B. NỘI DUNG CÂU HỎI TỰ LUẬN, DẠNG BÀI TẬP TÌNH
HUỐNG
(Học phần: Pháp luật Đại cương khóa 12)
1. I.
Nội dung câu hỏi tự luận
1. Thực hiện pháp luật:
-
Nêu khái niệm, cho ví dụ Các hình thức thực hiện pháp luật
Nêu khái niệm các trường hợp cần áp dụng pháp luật
1. Vi phạm pháp luật, cấu thành VPPL
-
Nêu khái niệm vi phạm pháp luật, các dấu hiệu nhận biết
Nêu khái niệm các loại lỗi.
1. Hệ thống pháp luật:
-
Khái niệm và những nguyên tắc cơ bản pháp chế XHCN
1. Một số nội dung cơ bản của Luật chuyên ngành:
-
Khái niệm nội dung quyền sở hữu.
Quyền của người lập di chúc.
Phân loại tội phạm và tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Khái niệm những trường hợp không được coi là tội phạm.
- Phần tài sản của họ trong khối tài sản chung với người khác, có thể là sở
hữu chung hợp nhất hoặc sở hữu chung theo phần.
- Các quyền tài sản .v.v.
- Trong trường hợp họ có tài sản chung với người khác thì cũng cần phải
phân định phần tài sản của họ trong khối tài sản chung đó (Điều 634, Bộ
Luật Dân sự (BLDS) năm 2005). Việc xác định phần tài sản của họ trong
khối tài sản chung có thể dựa trên những thoả thuận đã có từ trước hoặc
căn cứ theo văn bản do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
- Ví dụ: Theo pháp luật của Việt Nam, ngoại trừ việc vợ chồng tự thoả
thuận tài sản riêng và tài sản chung thì toà án là cơ quan có quyền tiến
hành phân định phần tài sản của vợ và chồng trong khối tài sản chung
hợp nhất trên cơ sở có yêu cầu của họ (Điều 29, Luật Hôn nhân và gia
đình).
- Ngoài ra, theo quy định tại Điều 27, Luật Hôn nhân và gia đình thì tài
sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao
động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác
trong thời kỳ hôn nhân…. Một điểm cần lưu ý là đối với những tài sản
mà họ có trước thời kỳ hôn nhân chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có
thoả thuận. Điều 95, Luật Hôn nhân gia đình công nhận về mặt nguyên
tắc, tài sản chung của vợ chồng có trong thời kỳ hôn nhân sau khi chấm
dứt hôn nhân (một trong 2 người chết hoặc ly hôn) thì được chia đôi.
- Tài sản thừa kế riêng, tặng cho riêng của vợ hoặc chồng thì được coi là
tài sản riêng của người đó.
- Tài sản chung của vợ chồng nếu có thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân
thống nhất chia đôi, thì sau khi có quyết định của tòa án về chia tài sản
chung thì tài sản được chia đó là tài sản riêng của mỗi người. Lợi nhuận,
lợi tức thu được từ tài sản được chia đó cũng là tài sản riêng.
- Chú ý: khi chia tài sản chung của vợ chồng để xác định khối tài sản
di chúc dành toàn bộ di sản này cho D là con riêng của A. ở đây B và C
thuộc đối tượng hưởng di sản mà không phụ thuộc theo di chúc, được
một suất bằng 2/3 của một suất chia theo pháp luật.
Nếu chia theo pháp luật ở trường hợp này những người ở hàng thừa kế
thứ nhất của A là 3 người B,C, và D, mỗi người sẽ nhận một phần là:
900 : 3 = 300 triệu.
Khi đó B, C sẽ nhận được 2/3 suất của 200 triệu là: 300*2/3 = 200 triệu
đồng.
Số tiền còn lại D được nhận là: 900-(200*2)=500 triệu
3.6. Thừa kế thế vị
Ví dụ: A và B có 3 người con là X,Y,Z. X năm 2007 không may tai nạn
để lại 2 con là G,H. Năm 2010 A chết không để lại di chúc, thì khi đó
G,H sẽ được nhận một suất chia theo pháp luật thay cho cha mình là Z
được hưởng nếu còn sống.
3.7. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền
thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười
năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người
thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể
từ thời điểm mở thừa kế.
3.8. Bài tập thừa kế mẫu:
Hai vợ chồng A và B lấy nhau, tổng tài sản là 1 tỷ 600 triệu đồng. B có
tài sản riêng là 900 triệu đồng. Hai vợ chồng có 3 người con: C: 20 tuổi,
D: 21 tuổi, E: 22 tuổi. B chết, B có lập di chúc hợp pháp: Để lại cho M 50
triệu đồng, tặng cho hội từ thiện 50 triệu đồng. Vậy phải chia thừa kế của
B như thế nào ?
Trả lời: Theo điều 27 khoản 1 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000,
tổng tài sản là 1 tỷ 600 triệu đồng sẽ được xác định là tài sản chung trong
chấp về đất đai. Vào lúc 22h00’ ngày 07/04/2010 trong một lần cãi nhau
về việc tranh chấp này A cho rằng B xây lấn sang đất Nhà, anh B đã bị
anh A dùng gậy đánh thương tích với tỉ lệ thương tích sức khỏe là 25%.
Hành vi của anh A đã bị bắt giữ và xử lý trước pháp luật. Hỏi: Xác định
vi phạm pháp luật của anh A? Phân tích cấu thành của vi phạm pháp luật
trên?
Đáp: Hành vi của A Cấu thành tội phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo
điều 104 BLHS 1999 trong trường hợp này như sau:
1. Khách thể của tội phạm:
Hành vi cố ý gây thương tích xâm phạm đến sức khoẻ, thân thể của người
khác, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khoẻ của
con người. Cụ thể là xâm phạm đến tính mạng sức khỏe của B mà Nhà
nước bảo vệ.
2. Mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi khách quan: Là hành vi cố ý dùng gậy đánh người khác, gây
tổn hại cho sức khoẻ của người đó.
- Hậu quả: Gây thương tích (hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ) người khác
25%.
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm:
Hành vi dùng gậy đánh là nguyên nhân trực tiếp gây ra tổn hại 25% sức
khoẻ của người khác.
- Công cụ phạm tội: Chiếc gậy là công cụ phạm tội
Lưu ý: trong quá trình làm bài sinh viên bắt buộc trình bày đầy đủ 3
yếu tố cơ bản của Mặt khách quan đó là hành vi khách quan, hậu quả,
mối quan hệ nhân quản giữa hành vi và hậu quả!
3. Mặt chủ quan của tội phạm:
- Là lỗi cố ý trực tiếp: A nhận thức rõ tính chất của hành vi dùng gậy
đánh người là nguy hiểm, hành vi đó có thể gây ra tổn hại cho sức khoẻ
của B và A mong muốn gây ra tổn hại cho sức khoẻ của B.
Lưu ý: phần bắt buộc phải xác định trong Mặt chủ quan đó là lỗi
thừa kế có nghĩa vụ trong việc trả nợ hay nghĩa vụ tài chính khác thì phải
trừ các khoản tiền này trước khi chia (tiền nợ, chi phí chung trong việc
bảo quản sửa chữa tài sản chung, chi phí mai táng…). (0,75 điểm)
c. Chia di sản (0,75 điểm, nếu không có phần xác định thời điểm mở di
sản thừa kế thì 1.0 điểm)
- Chia theo di chúc: ưu tiên lấy di sản thừa kế chia theo di chúc trước.
Trường hợp chia di sản cho những người không phụ thuộc vào nội dung
di chúc: nếu phát hiện có trường hợp này thì cần chia cho những người
này trước theo đúng quy định sau đó còn lại bao nhiều mới chia.
- Chia theo pháp luật: phải xác định những người cùng hàng thừa kế
được nhận di sản (số lượng người được hưởng và lập luận vì sao?)
- Kết luận: số tài sản mỗi người nhận được từ người chết theo đề bài đưa
ra (cộng số tiền chia theo di chúc với số tiền chia theo pháp luật nếu có).
Sinh viên thường nhầm lẫn, ở đây chỉ yêu câu xác định số tài sản nhận từ
người chết chứ không bao gồm số tài sản đương nhiên của họ. (0,25
điểm)
1. II. DẠNG BÀI TẬP XÁC ĐỊNH CẤU THÀNH TỘI
PHẠM (2,0 điểm)
Sinh viên phải làm đầy đủ các bước và nội dung sau đây:
1. Xác định tội danh: phần này chiếm 0,25 điểm,
2. Phân tích các mặt cấu thành tội phạm:
a. Mặt khách quan: (0,75 điểm)
Sinh viên phải chỉ ra được các yếu tố sau:
- Hành vi phạm tội (hành vi khách quan)
- Hậu quả của hành vi đó
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả xảy ra: nếu tình huống
đã rõ ràng sinh viên chỉ cần nhấn mạnh lại là việc hậu quả xảy ra nêu trên
là do hành vi khách quan gây ra…
đường bộ trực tiếp xâm hại tới 3 loại quan hệ xã hội, đó là:
+ Xâm phạm đến sự an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương
tiện giao thông đường bộ.
+ Xâm phạm quan hệ về tính mạng, sức khoẻ của người khác
+ Xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản của người khác.
Khách thể Tội hối lộ, nhận hối lộ trực tiếp xâm sự hoạt động đúng
đắn của các cơ quan Nhà nước tổ chức xã hội.
Cau 1:
Do mâu thuẫn nên anh K bỏ thuốc trừ sâu vào bể nước nhà anh B nhằm
đầu độc cả gia đình anh B . Kết quả là cả gia đình anh B bị ngộ độc , anh
B qua đời . Việc làm của anh K có được coi là vi phạm pháp luật ko ? tại
sao
Anh K đã vi phạm pháp luật vì:
1.Hành vi của anh K là xác định: anh ta bỏ thuốc trừ sâu vào bể nước nhà
anh B n nhằm đầu độc cả gia đình anh B.
2.Hành vi đó trái pháp luật, gây hậu quả là cả gia đình anh B bị ngộ độc ,
anh B qua đời.
3.Hành vi đó có yếu tố lỗi mà cụ thể là lỗi cố ý trực tiếp: anh K nhận thức
rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy rõ hậu quả hành vi
và anh ta mong muốn hậu quả xảy ra.
4.Anh K là chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp luật.
Anh K phải chịu trách nhiệm hình sự.
Cau 2:
A sinh ngày 15.09.1970, nhận thức bình thường. Do mâu thuẫn cá nhân,
vào lúc 22H00 ngày 15.09.2007 trên đường đi làm về, anh B đã bị anh A
dùng gậy đánh thương tích với tỉ lệ thương tích sức khỏe là 15%. Hành vi
của anh A đã bị bắt giữ và xử lý trước pháp luật.
- Xác định vi phạm pháp luật của anh A ?
hành vi khách quan, mức độ nguy hiểm của các vị trí bị đánh...
4. Chủ thể của tội phạm:
A là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chịu trách
nhiệm về hành vi cố ý gây thương tích của mình.
* Nếu chiếc gậy là hung khí nguy hiểm (gậy to, nặng, có góc cạnh...có thể
dễ dàng gây thương tích) thì A sẽ bị khởi tố theo khoản 2 Điều 104
BLHS.
* Nếu chiếc gậy không bị coi là hung khí nguy hiểm, và hành vi của A
không thuộc một trong các trường hợp quy định thêm tại khoản 1 Điều
104 BLHS thì A chỉ bị khởi tố theo khoản 1 Điều 104 BLHS, A chỉ bị
khởi tố khi B có đơn yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án.
Cau 3:
Bác sĩ Thành sau khi khám bệnh cho chị Lan, vì quá chủ quan và tự tin về
chuyên môn nên đã kê toa và bốc thuốc nhầm nhưng không hề hay
biết.Sau khi uống thuốc nói trên, chị Lan đã tử vong ( cái chết được xác
định từ nguyên nhân uống nhầm thuốc).
==> Hãy xác định yếu tố lỗi và trách nhiệm mà bác sĩ Thành phải chịu???
Lỗi ở đây là lỗi vô ý làm chết người do vi phạm các quy tắc nghề nghiệp.
Người phạm tội như tình huống nêu trên do đã quá chủ quan và tự tin về
chuyên môn nên đã kê nhầm thuốc. Quá tự tin ở đây được hiểu là người
phạm tội nhận biết được tính nguy hiểm về hậu quả nếu xảy ra và lẽ ra
phải đảm bảo các quy tắc nghề nghiệp đảm bảo an toàn tính mạng sức
khỏe cho người chữa bệnh nhưng do quá tự tin vào khả năng của mình
nghĩ rằng hậu quả đó sẽ không thể xảy ra nên đã bốc nhầm thuốc gây hậu
quả nghiêp trọng.
Do đó lỗi ở đây là vô ý do quá tự tin.
Về trách nhiệm: Hậu quả chết người có nguyên nhân trực tiếp từ việc bốc
nhầm thuốc nên tức là đã xâm phạm đến tính mạnh của người khác.
căn cứ vào các dấu hiệu pháp lý có thể kết luận ông Thành phạm Tội vô ý
làm chết người do vi phạm các quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành
tội do bị khiêu khích, vì không nói rõ là khiêu khích như thế nào nên
mình ko coi đó là tình tiết giảm nhẹ.
- Tình tiết tăng nặng: Tái phạm nguy hiểm (điểm g, khoản 1, điều 48),
đây là tình tiết tăng nặng TNHS
2) Tổng hợp hình phạt theo khoản 2, điều 51: Hình phạt của A=12 + 152=25 năm.
3) Các vấn đề khác cần giả quyết: A (thực chất là gia đình của A) phải
bổi thường cho người bị hại thêm 4tr200 ngàn đồng (khoản 2, điều 42)
Cau 5:
Bài tập 4: A là người 17 tuổi, đồng phạm trong vụ án trộm cắp tài sản và
bị đưa ra xét xử theo khoản 1 điều 183 BLHS.Xét mức độ tham gia của A
trong vụ án còn hạn chế, hoàn cảnh cơ nhỡ không có cha mẹ , không gia
đình nên tòa án quyết định không áp dụng hình phạt tù đối với A.Hội
đồng xét xử đưa ra 2 ý kiến:
1.Phương hướng thứ 1 là tuyên cảnh cáo đối với A và đưa A và đưa A
vào trường giáo dưỡng với thời hạn là 2 năm
2.Phương án thứ 2 là không tuyên cảnh cáo mà chỉ áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng với thời hạn là 2 năm .
Hỏi :Nếu bạn rơi vào tình huống này ,phương án nào được bạn lựa
chọn .Chỉ rõ cơ sở sự lựa chọn của bạn?
Theo mình thì chỉ áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
Căn cứ pháp lý: khoản 1, khoản 4 điều 69.
Cau 6
Trong khi Hòa và Bình chơi với nhau , bé Hòa ( đang học lớp 3 ) đã đánh
nhau với bè BÌnh ( học lớp 5 ) .Do hòa yếu hơn nên đã bị Bình vật ngã .
Do bực tức , Hòa đã dùng dao chém vào đầu Bình làm Bình bị thương
nặng
Hãy cho biết : Hành vi của Hòa có bị coi là vi phạm pháp luật hay ko ? tại
sao ?
20 năm. Hỏi:
a.Tổng hình phạt chung anh ta phải chấp hành?
b. thực tế anh ta sẽ phải chịu mức án bao nhiêu năm?
c. Giả sử tòa tuyên anh ta tù chung thân, thì mức án chung là gì?
Câu 3: Anh A có ý định giết anh P.A đã đi mua một con dao thái lan và
đnag trên đường đi đến nhà P để giết P thì bị công an bắt giữ.
a.Hành vi của A thuộc giai đoạn phạm tội nào.
b.A không có các tình tiết tăng nặng định khung, tòa xử A 8 năm tù là
đúng hay sai.Tại sao
c.A có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại điều 46 BLHS.Tòa xử A 6 năm tù.Nêu
căn cứ pháp lí?
Câu 4: Những khẳng định sau đây đúng hay sai?
a. Tính trái pháp luật Hình sự là dấu hiệu quan trọng nhất của tội phạm
b. An đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội không được tính
để xét tái phạm và tái phạm nguy hiểm
c. Một người có thể bị tuyên án phạt tù đến 30 năm
ông A kết hôn với bà B năm 1952sinh ra anh C (năm 1954) chị D (1956).
Năm 1965, ông A và bà B phát sinh mâu thuẫn và đã ly hôn. họ thống
nhất thỏa thuận bà B nhận cả ngôi nhà đang ở (và nuôi chị D), ông A
nhận nuôi anh C và được chia một số tài sản trị giá là 20 triệu đồng. năm
1968 ông A dùng số tiền trên để xây dựng 1 căn nhà khác.Tháng 9/1970
ông A kết hôn với bà T sinh ra được 2 người con là E (1972) vÀ F
(1978).Hai ông bà sống trong căn nhà mới này và ông A tuyên bố nhà là
của riêng không nhập vào tài sản chung.
Tháng 10/1987 ông A chết để lại di chúc hợp pháp cho anh C hưởng 1/2
di sản của ông. Riêng ngôi nhà ông để lại cho bà T dùng làm nơi thờ cúng
mà không chia thừa kế. Tháng 1/1991, anh C yêu cầu bà T chuyển nhà
cho mình nhưng bà không chịu nên anh C đã hành hung gây thương tích
cho bà T. Đến thangs 5/2001, chị D có đơn gửi tòa án yêu cầu chia di sản
thừa kế của bố. Qua điều tra xác định: ngôi nhà của ông A trị giá 30 triệu
cho đến thời điểm ông Khải chết là 1.2tỷ, sau khi ông Khải chết, bà Ba
còn tạo lập một căn nhà trị giá 300triệu
Giải:
Tình huống của bạn có vài chỗ không ổn, này nhé:
- Thứ nhất, anh Dũng di chúc toàn bộ tài sản lại cho anh Hải, vậy có
nghĩa là không có tên chị Ngân trong di chúc của anh Hải, vậy tại sao lại
có chj chị Ngân từ chối hưởng tài sản anh Dũng để lại?
- Thứ hai,"các con người em ruột của chồng tên Lương", chỗ này bạn viết
như thế người đọc dễ hiểu nhầm, theo P hiểu thì đó là các con của bà Ba
và người em ruột của chồng tên là Lương.
Rắc rối nhỉ. Theo P, khi ông Khải chết đã di chúc lại toàn bộ tài sản của
mình trong khối tài sản chung của 2 ông bà cho con gái và cháu ngoại,
như vậy một số tài sản của ông Khải (tạm xác định là 1/2x1,2t tỷ) sẽ được
chia đều cho con gái vá cháu ngoại, mỗi người 300 triệu.
vậy, sau khi thực hiện di chúc của ông Khải, số tiền còn lại thuộc tài sản
của bà Ba là 600 + 300 = 900 triệu. Bà Ba chết để lại tài sản cho các con
và người em ruột của chồng là Lương (tổng cộng 4 người), vậy số tiền
900 triệu sẽ được chia đều tiếp cho 4 người, mỗi người 225 triệu.
Anh Dũng thừa kế từ bà Ba 225 triệu, sau khi anh chết, di chúc toàn bộ
tài sản này cho anh Hải, vậy anh Hải được hưởng thêm số tài sản này.
Nhưng anh Hải từ chối hưởng di sản của bà Ba và anh Dũng, vì vậy còn
dư ra 500 triệu. 500 Triệu này theo P sẽ được chia tiếp theo pháp luật,
theo hàng thừa kế thứ nhất gồm chị Ngân, vợ con anh Hải (nếu có)
BT2: Năm 1972, Ô A kết hôn với bà B. Ô bà sinh được 3 con là M, N, C.
Năm 1995, M kết hôn với E sinh được H & X. N lấy chồng sinh được con
là K & D. Tháng 3/1997 Ô A chết để lại di chúc cho X & N. Qua quá
trình điều tra thấy rằng Ô A lập di chúc không hợp pháp. Biết rằng tài sản
nhiêu nên ta xem bằng 0.
Năm 1993 ông A mất và có lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho anh T.
Tài sản của ông A và bà B có được là 500
Tài sản của ông A và bà C đề bài không nêu nên ta xem như bằng 0.
Di sản của ông A là 500/2=250.
250 chính là giá trị tài sản mà ông A có quyền định đoạt.
Tài sản của anh T được hưởng là 250. Tuy nhiên theo quy định pháp luật
thì những người sau đây được hưởng thừa kế gồm bà B và bà C mỗi
người được hưởng 2/3 giá trị của một suất chia theo pháp luật.
Người được hưởng thừa kế chia theo pháp luật gồm bà B, bà C, anh T, Q,
X, Y: 250/6=41,6
Như vậy bà B=bà C=2/3 (250/6)=27,7
Tài sản của anh T còn lại là 250-(27,7x2)=194,6
Các trường hợp còn lại không được hưởng vì X đã mất, Y, Q đã thành
niên và không bị mất năng lực hành vi.
BT4: Ô A kết hôn với bà B sinh được 5 người con. Anh con cả đã chết để
lại 2 con: 1 trai & 1 gái đã thành niên. Gia tài của Ô bà gồm 2 ngôi nhà: 1
ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng, 1 cái trị giá 200 triệu đồng. Trước khi
chết Ô A lập di chúc cho bà B một ngôi nhà trị giá 100 triệu đồng. Biết
đứa con trai út của Ô bà đã sinh được 1 cháu trai đã thành niên. Sau đó
anh con trai út này đã bị tai nạn & bị tâm thần. Anh (chị) hãy chia tài sản
của ông A?
Giải: Theo đề bài ta thì tài sản chung của ông A và bà B là 300
Di sản của ông A là 300/2 = 150
ông A để lại cho bà B 100
Như vậy giá trị tài sản còn lại sẽ được chia theo pháp luật là 150-100=50
Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật gồm bà B và 05 người
con; do anh con cả mất nên theo Đ677, Luật DS thì 02 con của anh cả sẽ
được hưởng thừa kế kế vị
Mỗi người được hưởng là 50/6=8,33
+ Chia theo di chúc: Thủy=Sơn=Xuân=1220/3=406.6tr
+Giả sử toàn bộ tài sản được chia theo pháp luật
1 suất thừa kế theo pl=305tr
1 suất thừa kế bắt buộc=2*305/3=203.3tr
Minh=yến=203.3tr
Thủy= sơn= xuân= (1220-203.3*2)/3=271.1tr
BT6
-Du và Miên là 2 vợ chồng, có 3 con chung là Hiếu -1982, Thảo và Chi
sinh đôi -1994.
Do bất hòa, Du và Miên đã ly thân, Hiểu ở với mẹ còn Thảo và Chi sống
với bố.
Hiếu là đứa con hư hỏng, đi làm có thu nhập cao nhưng luôn ngược đãi,
hành hạ mẹ để đòi tiền ăn chơi, sau 1 lần gây thương tích nặng cho mẹ,
hắn đã bị kết án.
năm 2007 Bà Miên mất, trước khi chết bà miên có để lại di chúc là cho
trâm là e gái 1 nửa số tài sản của mình.
Khối tài sản chung của Du và Miên là 790 triệu
1. Chia thừa kế trong tr hợp này
2. Giả sử cô Trâm khước từ nhận di sản thừa kế, di sản sẽ phân chia thế
nào.
Giải:
Tài sản của bà miên = 790/2=395tr
Do Hiếu bị tước quyền thừa kế nên những người thừa kế theo pháp luật
của bà Miên gồm: ông Du, Thảo, Chi
chia theo di chúc: Trâm=395/2=197.2tr
còn lại là 197.2 tr không được định đoạt tron di chúc nên cia theo pháp
luật như sau: ông Du= Thảo= Chi=197.2/3=65.8tr
Giả sử toàn bộ tsản được chia theo pl: 1 suất tkế theo pl=395/3=131.67tr
NTK theo pháp luật của bà lâm : ông sáu, hoa, hậu
Theo di chúc hoa được hưởng =(90*2)/3=60tr
di sản con lại là 30tr không được định đoạt trong di chúc sẽ được chia
theo PL
ông sáu=hoa=hậu=30/3=10tr
giả sử toàn bộ di sản của bà lâm được chia theo PL:
1STK=90/3=30tr
1STK bắt buộc=30*2/3=20tr >10tr ( ông sáu,hậu(16tuổi) được hưởng
theo điều 669) mỗi suất thiếu 10tr sẽ được trừ vào phần của hoa
vậy ông sáu=hậu=20tr,hoa=50tr
+Năm 1998 Hoa chết
di sản của hoa 50tr
NTK theo pl của hoa là :ông sáu,khôi,bôn
do hoa chết không để lại di chúc nên sẽ được chia theo pl
ông sáu=khôi=bôn=50/3=16.67tr
+Năm 2000 ông sáu chết
di sản của ông sáu:90+80/2+20+16.67-5=161.67 tr
NTK theo pl của ông sáu là:bà son,hoa(bôn thế vị),hậu,tấn,thanh
theo di chúc: Bôn =161,67*2/3=107,78 tr
di sản còn lại 53,89 tr di chúc không định đoạt sẽ được chia theo PL:
53,89/5=10,78 tr
Giả sử toàn bộ di sản của ông sáu sẽ được chia theo PL
1STK=161,67/5=32,33tr
1STK bắt buộc=32,33*2/3=21,56 tr( bà son =tấn(17tuổi)=thanh(15tuổi)
theo điều 669) >10,78tr (mỗi người thiếu 10,78tr sẽ được trích từ phần
của bôn)
vậy bà son= tấn= thành= 21,56tr
hoa (bôn thế vị)=hậu=10,78tr
Bôn = 75,43tr
-5 ngày sau khi anh Hải chết , ông Phong cũng qua đời .
-Chị Dương đã kiện tới toà án yêu cầu giải quyết việc phân chia di sản
thừa kế .
-Biết rằng :
+tài sản chung của anh Hải và chị Thịnh là 2400 triệu đồng
+tài sản của ông Phong ở quê là 600 triệu đồng .
-giải quyết vụ việc trên ?
-Giả sử :
+ Anh Hải có di chúc hợp pháp để lại toàn bộ tài sản của mình cho cô
dương
+Cả anh Hải và ông Phong đều chết cùng thời điểm trong bệnh viện( cái
này khác với phía trên vì bài tập gồm nhiều phần nên em cứ đánh cả phần
ông P chết sau a Hải 5 ngày )
Tài sản của 2 người sẽ được phân chia như thế nào ?
Giải :
- Đầu tiên, di chúc của anh Hải hoàn toàn hợp pháp (Trong trường hợp
này là được những người làm chứng ghi chép lại và kí tên, trong thời hạn
5 ngày đã có công chứng khi di chúc miệng được người di chúc thể hiện
ý chí cuối cùng).
Xét 2 trường hợp xảy ra:
+ Thứ nhất: Anh Hải chết trước ông Phong
Di sản chia theo di chúc nhưng vẫn chia cho người thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung di chúc (Điều 669)
Thì hàng thừa kế thứ nhất có 4 suất: Ô Phong, chị Thịnh, Hạ và Long
(Chưa thành niên). Mỗi người sẽ nhận 2/3 mỗi suất = (2/3) x (1200/4) =
200tr (Trích từ phần hưởng di sản của chị Dương)
Vậy di sản anh Hải sẽ chia như sau:
Phong = 200tr
Long = 600/4 = 150tr
Phân chia di sản của anh Hải:
Di sản chia theo di chúc nhưng vẫn chia cho người thừa kế không phụ
thuộc vào nội dung di chúc (Điều 669).
Thì hàng thừa kế thứ nhất có 3 suất: Chị Thịnh, Hạ và Long (Chưa thành
niên). Mỗi người sẽ nhận 2/3 mỗi suất = (2/3) x (1200/3) = 800/3tr (Trích
từ phần hưởng di sản của chị Dương)
Vậy di sản anh Hải sẽ chia như sau:
Thịnh = 800/3 tr
Hạ = 800/3 tr
Long = 800/3 tr
Dương = 1200 - 3x800/3 = 400 tr
Tóm lại, trường hợp 2:
Thịnh = 1200 + 800/3 = 4400/3tr
Hạ = 800/3 + 150 = 1250/3tr
Long = 1250/3tr
Dương = 400tr
Sơn = 300tr
BT 10 : Ông A và bà B có 3 người con là C,D,E. tài sản chung của ông A
và bà B là ngôi biệt thự trị gía 3.6tỷ VĐN. Năm 2003 ông A lập di chúc
với nội dung: “Để lại 1/3 di sản cho vợ và các con. 1/3 di sản cho E quản
lý để lo cho việc thờ cúng. 1/3 di sản còn lại di tặng cho bà H”. Hãy giải
quyết tranh chấp thừa kế giữa các bên trong các tình huống sau:
+ Năm 2006 di sản của ông A được phân chia cho các thừa kế. Trước khi
chi di sản thừa kế của ông A, ông M đã xuất trình một biên nhận vay tiền
có chữa ký của ông A, để ngày 01/01/2005, với nội dung ông A vay của
ông M số tiền là 300tr đồng.
như con ruột, nuôi dưỡng và cho 2 người ăn học đến lớn.
Hòa kết hôn với Thuận có con là Thảo.
Xuân kết hôn với Thu có con là Đông.
Hòa bị tai nạn chết vào năm 1998. Ông thịnh bệnh chết vào năm 1999.
Xuân cũng chết vào năm 2000. Sau khi ông thịnh qua đời gia đình mâu
thuẫn và xảy ra tranh chấp về việc chia di sản của ông thịnh
Qua điều tra được biết: Ông thịnh có tài sản riêng là 220triệu đồng. và có
tài sản chung với bà nguyệt( căn nhà bà nguyệt và các con đang sống) trị
giá 140tr đồng.Hòa và Thuận có tài sản chung là 120tr đồng. Xuân và thu
có tài sản chung là 100tr.
Hãy phân chia di sản của ong Thịnh.
Giải :
-Tổng tài sản của Hòa có 120:2=60tr sẽ để lại cho
Thịnh=mẹ của Hòa=Thuận=Thảo=60:4=15tr
mà bà mẹ kế là Nguyệt không được thừa kế vì theo điều 689 chưa có
quan hệ như mẹ con.
-Thịnh xem con riêng của Nguyệt như con mình,chăm sóc,cho ăn học,đây
là mối quan hệ giữa con riêng với bố dượng theo điều 689 BLDS2005,thì Xuân và Hạ xem như trong hàng thừa kế thứ nhất.
-Ông Thịnh không để lại di chúc.
-Tổng tài sản ông Thịnh là 220+140:2+15(của Hòa)=305tr
-Vậy những người thừa kế của ông Thịnh gồm 7 người :
Nguyệt=Xuân=Hạ=Tuyết=Lê=Hòa(Thảo kế vị)=Bình=305:7=43.57tr
-Tổng tài sản Xuân có 43.57+100:2=93.57tr sẽ để lại cho
Nguyệt=Thu=Đông=93.57:3=31.19tr
-Tóm lại là:
Nguyệt=140:2+43.57+31.43=145tr
Hạ=43.57tr
Thu=100:2+31.19=81.19tr
Suy ra, M nhận được: (240tr/3) x 1 = 80tr; hội người nghèo nhận được:
(240tr/3) x 2 = 160tr
Tổng kết:
Ông A : 300tr + 80tr = 380tr
C : 0 tr
D = E = M = 80tr
Hội người nghèo : 160tr
BT 13 : Ông A bị bênh qua đời mà không để lại di chúc.Tài sản của ong
gồm 1 ngôi nhà 200tr , 1 xe máy 50tr+ 200tr tiền mặt.Người thân của ông
gồm : bố đẻ, vợ, 2 con đẻ và 1 cháu ruột.Hãy áp dụng BLDS 2005 để chia
tài sản thừa kế trong TH trên.
Giải :
Xét các trường hợp sau:
Trường hợp 1: Tài sản là của riêng ông A
Ông A chết, di sản của ông A trị giá là 200tr + 50tr + 200tr = 450tr
Vì ông A không để lại di chúc nên di sản chia theo pháp luật (Điểm a
khoản 1 Điều 675). Những người thừa kế theo pháp luật gồm bố đẻ, vợ và
2 con đẻ. (Điểm a khoản 1 Điều 676 BLDS)
Giá trị mỗi suất thừa kế trên tổng di sản: 450tr : 4 = 112,5tr/suất
Đáp số: Bố đẻ, vợ và 2 con đẻ của ông A mỗi ng` có 112,5tr
Trường hợp 2: Tài sản là của chung vợ chồng ông A
Ông A chết, di sản của ông A trị giá là (200tr + 50tr + 200tr) : 2 = 225tr
Chia thừa kế tương tự trường hợp 1, ta có: bố đẻ, vợ và 2 con đẻ của ông