PHAN LÊ DUẨN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN
DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN HÀNG
HẢI HÀ NỘI
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. HÀ MINH SƠN
HÀ NỘI – 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục hình vẽ, đồ thị
2
BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
CP : Cổ phần
CSTD&QLTSĐB : Chính sách tín dụng và quản lý tài sản đảm bảo.
HĐQT : Hội đồng quản trị
NHTM : Ngân hàng Thương mại
NHHNN : Ngân hàng Nhà nước
MSB: Maritime Bank : Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Việt Nam
Maritime Bank Ha Noi : MSB HN: Ngân hàng TMCP Hàng Hải Hà Nội
GSTD&QLN : Giám sát tín dụng và quản lý nợ.
khác hoạt động tín dụng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, bởi vậy các ngân hàng
muốn tồn tại, phát triển thì cần phải có những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác quản lý rủi ro tín dụng thích hợp.
Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu công tác quản lý rủi ro tín
dụng và tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro tín dụng là hết
sức cần thiết. do vậy, đề tài “Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại
Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng Hải Hà Nội” được lựa chọn nghiên
cứu.
1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài.
- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng và quản
lý rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng
TMCP Hàng Hải Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng Hải Hà Nội
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng: Nghiên cứu rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của
ngân hàng thương mại.
- Phạm vi: Nghiên cứu hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng
TMCP Hàng Hải Hà Nội từ năm 2007 đến năm 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là
phương pháp phỏng vấn, điều tra nghiên cứu, thống kê, phân tích, tổng hợp và
so sánh.
5. Kết cấu luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng
thương mại
khách hàng và đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền cho họ.
3
+ Chức năng trung gian thanh toán: Ngân hàng làm trung gian thanh
toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích từ tài
khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền mau hàng hóa, dịc vụ hoặc nhập vào
tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu từ bán hàng và thu khác theo lệnh
của họ.
+ Chức năng làm trung gian tín dụng: Thông qua việc huy động các
khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ
cho vay rồi đem cho vay đối với nền kinh tế. Với chức năng này ngân hàng
vừa dóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay.
1.1.2. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại.
Với sự phát triển của kinh tế, khoa học công nghệ hiện đại, sự gia tăng
cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động của ngân hàng thương mại
ngày càng đa dạng. Sau đây là những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương
mại:
1.1.2.1. Huy động vốn.
Để đảm bảo đủ vốn thực hiện các hoạt động kinh doanh, ngoài vốn tự
có (thường chỉ chiếm dưới 10% tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại),
ngân hàng thương mại phải huy động vốn. Một trong những nguồn vốn huy
động quan trọng của ngân hàng là các khoản tiền gửi của khách hàng.
Nguồn huy động vốn tiếp theo là ngân hàng thương mại có thể vay vốn
từ ngân hàng Trung ương, các ngân hàng và trung gian tài chính khác hoặc
phát hành các chứng từ có giá để vay từ công chúng.
1.1.2.2. Tín dụng.
Đây là hoạt động cung ứng vốn của ngân hàng trực tiếp cho các nhu
cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện vay vốn của ngân
hàng. Tín dụng là hoạt động truyền thống của ngân hàng thương mại và đến
4
nay vẫn được coi là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng. Hoạt động này
hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách hàng (bên đi vay)
trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử
dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, khách hàng có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn.
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thương mại.
dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản của ngân hàng thương mại
và thu nhập từ tín dụng thường chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của ngân
hàng thương mại. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì
rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào danh mục
tín dụng. Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất
của các ngân hàng thương mại cũng như thanh tra ngân hàng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại có các đặc trưng sau:
- Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền.
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao
tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cở sở để tin rằng người đi vay sẽ trả
đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà
ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi quyết định cho vay.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói
các khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc.
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam
kết hoàn trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan
hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…thực chất là lệnh phiếu, trong
đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh
toán.
6
1.1.4. Một số loại hình tín dụng mà ngân hàng thương mại thực hiện.
1.1.4.1. Căn cứ theo mục đích cho vay.
Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng công nghiệp và thương mại: Là loại hình cho vay đối với
các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
có thể chia thành:
- Tín dụng không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy
tín của bản thân khách hàng. Loại hình cho vay này thường chỉ được áp dụng
đối với một số khách hàng tốt nhất và đã có quan hệ tín dụng lâu năm với
ngân hàng.
- Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu cầu
khách hàng phải có bảo đảm như thế chấp cầm cố tài sản hoặc phải có sự bảo
lãnh của người thứ ba. Loại hình cho vay này thường áp dụng đối với các
khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng. Sự bảo đảm này là căn cứ
pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ
nhất thiếu chắc chắn.
1.1.4.5. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả.
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả của khách hàng, hoạt động tín dụng
có thể chia thành:
- Tín dụng có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ
thể theo hợp đồng, bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ, cho vay có
nhiều kỳ hạn trả nợ.
- Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Đối với loại cho vay này ngân
8
hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng
phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thảo thuận trong hợp
đồng.
1.1.4.6. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng.
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu
vốn đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Tín dụng gián tiếp: Là loại hình cho vay được thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn
thanh toán. Các ngân hàng thương mại thường cho vay gián tiếp theo các loại
có hiệu quả.
Khi sử dụng vốn vay ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng
tín dụng, tức phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn, tôn trọng các điều kiện
khác đã ghi trong hợp đồng tín dụng, bằng các tác động như vậy đòi hỏi
doanh nghiệp phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm
chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn tạo điều kiện nâng cao doanh lợi cho
doanh nghiệp.
1.1.5.5. Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh
nghiệp nước ngoài.
Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền
với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương
tiện nối liền kinh tế các nước với nhau.
10
Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín
dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hoá, đồng
thời nhờ nguồn tín dụng bên ngoài để công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền
kinh tế.
1.1.6. Rủi ro tín dụng.
1.1.6.1 Khái niệm rủi ro tín dụng.
Rủi ro là vấn đề không được mong đợi trong tất cả các lĩnh vực trong
đời sống xã hội. Rủi ro có thể được hiểu một cách khái quát đó là khả năng
xảy ra các biến cố không lường trước, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế
khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa
sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp
nhận nó, không được né tránh nó. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng
vững trong cạnh tranh các doanh nghiệp phải đương đầu với rủi ro có thể xảy
ra bằng cách tiên liệu phán đoán các rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp
phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra
Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt
động ngân hàng thương mại thị trường tài chính. rủi ro tín dụng cũng là loại
thất tiềm năng có thể xảy ra do các bên đối tác trong hợp đồng tín dụng không
có khả năng hoặc không có đủ năng lực thực hiện nghĩa vụ của họ một cách
đầy đủ hoặc đúng hạn theo cam kết.
Như vậy rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng không trả, hoặc không
trả đầy đủ, hoặc không trả đúng hạn gốc và lãi cho ngân hàng. Nói một cách
khác rủi ro tín dụng là rủi ro mà bên vay trong một giao dịch không thực hiện
12
được theo thời hạn và điều kiện của hợp đồng làm cho người cho vay phải
gánh chịu tổn thất tài chính.
Như trên đã phân tích, rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng
nhất của ngân hàng thương mại - hoạt động tín dụng. Các khoản cho vay
thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có của ngân hàng thương
mại, mang lại phần lớn thu nhập cho ngân hàng, song cũng tiềm ẩn rủi ro lớn,
có khi dẫn đến phá sản ngân hàng. Trước khi cho vay, ngân hàng cố gắng
phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Nhìn
chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ
không xảy ra. Tuy nhiên không phải bao giờ ngân hàng cũng dự tính chính
xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị
thay đổi do nhiều nguyên nhân. Hơn nữa nhiều cán bộ tín dụng ngân hàng
không có khả năng thực hiện phân tích tín dụng thích đáng. Do vậy trên quan
điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là
khách quan. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong
kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế, chứ không thể loại trừ.
1.1.6.2. Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại.
a. Chỉ tiêu định tính.
Chúng ta có thể chia chỉ tiêu định tính thành các nhóm sau:
* Nhóm 1: Các chỉ tiêu liên quan tới mối quan hệ với ngân hàng, cụ thể:
Mức độ vay thường xuyên gia tăng, chậm thanh toán các khoản nợ gốc
và lãi, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cơ cấu nợ, yêu cầu các khoản vay
Biểu hiện cụ thể như : Sự thay đổi lãi suất, tỷ giá, thị hiếu trên thị trường,
sự bất ổn định trên thị trường trong thời gian gần đây, việc Việt Nam gia nhập
14
vào tổ chức WTO làm tăng tính cạnh tranh, xuất hiện nhiều đối thủ lớn,… hoặc
có thể thấy sự ảnh hưởng rõ rệt từ những thay đổi chính sách của Nhà Nước mà
đặc biệt là chính sách thuế, sự không ổn định trong hệ thống pháp luật cũng
dẫn đến rủi ro cho cả khách hàng và cho cả ngân hàng thương mại.
b. Chỉ tiêu định lượng.
* Tỷ lệ nợ quá hạn.
Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ mà người vay không có khả
năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn như hợp đồng tín dụng. Khi đáo hạn món
nợ này sẽ được chuyển sang nợ quá hạn.
* Tỷ lệ nợ xấu.
Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 24/4/2005 của Thống đốc
NHNN “ v/v ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD” đã đánh
giá chính xác hơn chất lượng tín dụng của các TCTD qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ
xấu.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém
và ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 5% thì chấp nhận được và tỷ lệ này
càng nhỏ hơn 5% càng tốt.
Theo quyết định 493 thì dư nợ trong ngân hàng thương mại được chia
làm 5 nhóm và chỉ có nhóm nợ 3,4 và 5 được đưa vào nợ xấu.
Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn:
Các khoản nợ trong hạn, có khả năng thu hồi đủ cả gốc và lãi đúng thời
hạn. Các khoản nợ của khách hàng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo kỳ hạn đã
được cơ cấu lại tối thiểu trong vòng 1 năm đối với các khoản nợ trung và dài
hạn, 3 tháng đối với các khoản nợ ngắn hạn và các kỳ hạn tiếp theo được đánh
giá là có khả nâng trả đầy đủ nợ gốc, lãi đúng hạn theo thời hạn đã được cơ
cấu lại thì phân loại vào nợ nhóm 1.
tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng có thể
gặp phải càng cao. Công thức:
Tỷ lệ DPRR đã trích lập = Dự phòng rủi ro đã trích lập
Tổng dư nợ
NHTM thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng
giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 qui định tại điều 6 hoặc điều 7
quyết định 493 để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
* Tỷ lệ bù đắp rủi ro.
Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN trích lập và sử dụng dự phòng
để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng thì các trường hợp sau được sử
dụng quỹ dự phòng để xử lý RRTD:
- Khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo qui
định của pháp luật, cá nhân bị chết hoặc mất tích.
- Các khoản nợ thuộc nhóm 5 được qui định tại điều 6 và điều 7 quyết
định 493.
Công thức tính:
Tỷ lệ bù đắp rủi ro = Dự phòng rủi ro đã bù đắp
Tổng dư nợ
1.1.6.3. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng.
a. Nguyên nhân khách quan.
Các cán bộ tín dụng ngân hàng phải được đặt vào một tình trạng phân
tích người vay tương lai theo các điều kiện hiện tại và quá khứ: Phân tích các
kỹ năng quản lý, tình hình sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính, quá khứ
của việc hoàn trả nợ, uy tín, mức độ cạnh tranh trên thị trường và thị
phần...những nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Tuy nhiên tình huống ở
tương lai là một điều chưa được biết, tương lai có thể mang đến các khó khăn
17
bất ngờ, điều này sẽ dẫn đến những khả năng có thể xảy ra rủi ro tín dụng
trong tương lai.
Sự tác động của môi trường bên ngoài thường khó dự đoán, vượt quá
- Môi trường tự nhiên.
Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng tới hoạt động
sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự
nhiên là yếu tố khó dự đoán, nó thường xảy ra bất ngờ với thiệt hại lớn nằm
ngoài tầm kiểm soát của con người. Vì vậy khi có thiên tai, địch hoạ xảy ra
khách hàng cùng ngân hàng sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án kinh doanh
không có nguồn thu… điều đó đồng nghĩa với ngân hàng phải cùng chia sẻ
rủi ro với khách hàng của mình. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên, đặc biệt
là những thảm hoạ tự nhiên là khó dự đoán, khó phòng ngừa và khi rủi ro xảy
ra thì ngân hàng và khách hàng phải gánh chịu tổn thất
- Môi trường kinh tế xã hội.
Môi trường kinh tế xã hội trong nước biến động chịu ảnh hưởng của
những biến động từ nền kinh tế thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh
vực của nền kinh tế trong đó ngân hàng là ngành chứa đựng nguy cơ rủi ro
lớn nhất. Môi trường kinh tế có ảnh hưởng rất lớn đến sức mạnh tài chính của
người vay và thiệt hại hay thành công của người vay. Trong giai đoạn kinh tế
phát triển, người vay hoạt động hiệu quả nhưng trong giai đoạn khủng hoảng
khả năng trả nợ của người vay sẽ bị giảm sút. Thông thường, các khoản cho
vay khó được thu hồi trong trường hợp khủng hoảng kinh tế xảy ra.
Bên cạnh đó hoạt động kinh doanh tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào
thói quen, truyền thống, tập quán của người dân. Những yếu tố đó nhiều khi
19
gây khó khăn và hạn chế việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Những tác động của môi trường bên ngoài tới người vay làm cho họ bị
tổn thất tài chính dẫn đến việc không thực hiện được đầy đủ hoặc đúng hạn
cam kết trả nợ gốc và lãi đối với ngân hàng thậm chí là mất khả năng thanh
toán đi đến phá sản hoặc giải thể.
b. Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn.
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh,
mong đợi, vì chủ đầu tư sẽ có được những khoản lợi nhuận rất lớn nếu dự án
thành công, trong khi những người cấp tín dụng chỉ nhận được một khoản lợi
ích cố định. Ngược lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay sẽ bị mất một phần
hoặc toàn bộ vốn do không được hoàn trả đầy đủ.
c. Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.
* Quan điểm của lãnh đạo điều hành.
Ban lãnh đạo ngân hàng thường đề ra mức rủi ro tối đa có thể chấp
nhận được trong mỗi thời kỳ (khẩu vị rủi ro). Do rủi ro càng cao thì lợi nhuận
kỳ vọng càng lớn, nên có một số ngân hàng chấp nhận cho vay những dự án
mạo hiểm để thu về lợi nhuận cao. Nếu ngân hàng thương mại có quan điểm
đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên nhất thì cơ chế quản lý sẽ khuyến khích và tạo
điều kiện để bộ phận có liên quan tìm kiếm, quyết định những khoản cho vay,
đầu tư có thu nhập kỳ vọng cao nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn; đồng thời các quy
định về kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt là tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá khi
quyết định cho vay cũng sẽ thấp hơn trong khi tiêu chí về khả năng sinh lời
rất được coi trọng. Trường hợp ngược lại nếu quan điểm kinh doanh lấy an
toàn làm chính thì các quy định về cơ chế quản lý tài sản trong việc thẩm
định, xem xét trước khi ra quyết định cho vay, đầu tư sẽ chặt chẽ hơn, cụ thể
21