ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------
CAO CHIẾN
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRẦM TÍCH HOLOCEN KHU
VỰC TRÀ VINH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI SỰ DAO
ĐỘNG MỰC NƢỚC BIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------------------
CAO CHIẾN
LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TRẦM TÍCH HOLOCEN
KHU VỰC TRÀ VINH TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI
SỰ DAO ĐỘNG MỰC NƢỚC BIỂN
Chuyên ngành:
Mã số:
Địa chất học
60440201
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BP
:
Before Present: Năm trước hiện tại
HST :
Highstand Systems Tract: Miền hệ thống trầm tích biển cao
Ka
Kilo years: Nghìn năm
:
MFS :
Maximum Flooding Surface: Bề mặt ngập lụt cực đại
N+
Nicon vuông góc
:
OSL :
lớn; địa hệ các đồng bằng phù sa châu thổ phì nhiêu là diện tích trồng lúa năng suất
cao; địa hệ các vùng đất ngập nước và rừng ngập mặn ven biển là một dạng tài
nguyên đặc thù lồng ghép đan xen giữa khai thác hệ sinh thái rừng ngập mặn và
nuôi trồng thủy sản.
Với ý nghĩa nêu trên việc xác định quy luật hình thành và lịch sử phát triển
các thành tạo Holocen khu vực Trà Vinh nhằm định hướng cho công tác quy hoạch,
phát triển kinh tế - xã hội là điều cần thiết nhằm phát triển bền vững khu vực này.
Vì vậy, học viên đã chọn luận văn thạc sĩ với tiêu đề: “Lịch sử phát triển trầm tích
Holocen khu vực Trà Vinh trong mối quan hệ với sự dao động mực nước biển”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài đặt ra nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa lịch sử phát triển trầm tích
với sự thay đổi mực nước biển trong Holocen.
3. Nhiệm vụ
Để hoàn thành luận văn theo mục tiêu trên, luận văn đã tập trung thực hiện
các nội dung chủ yếu sau:
-
Nghiên cứu đặc điểm và quy luật phân bố tướng trầm tích Holocen.
- Nghiên cứu lịch sử phát triển trầm tích Holocen khu vực Trà Vinh trong mối quan
hệ với sự dao động mực nước biển.
5
4. Cơ sở tài liệu
Học viên đã thu thập một số lượng tài liệu phong phú liên quan tới vùng
nghiên cứu với các đề tài, giáo trình, bài báo của nhiều tác giả liên quan. Cùng
với việc tham khảo các tài liệu, học viên đã khảo sát thực địa, thu thập mẫu thực
tế, phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm, đồng thời kế thừa một số chỉ tiêu phân
mùa Tây Nam đến Tây Tây Nam, chiếm khoảng 89% lượng mưa cả năm và mùa
khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau với hướng gió chủ đạo là Bắc đến Đông
Bắc, chiếm khoảng 11% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm từ
1.250 mm đến 1.500 mm và tập trung vào hai thời kỳ, thời kỳ thứ nhất xuất hiện
vào tháng 6 hoặc tháng 7, lượng mưa tháng xấp xỉ 200mm, thời kỳ thứ hai xuất
hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 lượng mưa tháng trên dưới 250mm. Diễn biến
chế độ mưa trong năm như sau:
Thời kỳ mùa mưa thật sự (đầu tháng 6 đến cuối tháng 10). Thời kỳ chuyển
tiếp mùa mưa sang mùa khô (cuối tháng 10 đến cuối tháng 11). Thời kỳ mùa khô thật
sự (đầu tháng 12 đến cuối tháng 4 năm sau). Thời kỳ chuyển tiếp mùa khô sang mùa
mưa (đầu tháng 5 đến đầu tháng 6).
Chế độ mưa như trên đã gây khó khăn không ít cho nghề trồng trọt: vào mùa
khô, vùng bị xâm nhập mặn, độ chua mặn lấn sâu vào nội địa dẫn đến hạn chế khả
năng trồng cây và tăng vụ, ngược lại vào mùa mưa ở đây thường bị nước ở thượng
nguồn sông Mê Kông dồn về gây ra nạn ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng.
Chế độ nắng
Do ở vĩ độ thấp nên vùng tiếp nhận được lượng ánh nắng dồi dào, độ dài ban
ngày lớn, bức xạ và nhiệt độ cao, thích hợp cho sự phát triển của cây trồng. Tổng số
giờ nắng trong năm đạt trên dưới 2.709 giờ. Trong mùa khô, số giờ nắng trung bình
mỗi ngày đạt từ 8 – 9 giờ. Tháng mùa mưa trung bình từ 5 – 7 giờ trong ngày.
Chế độ gió
Chế độ gió ở đây được phân làm 2 mùa rõ rệt: Gió mùa Tây Nam hình thành
từ Nam Ấn Độ Dương vượt qua xích đạo, tác động đến các tỉnh phía Nam Việt
Nam, mang đặc tính nóng ẩm, gây mưa lớn, chiếm khoảng 90% lượng mưa trong
năm của tỉnh. Gió mùa Tây Nam hoạt động bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng
9, mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 8. Tốc độ gió trung bình đạt 1–1,2 m/s, riêng
vùng biển tốc độ gió đạt 2 – 3,9 m/s. Tốc độ tối đa của gió đạt 10 – 18 m/s, vùng
biển 12 – 20 m/s.
Gió mùa Đông Bắc, còn gọi là gió chướng, xuất hiện vào cuối tháng 10 và
Bức xạ
Lượng bức xạ ở khu vực lớn và ổn định. Lượng bức xạ tổng cộng trung bình
ngày lớn nhất vào tháng 3 (548 calo/cm2/ngày) và nhỏ nhất vào tháng 9 (397
calo/cm2/ngày).
9
1.2.2. Đặc điểm thủy văn
Mạng lưới sông suối: vùng nghiên cứu có 2 cửa sông là nhánh của sông Tiền
đổ ra: cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu và 1 nhánh của sông Hậu: cửa Định An.
Trong vùng mạng lưới sông, kênh, rạch phát triển mạnh mẽ, mật độ mạng lưới
thuộc vào loại lớn nhất trên lãnh thổ nước ta, dao động từ 2 đến 4km/km2.
Chế độ dòng chảy: Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều yếu
tố tác động: dòng chảy sông Tiền, sông Hậu, thủy triều biển Đông, thủy triều phía
Tây Nam-vịnh Thái Lan và chế độ mưa ở đồng bằng. Nguồn nước chảy về sông
Cửu Long là khá lớn, hằng năm có khoảng 422 tỷ m3 nước từ thượng nguồn cộng
với lượng nước mưa trung bình năm cung cấp cho sông Cửu Long khoảng 67 tỷ m 3.
Tổng lượng nước hằng năm ở đồng bằng sông Cửu Long khoảng 500 tỷ m3.
Dòng chảy sông Cửu Long có hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn. Ở thượng
lưu, mùa lũ bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 11, mùa cạn bắt đầu từ tháng
12 và kết thúc vào tháng 5. Có sự tương phản sâu sắc giữa mùa lũ và mùa cạn, lưu
lượng giữa tháng lớn nhất và tháng nhỏ nhất vẫn chênh lệch rất lớn. Vào mùa lũ,
lưu lượng tăng cao đột ngột và đạt trung bình từ 20.000 đến 30.000m3/s, trong đó
vào mùa khô lưu lượng giảm nhỏ và chỉ còn khoảng 2.000 - 4.000m3/s, bằng 10 20% lưu lượng các tháng mùa lũ.
1.2.3. Đặc điểm hải văn
Chế độ thủy triều: Vùng nghiên cứu có chế độ bán nhật triều không đều. Hầu
hết các ngày trong tháng có 2 lần triều lên và 2 lần triều xuống với chênh lệch rõ rệt
giữa các độ cao nước ròng. Độ lớn triều trong vùng khoảng 3-4 m trong kỳ nước
cường và 1,5-2m vào kỳ nước kém. Tốc độ thủy triều ở khu vực này lên xuống khá
về phía biển, các giồng cát này càng cao và càng lớn. Do sự chia cắt bởi các giồng
cát và hệ thống trục lộ, kênh rạch chằng chịt nên địa hình khá phức tạp. Các vùng
trũng xen kẹp với các giồng cát, xu thế dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Nhìn
chung, cao trình phổ biến từ 0,4-1,0 m, chiếm 66% diện tích đất tự nhiên.
Địa hình cao nhất (4m) gồm các giồng cát phân bố ở Nhị Trường, Long Sơn
(Cầu Ngang); Long Hữu (Duyên Hải). Địa hình thấp nhất (0,4m) tập trung tại các
cánh đồng trũng xã Mỹ Hòa, Mỹ Long, Hiệp Mỹ (Cầu Ngang); Long Vĩnh (Duyên
Hải), Trà Vinh.
11
Địa mạo: Trong vùng nghiên cứu, đặc điểm địa mạo dễ nhận thấy là đồng
bằng châu thổ cao 0,5-4m, không bị ngập hoặc bị ngập nước cục bộ, ngập không
thường xuyên do triều hoặc do lũ. Trên đồng bằng, xen kẽ các giồng cát là các dải
đồng bằng thấp trũng với các lạch triều, các đoạn lạch triều, tuổi trẻ dần về phía
biển. Khoảng cách giữa 2 giồng cát 1,9-4,9km, trung bình 2,4km. Các dạng địa hình
này về cơ bản đã ổn định, có tuổi Holocen giữa-muộn, tuy nhiên các dạng địa hình
giồng cát lại đang chịu tác động mạnh mẽ từ chính con người.
1.2.5. Đặc điểm địa chất
1.2.5.1. Đặc điểm địa tầng
Ranh giới Pleistocen – Holocen tại khu vực nghiên cứu
Các thành tạo trầm tích Pleistocen muộn hầu hết bị phủ bởi các thành tạo
Holocen. Tại khu vực ven biển Trà Vinh, trầm tích Pleistocen muộn có bề dày trung
bình khoảng 40-50m, đôi chỗ có bề dày lớn như vị trí lòng sông cổ có bề dày trầm
tích Pleistocen muộn đạt tới 70-80m.
Hình 1.2. Mặt cắt địa chất ven biển châu thổ Sông Cửu Long [3]
Ranh giới Pleistocen – Holocen vùng nghiên cứu xác định qua các lỗ khoan
cho thấy tại khu vực sông Hậu nằm ở độ sâu khoảng trên dưới 20m nhưng tại khu
lòng sông cổ của trầm tích Neogen muộn – Đệ tứ trong mối quan hệ với hoạt động
kiến tạo vùng đồng bằng Nam Bộ”, Tạp chí khoa học công nghệ biển, 3 (5), 2005,
tr.1 – 9.
10. Trần Nghi, Đinh Xuân Thành (2000),“Tiến hóa trầm tích và cổ địa lý
giai đoạn Pliocen - Đệ tứ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam”, Tạp chí địa chất, loạt A,
phụ trương 2000, tr. 19 – 29.
13
11. Trần Nghi, Đinh Xuân Thành và nnk (2004),“Nhìn lại sự thay đổi mực
nước biển trong đệ tứ trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven
bờ từ Nha Trang đến Bạc Liêu”, Tạp chí khoa học và công nghệ biển, 3(4), tr.1 – 9.
12. Trần Nghi và nnk (2010), báo cáo chuyên đề: “Tiến hóa môi trường trầm
tích Holocen vùng cửa sông ven biển từ cửa sông Tiền đến cửa sông Hậu”.
13. Trần Nghi, Mai Thanh Tân, Doãn Đình Lâm và nnk (2000), Tiến hóa
trầm tích và cổ địa lý giai đoạn Pliocen – Đệ tứ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam, tạp
chí Địa chất.
14. Đinh Xuân Thành (2012),“Tiến hóa trầm tích Pliocen - Đệ tứ vùng thềm
lục địa từ Quảng Nam đến Bình Thuận”, luận án Tiến sĩ Địa chất.
15. Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Hồng Lân, Phùng Văn Phách và nnk
(2011), Xu hướng vận chuyển tích tụ trầm tích trên phần châu thổ ngầm ven bờ biển
đồng bằng sông Mê Kông, tạp chí các Khoa học về Trái đất, 33(4), tr. 607-615.
16.
17. Niên giám thống kê năm 2012 tỉnh Trà Vinh.
Tiếng Anh
18. Catuneanu O. (2006), Principles of Sequence Stratigraphy, Elsevier’s
Science & Technology Rights.
19. Nguyen Van Lap, Ta Thi Kim Oanh, Masaaki Tateishi (2000),“Late
Holocen depositonal environments evolution of the Mekong River Delta, Souther
Subaqueous Delta, Southern Vietnam”, Marine Geology 269 (2010), 46–60.
15