Luận văn hệ thống chấm điểm tín dụng DN – một biện pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại NH ngoại thương VN - Pdf 38

Luận văn
HỆ THỐNG CHẤM ĐIỂM TÍN
DỤNG DOANH NGHIỆP – MỘT
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thò
Phần mở đầu
CHƯƠNG 1 : VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRONG NHTM



CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG

2.2.4 Tính toán hiệu quả kinh tế của phương án/dự án vay vốn để thấy khả năng trả nợ

2.2.7 Một số ví dụ minh họa những hạn chế trong quá trình thẩm đònh tại NHNT Việt
CHƯƠNG 3 : HỆ THỐNG CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG DOANH
NGHIỆP – MỘT
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯNG QUẢN LÝ RỦI RO
TÍN DỤNG TẠI


3.2.1 Yếu tố tài chính ...................................................................................................
3.2.2 Yếu tố phi tài chính .............................................................................................
3.2.3 Yếu tố điểm số và tỷ trọng..................................................................................
3.3.1 Xác đònh lónh vực hoạt động................................................................................

phòng dẫn đến thu nhập bò giảm, uy tín NH cũng giảm theo. Vì vậy,
hoạt động tín dụng có thể được xem như “con dao hai lưỡi”, một mặt nó
tạo ra thu nhập cao mặt khác nó lại tạo ra rủi ro cho NH. Chính vì vậy,
nó thường xuyên nhận được sự chú ý đặc biệt trong quản trò NH
cũng như trong công tác giám sát, quản lý của NHNN, bởi vì việc
quản trò tín dụng có hiệu quả hay không có ảnh hưởng rất lớn đến
sự thành công hay thất bại của một NH. Sự sụp đổ của một NH
thường gây ảnh hưởng không tốt đến hệ thống tài chính tiền tệ
quốc gia.
Ở Việt Nam, hoạt động của các NHTM trong đó có hoạt dộng tín
dụng cũng nhận được sự quan tâm rất lớn từ các nhà quản trò NH cho
đến các cơ quan quản lý có liên quan. Bởi vì hoạt động tín dụng của các
NH Việt Nam có tính rủi ro rất cao. Lòch sử NH Việt Nam đã chứng kiến
rất nhiều tổn thất tín dụng kể từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ kế
hoạch hoá tập trung sang kinh tế thò trường. Những cuộc đổ vỡ tín dụng
trong những năm đầu thập niên 90 đã làm mất niềm tin của công
chúng vào NH trong khi nhu cầu vốn tín dụng cung cấp cho nền kinh tế rất
lớn. Nguyên nhân của những vụ đổ vỡ này vừa xuất phát từ hệ
thống pháp lý nước ta lúc đó chưa đầy đủ vừa từ phía các tổ chức tín
dụng còn xem nhẹ về mặt quản lý chất lượng tín dụng. Để khắc phục


hậu quả, Chính phủ đã phải tốn rất nhiều tiền để hỗ trợ các NH trong
và ngoài quốc doanh xóa một lượng khổng lồ nợ tồn đọng không có
khả năng thu hồi. Năm 2001,


5
ngân sách ước tính ban đầu để tái cơ cấu, làm lành mạnh hệ thống NH Việt Nam là
17.000 tỷ đồng (khoảng 4% GDP). Vài năm trở lại đây, cùng với tốc độ tăng trưởng

xét nguồn trả nợ của khách hàng. Họ đã quên đi điểm cốt yếu trong
việc ra quyết đònh cho vay hay không là tùy thuộc vào dòng tiền được tạo
ra trong tương lai của khách hàng. Như vậy, có phải do khả năng thẩm đònh
của họ yếu kém hay do một nguyên nhân nào khác nữa.
Hiện nay, công tác đào tạo của nước ta còn nhiều bất cập không phục vụ nhiều
cho công việc đi làm sau này của sinh viên. Tuy nhiên, vấn đề này vẫn có thể cải thiện
được vì các NH thường tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ cho nhân viên mới của mình.
Như vậy, vấn đề còn lại là họ đã thiếu một công cụ hỗ trợ quá trình thẩm đònh. Trong
thực tế, đôi khi giữa ban giám đốc và nhân viên tín dụng có những mâu thuẫn, không
thống nhất trong việc đề xuất cấp tín dụng cho khách hàng vì họ thiếu một công cụ giúp
đo lường được mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng và với mức độ rủi ro tín dụng như
vậy thì khả năng NH sẽ cấp tín dụng tối đa cho doanh nghiệp là bao nhiêu mà vẫn đảm
bảo khả năng thu hồi nợ? Nói tóm lại, vấn đề nghiên cứu được xác đònh là giới thiệu
hệ thống chấm điểm tín dụng doanh nghiệp ở NHNT Việt Nam vừa được triển khai áp dụng.
Từ đó, hệ thống chấm điểm này đã có những tác dụng gì trong việc nâng cao chất
lượng quản lý rủi ro tín dụng và một số biện pháp để hoàn thiện việc áp dụng hệ
thống này tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam.

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Ở góc độ khách hàng, đối tượng nghiên cứu chủ yếu là các DN vì chúng
có tỷ trọng vốn vay trong toàn bộ danh mục cho vay của NHNT Việt Nam là khá lớn
và tính phức tạp trong hoạt động của nó. Phân tích khả năng trả nợ của đối tượng
khách hàng là thể nhân tương đối đơn giản nên không được xem xét kỹ ở đây.
Do mẫu nghiên cứu luận văn được dùng là thực trạng hoạt động tín dụng tại
NHNT Việt Nam mà NHNT Việt Nam chỉ là một phần trong hệ thống NHTM ở Việt


7
Nam. Do đó, những phân tích của nó cũng chỉ mang nét riêng về chính sách
quản trò của riêng NHNT Việt Nam. Tuy nhiên, NHNT Việt Nam là một trong

tố tài chính, các yếu tố phi tài chính, các yếu tố tỷ trọng … và cách sử dụng
hệ thống để chấm điểm và xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Một ví dụ minh họa
cũng được trình bày trong chương này. Từ hệ thống chấm điểm tín dụng đó thì nó
có tác dụng gì trong việc nâng cao chất lượng quản lý rủi tín dụng. Để cho các
kết quả chấm điểm và xếp hạng tín dụng phát huy vai trò của mình thì cần có
một số biện pháp nhằm hoàn thiện việc áp dụng hệ thống trên tại NHNT Việt
Nam. Sau cùng là những kết luận về những kết quả nghiên cứu của luận văn.

IV Ý nghóa
Với hệ thống chấm điểm này đã góp phần cho nhân viên tín dụng có cơ sở
hơn trong việc đánh giá tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và tư cách khách hàng
để biết được mức độ rủi ro của một khoản vay khi cho vay, đồng thời hỗ trợ ban giám
đốc trong việc đưa ra các quyết đònh tín dụng. Hệ thống này có thể đưa vào vận dụng
rộng rãi trong hoạt động cho vay tại hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam khi
mà dư nợ cho vay ngày càng cao và hội nhập thì chúng ta phải tuân theo.


9

CHƯƠNG 1 : VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI
1.1 Ngân hàng thương
mại 1.1.1 Khái niệm
NHTM có một lòch sử hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền
với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Sự phát triển hệ thống NHTM đã
có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế
hàng hóa, ngược lại khi nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn
cao nhất của nó – kinh tế thò trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện
và trở thành những đònh chế tài chính không thể thiếu được.

gửi thanh toán tại NH. Thông qua tài khoản này, thay mặt cho khách hàng, NHTM trích
tiền trên tài khoản trả cho người được hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản theo ủy
nhiệm của khách hàng. Với chức năng này, nó tạo điều kiện thanh toán trong nền
kinh tế được nhanh chóng, hiệu quả và an toàn. Đối với NHTM thì nó lại nâng cao uy
tín cho NH góp phần mở rộng qui mô chức năng trung gian TD và tăng cường nguồn
vốn cho vay, góp phần tăng thêm thu nhập cho NH. Đối với nền kinh tế nó thúc đẩy
nhanh quá trình lưu thông hàng hóa, quá trình tăng trưởng kinh tế vì chức năng này
đã đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn trong nền kinh tế. Ngoài ra,
nó còn tiết giảm tiền mặt lưu thông dẫn đến tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt.

1.1.3 Các loại hình NHTM
Tùy theo góc độ tiếp cận, NHTM có thể được phân loại như sau :
1.1.3.1 Căn cứ vào hình thức sở hữu
- NHTM quốc doanh là loại hình NH có vốn do ngân sách nhà nước cấp phát,

được thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh, góp phần thực hiện mục
tiêu kinh tế của nhà nước. Ở Việt Nam, hiện nay có 5 NHTM quốc doanh.
- NHTM cổ phần là những NH hoạt động như công ty cổ phần, nguồn vốn ban đầu do các
cổ đông đóng góp. Đây là loại hình NH chiếm số lượng nhiều nhất trên thế giới.

- NHTM liên doanh là loại hình NH có vốn được góp bởi một bên là NH

Việt Nam và bên còn lại là NH nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên
doanh, có trụ sở đặt tại Việt Nam và hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
- Chi nhánh NH nước ngoài là NH được thành lập bằng vốn của NH nước ngoài và
theo pháp luật của nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam và hoạt động


11


để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Vay vốn của các TCTD trong nước và nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn.
-

Các hình thức huy động vốn khác theo qui đònh của NHNN.


12

1.1.4.2 Hoạt động tín dụng
NHTM được cấp TD cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho
vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho
thuê tài chính và các hình thức khác theo qui đònh của NHNN.
- Cho vay : NHTM cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình

thức sau là cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn.
- Chiết khấu : NHTM được chiết khấu thương phiếu, các giấy tờ có giá khác

cho lẫn nhau, cho khách hàng và có thể tái chiết khấu các giấy tờ trên.
- Bảo lãnh : NHTM được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,
bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh NH khác cho các tổ chức, cá nhân bằng
uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh.

- Cho thuê tài chính : NHTM chỉ được thực hiện qua công ty cho thuê tài chính.
1.1.4.3 Hoạt động dòch vụ thanh toán và ngân quỹ

NHTM chỉ thực hiện được các dòch vụ thanh toán thông qua NH khi các
khách hàng cá nhân, tổ chức mở tài khoản tiền gửi tại NHTM. Hiện nay,
theo qui đònh hoạt động này của NHTM bao gồm các dòch vụ sau :

- Dòch vụ tư vấn : NHTM được cung ứng các dòch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ.
- Các dòch vụ khác liên quan đến hoạt động NH như dòch vụ bảo quản vật quý,
giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dòch vụ khác có liên quan.
1.2 Tín dụng ngân hàng

1.2.1 Khái niệm
Đây là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng
cho khách hàng trong một thời hạn nhất đònh với một khoản chi phí nhất
đònh. Từ đó cho thấy, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội dung sau :
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có tính thời hạn.
- Sự chuyển nhượng này kèm theo chi phí.
1.2.2 Phân loại
1.2.2.1 Dựa mục đích của TD

Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm
và hình thành bất động sản.
Cho vay phục vụ SXKD công thương nghiệp là loại cho vay để bổ sung vốn
lưu động cho các DN trong lónh vực công nghiệp, thương mại và dòch vụ.
Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như phân
bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu …
Cho vay tiêu dùng là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng của cá
nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền, trang trải các chi phí của đời sống.


14

Cho vay khác.
1.2.2.2 Dựa vào thời hạn TD
Cho vay ngắn hạn là loại cho vay có thời hạn đến 12 tháng và


15

thiếu vốn khách hàng sẽ lập khế ước nhận nợ mà không cần làm
giấy đề nghò vay vốn, hợp đồng TD mới. Thông thường, mỗi năm NH
sẽ xác đònh lại nhu cầu vay mới cho khách hàng.
Cho vay theo món cũng là loại cho vay như cho vay luân chuyển nhưng
khi khách hàng đã trả nợ xong thì không được tiếp tục vay lại mà phải
làm đơn đề nghò vay vốn mới và NH sẽ xem xét nhu cầu vay vốn này.

1.3 Rủi ro của hoạt động tín dụng trong
ngân hàng 1.3.1 Khái niệm
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của
ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả
được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng
còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn.
1.3.2 Nguồn gốc phát sinh rủi ro
Loại rủi ro này có thể phát sinh do những nguyên nhân khách
quan hoặc chủ quan từ khách hàng và ngân hàng.
1.3.2.1 Về phía khách hàng
Rủi ro TD phát sinh có thể do những nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Về
mặt chủ quan có thể do trình độ quản lý của khách hàng yếu kém dẫn đến sử dụng
vốn vay kém hiệu quả, sử dụng vốn vay sai mục đích làm ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ hoặc cũng có thể do khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ trong khi biện pháp
xử lý thu hồi nợ của NH tỏ ra kém hữu hiệu. Về mặt khách quan có thể do khách hàng
gặp phải những thay đổi của môi trường kinh doanh không thể đo lường trước được, chẳng
hạn như sự thay đổi về giá cả hay nhu cầu thò trường, về môi trường pháp lý hay chính
sách của chính phủ kiến DN lâm vào tình trạng khó khăn tài chính không thể khắc phục
được mặc dù có thiện chí nhưng vẫn không có điều kiện để trả nợ.



Tổng dư nợ cho vay
Hệ số rủi ro tín dụng =
Tổng tài sản có
Hệ số này cho thấy tỷ trọng của khoản mục TD trong tài sản có, khoản mục TD
trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro TD cũng rất cao.

1.4 Nội dung phân tích tín
dụng 1.4.1 Mục đích
Phân tích tín dụng là phân tích khả năng hiện tại và tiềm tàng của khách
hàng về sử dụng vốn tín dụng cũng như khả năng hoàn trả vốn vay ngân hàng.
Mục tiêu của phân tích tín dụng là giúp cho ngân hàng kiểm tra tính chính xác của
các thông tin do khách hàng cung cấp và đánh giá lại phương án sản xuất hoặc
dự án từ đó có nhận đònh về thái độ của khách hàng làm cơ sở quyết đònh
cho vay. Muốn ra quyết đònh cho vay, ngân hàng cần làm ba vấn đề sau :
- Thu thập đầy đủ và chính xác thông tin.
- Phân tích và xử lý thông tin thu thập được.


17
- Rút ra kết luận về khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng, cả gốc và lãi.

1.4.2 Các thông tin làm cơ sở để phân tích tín dụng
Để phục vụ cho việc phân tích TD cần phải có thông tin. Nguồn thông tin
để phân tích TD ở giai đoạn này rất phong phú và đa dạng cả về chủng loại
cũng như phương pháp thu thập. Điều cần quan tâm ở đây là chất lượng của
thông tin thu thập được vì chất lượng thông tin sử dụng cho quá trình phân tích TD
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả phân tích và từ đó ảnh hưởng đến
quyết đònh cấp TD. Chất lượng thông tin thể hiện ở ba thuộc tính sau : đầy đủ,
kòp thời, chính xác. Những thông tin này có thể nhận được từ :

- Tình hình tài chính của bản thân khách hàng.


18
- Tính khả thi và hiệu quả của phương án SXKD hoặc dự án đầu tư.
- Thái độ của khách hàng đối với việc hoàn trả nợ vay.

1.4.3.1. Phân tích tình hình tài chính của khách hàng
Phân tích tình hình tài chính của khách hàng là quá trình sử dụng các báo
cáo tài chính để phân tích và đánh giá tình hình tài chính của DN. Tài liệu dùng
cho phân tích gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo
lưu chuyển tiền tệ (nếu có) và thuyết minh báo cáo tài chính. Do đó, NVTD sẽ
dựa vào các báo cáo trên để tính toán ra các chỉ tiêu tài chính. Những chỉ tiêu
này được dùng để đo lường và đánh giá tình hình tài chính của DN. Có nhiều loại
chỉ tiêu tài chính khác nhau được chia thành nhóm mục tiêu phân tích như nhóm
chỉ tiêu thanh khoản, nhóm chỉ tiêu đòn bẩy tài chính, nhóm chỉ tiêu khả năng
hoàn trả lãi vay, nhóm chỉ tiêu hoạt động và nhóm chỉ tiêu thu nhập.



Nhóm chỉ tiêu thanh khoản

Khả năng thanh khoản của DN được đo lường bằng khả năng chuyển hóa thành
tiền của tài sản lưu động để thanh toán cho các trách nhiệm nợ ngắn hạn. Để đánh giá,

Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

người ta dùng hai chỉ tiêu sau :

Hệ số thanh toán hiện hành

Chỉ tiêu này phản ánh khả năng DN có thể thanh toán ngay các khoản
nợ ngắn hạn đến mức độ nào căn cứ vào những tài sản lưu động có khả
năng chuyển hóa thành tiền nhanh nhất. Chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt
nhưng nếu quá lớn cho thấy việc sử dụng vốn của DN kém hiệu quả.



Nhóm chỉ tiêu đòn bẩy tài chính :

Nhóm chỉ tiêu này sẽ đo lường mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của

DN, gồm hai chỉ tiêu sau :

Nợ ngắn hạn + nợ
dài hạn Tỷ số nợ so với vốn chủ sở hữu =
Vốn chủ sở hữu
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng nợ của DN và qua đó còn đo lường được
khả năng tự chủ tài chính của DN tức là cho thấy quan hệ đối ứng giữa vốn của DN với
vốn bên ngoài. Nếu tỷ số này càng lớn thì mức độ DN lệ thuộc vào nguồn vốn bên

ngoài lớn nên rủi ro sẽ rất lớn. Nợ ngắn hạn +

nợ dài hạn Tỷ số nợ so với tổng tài sản =
Tổng tài sản
Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng nợ để tài trợ cho toàn bộ tài sản của DN.

Khả năng
trả lãi =

Những khách hàng có tỷ số này quá lớn thì khả năng hoàn trả nợ vay giảm.

Giá vốn hàng bán bình quân một ngày

Kỳ thu tiền bình
quân =

Giá trò hàng tồn kho bình quân
- Chỉ tiêu hoạt động khoản phải thu : đánh giá chất lượng của khoản phải thu và
hiệu quả thu hồi nợ của DN, nó thường thể hiện ở dưới dạng kỳ thu tiền bình quân.

Giá trò khoản phải thu khách hàng bình quân
Doanh thu bình quân mỗi ngày
Chỉ tiêu này cho thấy thời hạn TD thương mại bình quân mà DN áp
dụng cho khách hàng của mình. Ngoài ra, nó còn được dùng để đánh giá
hiệu quả việc kiểm soát và qui mô các khoản phải thu của DN.
- Chỉ tiêu hoạt động khoản phải trả : chỉ tiêu này đo lường uy tín của DN trong

việc trả nợ đúng hạn.
Kỳ trả tiền bình quân =
- Chỉ tiêu hoạt động tổng tài sản : được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động
của tổng tài sản công ty. Hiệu quả hoạt động của tổng tài sản được đo lường bằng chỉ

tiêu vòng quay tổng tài sản rằng bình quân mỗi dồng giá trò tài sản tạo ra được bao
nhiêu đồng doanh thu.
Vòng quay tổng tài sản =


1

• Nhóm chỉ tiêu thu nhập


mục của bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh của một năm nào đó
được chọn làm gốc sau đó tính toán so sánh tất cả các khoản mục của bảng cân đối
tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh của những năm tiếp theo so với năm gốc.

1.4.3.2. Phân tích phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
* Đối với phương án sản xuất kinh doanh ngắn hạn : có hai vấn

đề cần lưu ý khi phân tích :
- Phân tích tình hình thò trường và dự báo doanh thu : đđiều kiện là NVTD phải am
hiểu về tình hình thò trường của sản phẩm hoặc ngành mà khách hàng đang hoạt động.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status