ngày càng cao là nhiệm vụ trọng
tâm hiện nay trong công tác cán bộ, công chức.
Trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua tại UBND Xã Bản Díu em có điều
kiện tìm hiểu về tình hình và thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của xã. Chất
lượng cán bộ, công chức bên cạnh những ưu điểm thì trình độ và năng lực thực thi
công vụ của đội ngũ này hiện còn nhiều bất cập so với yêu cầu công việc và yêu cầu
của thực tế đặt ra vì đa phần là ngưởi dân tộc làm cán bộ.
Với những lý do trên, em đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại UBND Xã Bản Díu, huyện Xín
Mần, tỉnh Hà Giang”.
Do thời gian thực tập có hạn nên bài viết chưa được đầy đủ và hoàn chỉnh,
em rất mong được sự góp ý từ thầy cô để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc phân tích thực trạng và đánh giá về chất lượng đội
ngũ cán bộ, công chức tại UBND Xã Bản Díu, huyện Xín Mần , tỉnh Hà Giang Từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại UBND
xã Bản Díu, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ này
khi nghiên cứu về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức công chức hiện nay nói
chung, và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.
Ý nghĩa thực tiễn: Việc đi sâu nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp chúng ta nắm
được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức công chức. Từ việc nắm được
thực trạng đó sẽ cung cấp những cứ liệu, khuyến nghị hữu ích cho các nhà lãnh đạo,
nhà quản lí, các nhà hoạch định chính sách có kế hoạch, biện pháp khắc phụ những
mặt hạn chế còn tồn tại và tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được nhằm
hoàn thành mục tiêu chung của đất nước đó là: Xây dựng đất nước giàu mạnh, xã
hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Trên cơ sở đó chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế, và tìm ra nguyên nhân
của những ưu điểm, hạn chế đó. Đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm của
công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC xã Bản Díu.
7. Kết cấu của báo cáo
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về công tác nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
Chương 2. Thực trạng nâng cao chất lượng cán bộ, công chức tại UBND xã
Bản Díu,huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Chương 3. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức ở UBND xã Bản Díu, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang.
3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1. Một số khái niệm về cán bộ, công chức
1.1.1. Cán bộ
Ở nước ta, khái niệm “cán bộ”, “công chức” đã có từ lâu. Nhưng chỉ đến
năm 1950, sau 05 năm đất nước ta giành độc lập thì khái niệm đó mới xuất hiện
trong văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
Khoản 2 Điều 4 quy định về công chức:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức
chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc
Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân
quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây
gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp
công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo
quy định của pháp luật”
Công chức bao gồm:
Công chức ở Trung ương, tỉnh, huyện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một
ngạch công chức làm việc trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội,
trong bộ máy Nhà nước ở Trung ương, tỉnh, huyện.
Công chức chuyên môn cấp xã (gồm 7 chức danh):
- Công chức chuyên môn phụ trách mảng Văn phòng
Công chức chuyên môn phụ trách mảng Tài chính – kế toán
Công chức chuyên môn phụ trách mảng Tư pháp – hộ tịch
Công chức chuyên môn phụ trách mảng địa chính, đô thị, xây dựng, môi
trường đối với phường, thì trấn và địa chính, nông nghiệp, môi trường đối với các
xã
Công chức chuyên môn phụ trách mảng Văn hóa – xã hội
Chỉ huy trưởng quân sự
Trưởng công an xã
Những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân
nhưng không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, quân nhân quốc phòng và
những người làm việc trong các cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân nhưng
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
Tiêu chuẩn công chức là tổng hợp các yêu cầu - điều kiện “ được quy định
làm chuẩn” để nhận xét, đánh giá, phân loại, tuyển chọn công chức, trên cơ sở đó
mà đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt và bố trí, sử dụng có hiệu quả từng người và cả đội
ngũ công chức. Nội dung tiêu chuẩn công chức không cố định, nó được quy định và
phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của từng giai đoạn cách mạng và được
cụ thể hoá trong từng ngành , từng lĩnh vực công tác cụ thể. Tiêu chuẩn công chức
phản ánh sự thống nhất giữa đòi hỏi khách quan và điều kiện chủ quan, giữa nhu
cầu phát triển và điều kiện, khả năng thực tế. Chỉ nhấn mạnh một mặt khách quan
cũng đề đạt làm là ảnh hưởng đến tính khoa học của tiêu chuẩn công chức. Phân
tích những nội dung và những đòi hỏi liên quan đến tiêu chuẩn công chức trong
6
điều kiện cải cách nền hành chính Nhà nước hiện nay được coi là vấn đề cấp thiết.
Tiêu chuẩn công chức có thể thay đổi và cần phải thay đổi khi những cải cách kinh
tế - xã hội, cải cách hành chính làm thay đổi nội dung của hoạt động công vụ, như
quan điểm về công chức trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay khác với thời
kỳ của cơ chế tập trung bao cấp, nhất là những đòi hỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và
năng lực công tác. Công việc này cấn tuân theo những yêu cầu có tính nguyên tắc,
vì nó không chỉ trực tiếp tác động tới từng công chức mà còn tác động tới cả đội
ngũ công chức và có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của đất nước, các nguyên
tắc đó là:
Thứ nhất, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ chính trị từng giai đoạn cách
mạng và chức năng, nhiệm vụ, tính chất hoạt động của từng cấp, từng ngành, từng
lĩnh vực hoạt động. Đảng, nhà nước xây dựng đội ngũ các bộ không ngoài mục đích
thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng đề ra. Muốn vậy, công chức nhà
nước phải là những người có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ năng lực,
đủ sức thức hiện thắng lợi những nhiệm vụ cách mạng đề ra. Yêu cầu khách quan
đó đòi hỏi khi xây dựng tiêu chuẩn công chức tất yếu phải quy định những yêu cầu điều kiện ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn.
chức của chúng ta tụt hậu so với khu vực và thế giới. Khuynh hướng thứ hai sẽ dẫn
đến bỏ những công chức vốn có công và thực sự có tài năng. Vì vậy tiêu chuẩn của
công chức Việt nam hiện nay vưa phải có “phần cứng” đáp ứng nhu cầu phát triển
lâu dài của đất nước, từng bước theo kịp trình độ phát triển của khu vực và thế giới.
Đồng thời phải có “phần mềm” phù hợp với điều kiện thực tế của của đội ngũ cán
bộ, công chức Việt nam hiện nay. Để thực hiện chiến lược trên, Đảng ta xác định
tiêu chuẩn chung của cán bộ , công chức trong thời kỳ mới là: Một là có tinh thần
yêu nước sâu sắc, tận tuỵ phục vụ nhân dân kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện đường lối của Đảng có hiệu quả, chính sách,
pháp luật của nhà nước. Hai là, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không tham
nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức kỷ luật, trung
thực, không cơ hội, gắn bó mật hiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm. Cần,
kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là những phẩm chất không thể thiếu của mỗi
ngưới cán bộ, công chức. Ba là có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước , có tr ình độ văn hóa
chuyên môn đủ năng lực sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ được giao.
1.3. Các tiêu chí đáng giá chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã.
1.3.1 Tiêu chí về năng lực chuyên môn.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là điều kiện tiên quyết trong thực hiện các
nhiệm vụ và tạo ra sản phẩm công việc. Trình độ là mức độ về sự hiểu biết, về kỹ
năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào đó thể hiện ở văn
bằng chứng chỉ mà mỗi công chức nhận được thông qua quá trình học tập. Để đánh
giá đúng đắn chất lượng đội ngũ CBCC thì trình độ năng lực của CBCC đóng vai
8
trò rất quan trọng. Trình độ năng lực phản ánh kỹ năng làm việc, khả năng hoàn
đường lối đổi mới của Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung
thành với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, Chủ tịch
Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức cách mạng, Người viết: "Cũng như sông thì có
9
nguồn mới có nước, không có nguồn thì cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây
héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
không lãnh đạo được nhân dân". Phẩm chất chính trị còn được thể hiện ở tinh thần
đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; chống
lại chủ nghĩa cơ hội, bè phái, các biểu hiện tiêu cực, các tư tưởng thù địch, chống
phá Đảng và Nhà nước. Đồng thời tận tụy phục vụ nhân dân, phục vụ sự nghiệp
cách mạng, giữ vững bản lĩnh chính trị trong mọi tình huống.
1.3.3. Khả năng hoàn thành nhiệm vụ
Là tiêu chí cơ bản để đánh giá đúng đắn nhất những gì mà mỗi CBCC cấp
xã đã làm được trong thời gian nhất định. Khả năng hoàn thành nhiệm vụ được
phản ánh thông qua mức độ thực hiện nhiệm vụ được giao trong năm: thể hiện ở
khối lượng công việc được giao, chất lượng công việc được hoàn thành, tiến độ
triển khai thực hiện, và hiệu quả của công việc đó trong từng vị trí, từng giai đoạn,
bao gồm cả những nhiệm vụ thường xuyên và những nhiệm vụ đột xuất. Dựa trên
kết quả đánh giá về khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ CBCC cấp xã có thể
đánh giá được chất lượng hoạt động của đội ngũ đó trong thực tiễn công tác. Một
CBCC cấp xã đạt chất lượng tốt thì phải thường xuyên được đánh giá là hoàn thành
xuất sắc nhiệm vụ và hoàn thành tốt nhiệm vụ. Có những CBCC đạt trình độ chuyên
môn nhưng chỉ được đánh giá là hoàn thành nhiệm vụ hoặc chưa hoàn thành nhiệm
vụ, người quản lý cần xem xét những khía cạnh khác của CBCC đó. Kết quả đánh
giá này cũng là cơ sở để thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng và sắp xếp nhân
sự tại cơ quan, đơn vị.
1.3.4 Về năng lực tổ chức, quản lý.
khác và kiểm tra việc thực hiện của họ.
+ Tháo vát, sáng kiến biết cần phải làm gì và làm như thế nào trong mọi tình
huống có những giải pháp sáng tạo.
+ Quyết đoán dám ra quyết định và dám chịu trách nhiệm
1.4. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
1.4.1. Nâng cao thể lực
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sức khỏe là vốn quý của con người”,
con người muốn tham gia vào bất kỳ hoạt động lao động nào để tạo ra của cải vật
chất thì cũng cần phải có sức khỏe. Nhất là đội ngũ CBCC cấp xã hàng ngày phải
tiếp xúc, giải quyết nhiều việc có liên quan trực tiếp đến quyền lợi nhân dân. Thể
lực được hiểu là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển sinh
học, không có bệnh tật, có đủ sức khỏe để lao động trong hình thái lao động ngành
nghề nào đó, có sức khỏe để học tập và lao động lâu dài. Đó là một cơ thể khỏe
mạnh, dẻo dai không chỉ trong điều kiện làm việc bình thường mà còn có khả năng
chịu đựng áp lực công việc, tập trung cao độ khi phải đối mặt với những yều cầu
cấp bách, bức xúc của công việc hay phải làm việc trong những điều kiện khắc
nghiệt. CBCC cấp xã muốn hoàn thành nhiệm vụ được giao rất cần một thể lực tốt,
một sức khỏe dồi dào. Đó không chỉ là khỏe mạnh mà còn là lòng kiên trì, tinh thần,
yếu tố tâm lý khi đứng trước sự việc mới phát sinh. Sức khỏe tốt giúp cho đội ngũ
11
CBCC cấp xã có tâm hồn thoải mái, sảng khoái, có trí tuệ, tư duy minh mẫn, giúp
họ sáng suốt, tỉnh táo trong công tác lãnh đạo, điều hành, tránh được stress trong
công việc và có đủ bản lĩnh, sự bình tĩnh, khôn khéo trong giải quyết khó khăn,
đồng thời không bị dao động trước tư tưởng, thói quen xấu. Nếu không có đủ sức
khỏe thì dù có trí tuệ, yêu nghề thì đội ngũ CBCC cấp xã cũng khó lòng có thể làm
việc, cống hiến cho công việc. Vì vậy, Đảng ủy- HĐND- UBND các xã, phường cần
chăm lo hơn nữa đến việc rèn luyện thể lực cho đội ngũ CBCC địa phương, không
thiết nhằm phục vụ tốt nhất cho công việc đang đảm nhận. Thứ nữa là sự quan tâm
chính quyền địa phương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC cấp xã,
giúp CBCC cập nhật kịp thời những kiến thức liên quan lĩnh vực công tác một cách
nhanh chóng, ngày càng củng cố vững chắc nền tảng chuyên môn. Ngoài ra, để
nâng cao trí lực đội ngũ CBCC cấp xã cần quan tâm cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm,
các chính sách đãi ngộ, tạo động lực và qua thực trạng bố trí công việc đúng người,
đúng việc, CBCC cấp xã phát huy tối đa trí lực, sức sáng tạo của bản thân.
1.4.3. Nâng cao tâm lực
Tâm lực là sức mạnh tâm lý của con người. Tâm lực cao hay thấp thể hiện ở
mức độ nhận thức, ý thức trách nhiệm về động cơ làm việc, ý chí phấn đấu, thái độ
và tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tính tự lập trong thực thi nhiệm vụ, tinh
thần hợp tác tương trợ, khả năng làm việc tập thể và lòng trung thành với cơ quan,
tổ chức. Tâm lực phản ánh nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống, thể hiện nét văn
hóa của người lao động là cơ sở tâm lý cho việc nâng cao năng lực sáng tạo của họ
trong lao động. 19 Tâm lực là nội dung quan trọng trong nâng cao chất lượng đội
ngũ CBCC cấp xã. Như người xưa đã đúc kết: có tâm thì làm việc gì cũng xong.
Vậy tâm lực ở đây có nghĩa là tâm huyết, tận tâm, tận lực với tấm lòng trong sáng
trong công việc, coi công việc là tất cả ý nghĩa cuộc sống, quên cả mệt mỏi. Đó
cũng chính là ý thức trách nhiệm cao trong công việc của CBCC nói chung. Làm
việc gì cũng phải có cái “ tâm”, nếu CBCC cấp xã tâm huyết, yêu nghề, phục vụ
nhân dân tận tụy như phục vụ người thân trong gia đình thì mỗi CBCC cấp xã sẽ
càng thêm gắn bó và thấy vinh dự khi được đại diện cho Đảng, Nhà nước quan tâm,
làm “ công bộc” cho nhân dân. Tâm lực là năng lực và ý chí, là sự ham muốn sử
dụng sức lực của mình: sức mạnh của ý chí, tinh thần dồn hết vào công việc, để
hoàn thành công việc. Vì vậy, nếu thiếu tâm lực sẽ dẫn đến sự thờ ơ trong công
việc, không hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tâm lực còn được hiểu là lương
tâm nghề nghiệp. Đó là ý thức, thái độ lương thiện, không lừa bịp, sách nhiễu công
dân, không lợi dụng quyền hành để làm những việc trái lương tâm, pháp luật. Là
người nắm và sử dụng quyền lực CBCC cấp xã phải là người có đức tính liêm khiết,
học vấn của CBCC cấp xã ngày nay đã được nâng lên nhưng những kiến thức, kỹ
năng học tập được trong nhà trường còn tràn lan, có những thứ chưa thể áp dụng
trong thực tiễn làm việc. Do đó, trong công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã đòi
hỏi phải biết chọn lựa nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng, phù hợp với
chuyên ngành, với chức danh công việc cụ thể của mỗi CBCC. Đào tạo, bồi dưỡng
CBCC cấp xã đạt về số lượng, tránh tình trạng đào tạo, bồi dưỡng tràn lan, hình
thức, đào tạo không phải để trang bị những kỹ năng cần thiết mà chỉ lấy chứng chỉ,
bằng cấp bổ sung vào lý lịch CBCC. Trong khi đó, người có nhu cầu thật sự không
được cử đi, người không sử dụng kiến thức đó được đi học, gây lãng phí nguồn kinh
phí đào tạo của Nhà nước. Nội dung đào tạo xuất phát từ sự cần thiết thực tế, yếu
khâu nào đào tạo, bồi dưỡng khâu đó. Tuy nhiên, hiện nay, nội dung đào tạo, bồi
dưỡng CBCC cấp xã vẫn mang nặng về lý luận chính trị, ít chuyên sâu vào khoa
học hành chính, các kỹ năng, nghiệp vụ quản lý nhà nước cần thiết của CBCC. Bên
14
cạnh đó, bản thân CBCC cũng xem nhẹ việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức,
lý luận chính trị, các kỹ năng nghiệp vụ. CBCC coi như việc đó là bắt buộc, là phải
đi học. Đến lớp, tham gia tập huấn thì một số ngồi dưới làm việc riêng, không chú
ý. Hơn thế nữa, CBCC cấp xã lại thường thay đổi qua mỗi nhiệm kỳ, thay đổi công
việc, chuyên môn công tác. Vì vậy, nếu không được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức,
kỹ năng mới, không có ý chí học tập nâng cao trình độ sẽ khó đáp ứng được với yêu
cầu, nhiệm vụ thực thi công vụ, ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã.
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC có ý nghĩa quyết định đến chất lượng
đội ngũ CBCC cấp xã. Địa phương nào chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng
CBCC thì địa phương đó sẽ xây dựng được nền tảng vững chắc của đội ngũ CBCC
cấp cơ sở, hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ mà cấp trên giao phó và Đảng bộ
địa phương đặt ra.
1.5.2. Cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ,
được trình độ, năng lực, sở trường của mình. Như vậy, để phát huy hiệu quả sử
dụng đội ngũ CBCC trong bộ máy chính quyền cấp xã cần tiếp tục đổi mới và hoàn
thiện chính sách sử dụng CBCC cấp xã.
1.5.3. Công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Đánh giá đúng cán bộ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đội ngũ CBCC
cấp xã. Thông qua hệ thống các chỉ tiêu đánh giá cán bộ, công chức do Nhà nước
quy định, công tác đánh giá, xếp loại đưa ra kết luận xác đáng về đức và tài, về trình
độ năng lực, khả năng phát triển của CBCC. Vì vậy, nếu khen đúng người, kỷ luật
đúng tội, đánh giá đúng về CBCC cấp xã sẽ là động lực thúc đẩy tinh thần và trách
nhiệm đối với công việc của họ. Ngược lại nếu đánh giá chưa đầy đủ, chưa chính
xác về CBCC sẽ nảy sinh những bất mãn, ý nghĩ tiêu cực trong CBCC, ảnh hưởng
đến kết quả làm việc. Làm tốt công tác đánh giá, xếp loại đội ngũ CBCC cấp xã còn
là căn cứ để tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, xác định nhu cầu và nội dung đào tạo,
bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế
độ, chính sách đối với cán bộ: nâng lương trước thời hạn, xem xét ưu tiên, động
viên CBCC tham dự các kỳ thi nâng ngạch, bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo và
hưởng thêm các chế độ khác.Tuy nhiên trong thực tế, công tác này còn bị coi nhẹ,
chỉ mang tính hình thức, đánh giá thiên về tình cảm, làm cho qua loa xong chuyện.
Công tác đánh giá, xếp loại CBCC không chỉ giúp cơ quan quản lý cán bộ nắm và
hiểu được cán bộ của mình mà đồng thời còn giúp cho bản thân người cán bộ công
chức cấp xã hiểu đúng hơn về mình, nhằm phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm
(nếu có), góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có chất lượng cao,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
1.5.4. Công tác kiểm tra, giám sát đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
Trong công tác kiểm tra, giám sát, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định:
"Khi có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do
cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ
sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích" và “có kiểm tra…. mới biết rõ năng lực
và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” [tr.520]. Điều đó cho
tựu khoa học kỹ thuật, trang bị máy móc hiện đại sẽ đáp ứng tốt hơn các hoạt động
thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Bởi vậy, trang thiết bị và
điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công
tác và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đối với cán bộ, công chức
cấp xã nói riêng.
17
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC TẠI UBND XÃ BẢN DÍU,HUYỆN XÍN MẦN,TỈNH HÀ GIANG
2.1. Khái quoát chung về UBND xã Bản Díu
2.1.1. Lịch sử hình thành
Bản Díu là một xã thuộc huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang, Việt Nam. Xã có vị
trí:
Bắc giáp xã Nàn Xỉn, xã Bản Phùng (Hoàng Su Phì).
Đông giáp xã Chiến Phố (Hoàng Su Phì).
Nam giáp xã Nàng Đôn (Hoàng Su Phì), xã Trung Thịnh, xã Ngán Chiên.
Tây giáp xã Thèn Phàng.
Xã Bản Díu có diện tích 18,14 km², dân số năm 1999 là 3.433 người, mật độ
dân số đạt 189 người/km².
Xã Bản Díu được chia thành các thôn bản: Díu Hạ, Na Lũng, Mào Phố,
Chúng Trải, Ngam Lim, Quán Thèn, Cốc Tủm, Díu Thượng.
Nằm ở phía Tây Côn Lĩnh (dãy Chiêu Lầu Thí từ Tây Côn Lĩnh đến tận Bắc
Hà Tỉnh Lao Cai). Đã tạo nên cho xã Bản Díu, huyện Xín Mần có nhiều tiểu vùng
khí hậu khác nhau. Dãy núi Gia Long chạy từ Lao Chải huyện Vị Xuyên đến Pà
Vầy Sủ huyện Xín Mần tạo nên sự ngăn cách tự nhiên giữa biên giới Việt Trung.
Trên núi có đền thờ Vua Gia Long theo truyền thuyết dân gian dân tộc La Chí, các
giá trị văn hoá trong phong tục tập quán dân tộc La Chí có từ thời cổ gắn liền với
tham mưu của cán bộ chuyên trách nông lâm nghiệp, có nhiệm vụ quyền hạn sau:
- UBND xã xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế nông lâm nghiệp và kế
hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung hàng năm cho phù hợp với quy định, kế
hoạch phát triển chung của xã mà đã được sự đồng ý của cấp trên cho phép. Thống
nhất thông qua UBND xã, trình HĐND xã quyết định và trình lên UBND cấp trên
phê chuẩn; Chủ tịch UBND xã và tập thể UBND tổ chức triển khai thực hiện kế
hoạch đó.
3. Đối với việc thực hiện chương trình dự án, công nghiệp thương mại,
giao thông xây dựng, tài chính tín dụng.
- Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn. Dự toán thu, chi ngân
sách địa phương và dự toán phân bổ ngân sách của địa phương do xã quản lý; dự
toán điều chỉnh ngân sách địa phương. Trong trường hợp cần thiết và quyết toán
ngân sách địa phương trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo UBND, cơ quan
tài chính cấp trên trực tiếp.
- Xây dựng các chủ chương, biện pháp quản lý đất đai, quản lý môi trường,
đường giao thông nông thôn, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên địa bàn; quản lý
các công trình công cộng, giao thông đường bộ, thuỷ nông, thuỷ lợi, trụ sở, trường
học, trạm y tế, công trình điện theo quy định của pháp luật.
- Xây kế hoạch phát triển công nghiệp - thương mại, mở rộng dịch vụ, thu
ngân sách trên địa bàn, quản lý tài chính công và các nguồn tài chính tín dụng, xây
19
dựng kế hoạch thu hút đầu tư khác.
4. Đối với lĩnh vực Văn hóa xã hội:
Chủ tịch UBND xã và tập thể UBND xã, trước tiên là cán bộ tham mưu
chuyên trách Văn hóa xã hội xây dựng về kế hoạch về lĩnh vực VHXH.
Có kế hoạch tổ chức chăm sóc người có công với cách mạng, thương bệnh
binh, liệt sĩ; thăm tặng quà.