BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH VĂN THẮNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI DẠY BÀI 12: “VƢỢT QUA
TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” - SÁCH GIÁO KHOA
LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5
Sơn La, tháng 5 năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐINH VĂN THẮNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHAI THÁC KÊNH HÌNH KHI DẠY BÀI 12: “VƢỢT QUA
TÌNH THẾ HIỂM NGHÈO” - SÁCH GIÁO KHOA
LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5
Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tự nhiên và Xã hội
Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Phạm Văn Lực
Sơn La, năm 2014
HS
: Học sinh
TS
: Tiến sĩ
GS
: Giáo sư
NXB
: Nhà xuất bản
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
3.2. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm...............................................36
3.3. Nội dung và phương pháp tiến hành thực nghiệm.......................................36
3.3.1. Nội dung thực nghiệm...............................................................................36
3.3.2. Phương pháp tiến hành thực nghiệm........................................................37
3.4. Kết quả thực nghiệm....................................................................................38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ..........................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................40
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kiến thức cơ bản trọng tâm là những đơn vị kiến thức của bài học bắt buộc
giáo viên phải truyền thụ cho học sinh. Kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học
lịch sử ở tiểu học chủ yếu là: mốc thời gian, hiện vật lịch sử, tranh ảnh lịch sử,
các phương tiện trực quan quy ước như bản đồ, sơ đồ, lược đồ, đồ thị, biểu đồ…
Để có kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học truyền thụ cho học sinh, đòi hỏi
giáo viên phải có biện pháp cách thức cụ thể để khai thác trong sách giáo
khoa, nhất là trong kênh hình. Thế nhưng, hiện nay vấn đề này vẫn chưa được
quan tâm một cách đúng mức; nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song
chủ yếu là:
+ Chúng ta mới chỉ chú ý đến kênh chữ của SGK và coi đây là nguồn cung
cấp kiến thức duy nhất trong dạy học lịch sử mà không thấy rằng kênh hình
không chỉ là nguồn kiến thức quan trọng cung cấp một lượng thông tin đáng kể
mà còn là phương tiện trực quan có giá trị giúp bài học trở nên sinh động, hấp
dẫn hơn, gây hứng thú học tập hơn cho học sinh.
+ Không ít giáo viên chưa hiểu rõ xuất sứ nội dung ý nghĩa của kênh hình
trong SGK. Trong các đợt bồi dưỡng thay sách, giáo viên hầu như chỉ được giải
thích về cấu tạo chương trình, những điểm mới về nội dung SGK mà không
Nguyễn Thị Côi, (2011), “Các con đường biện pháp để nâng cao hiệu quả bài
học lịch sử ở nhà trường phổ thông”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội [3].
+ Nguyễn Anh Dũng, Trần Vĩnh Tường, (2003), “Những vấn đề chung về bộ
môn phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Cao đẳng sư phạm”, NXB Đại học sư
phạm, nêu lên vai trò, nhiệm vụ của phân môn lịch sử ở trường phổ thông [5].
+ Nguyễn Thị Côi (chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Trần Viết Thụ, Nguyễn
Mạnh Khởi, Đoàn Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Bình, (2011), “Rèn luyện kĩ
năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB Đại học sư phạm nêu lên những kĩ
năng cơ bản mà người GV cần phải có, làm gì để có được những kĩ năng đó [7].
+ Hội Giáo dục Lịch sử (thuộc hội khoa học Lịch sử Việt Nam), khoa Sử
trường Đại học Sư phạm (ĐHQG HN), trung tâm nội dung phương pháp (Viện
Khoa học Giáo dục), (1996), “Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy “học sinh làm
2
trung tâm”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, để ra cách thức, nhiệm vụ cần làm
để đối mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực lấy HS làm trung tâm, ý
nghĩa của phương pháp này đối với kết quả giảng dạy [9].
Ngoài ra, vấn đề này còn được đề cập trong một số công trình của
PGS.TS. Trịnh Đình Tùng. Hệ thống các phương pháp dạy học Lịch sử ở
trường THCS - Sách CĐSP, xb lần 2. NXB Giáo dục 2001; Phan Ngọc Liên.
Phương pháp dạy học lịch sử Tập 2. NXB Đại học sư phạm 2002; Phạm Ngọc
Liễn. Phương pháp giảng dạy môn học lịch sử ở trường phổ thông cấp II, Tập 1.
NXB Giáo dục 1975.
Tuy nhiên, vẫn chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề này một cách
hoàn chỉnh, hệ thống; nhiều vấn đề khoa học vẫn chưa được làm rõ; vì vậy việc
đi sâu nghiên cứu vấn đề này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ và đóng
góp của khóa luận
học
* Thiết thực đối với phương pháp, tạo sự sinh động cho bài giảng, gây hứng
thú học tập cho học sinh
* Nâng cao chất lượng bài học Lịch sử, đáp ứng yêu cầu cải cách giáo dục,
khắc phục tình trạng chán học môn Lịch sử.
4. Giả thiết khoa học
Hiện nay việc khai thác kiến thức trọng tâm trong kênh hình, kênh chữ
môn Lịch sử ở trường Tiểu học còn chưa được chú trọng và kết quả chưa cao.
Nếu đưa ra một số giải pháp cho việc khai thác kiến thức cơ bản của kênh hình,
kênh chữ ở trong các bài học nhằm đổi mới phương pháp dạy học để giúp các
em khắc sâu kiến thức hơn, từ đó đạt kết quả học tập cao hơn.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục khóa luận được
kết cấu thành ba chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc khai thác kênh hình kênh chữ
Chƣơng 2. Thực trạng của việc khai thác kênh hình trong dạy học phần
lịch sử ở trƣờng Tiểu học trong những năm gần đây
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC
KÊNH CHỮ, KÊNH HÌNH
1.1 . Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhiệm vụ, mục tiêu của môn học lịch sử ở trường phổ thông
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Vì lợi ích mười năm phải trồng cây
Ở cấp học này các em được tiếp cận ban đầu với quan điểm duy vật lịch sử, về
vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, sự phát triển hợp quy luật của xã
hội loài người, vai trò, ý nghĩa của lao động sản xuất với sự phát triển của con
người và xã hội.
Ở bậc THCS, THPT học sinh được nâng cao những hiểu biết đã được học
một cách có hệ thống, sâu sắc hơn. Môn học Lịch sử ở trường THCS, THPT
cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản bao gồm: sự kiện lịch sử cơ bản,
các khái niệm, thuật ngữ, tên người, tên đất, niên đại, những hiểu biết về quan
điểm lí luận sơ giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứu và học tập phù
hợp với yêu cầu và trình độ học sinh. Ở cấp học này học sinh được nâng cao và
hoàn chỉnh hơn, những kiến thức về lịch sử xã hội loài người từ thời nguyên
thuỷ, cổ đại, trung đại đến các thời kì cận đại, hiện đại. Qua đó, học sinh hiểu rõ
hơn quy luật phát triển của xã hội loài người, những tác động, ảnh hưởng của
lịch sử thế giới đến lịch sử dân tộc, mối quan hệ giữa lịch sử nước ta với lịch sử
thế giới.
* Giáo dục
Tất cả các môn học từ tự nhiên đến xã hội ở những mức độ khác nhau đều
góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh. Ví dụ như: môn
Địa lí dạy cho học sinh hiểu rõ đất nước mình để tăng thêm lòng yêu Tổ quốc,
yêu quê hương, nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường, thiên nhiên; môn Văn
học giúp cho học sinh hiểu tính nhân văn, yêu quý con người, dân tộc và văn hoá
Việt Nam. Riêng môn Lịch sử có những ưu thế rất lớn mà không bộ môn nào có
được trong giáo dục truyền thống đoàn kết, yêu nước; truyền thống đấu tranh
kiên cường và bất khuất của dân tộc Việt Nam trong công cuộc đấu tranh bảo vệ
Tổ quốc và lao động xây dựng đất nước, cùng những truyền thống đạo lý và ý
thức tốt đẹp của dân tộc. Lịch sử không chỉ giáo dục học sinh tình cảm yêu
6
ghét trong đấu tranh giai cấp, sự căm thù, chủ nghĩa anh hùng cách mạng mà còn
nhà giáo dục lịch sử khá quan tâm đến một phương pháp sử dụng đồ dùng trực
quan bao gồm cả việc khai thác kênh hình trong sách giáo khoa nhằm phát huy
tính tích cực học tập của học sinh.
1.1.2. Quan niêṃ về“kiến thức” và “kiến thức licḥ sử”
Kiến thức là những tri thức tương đối hoàn chỉnh, có ý nghĩa thiết thực
đối với cuộc sống của mỗi người cũng như cả cộng đồng và được truyền cho
nhau. “Kiến thức” và“tri thức” đều lànhững hiểu biết của con người vềtư ̣ nhiên,
xã hội và bản thân mình, nhưng kiến thức lànhững tri thức đươc ̣ choṇ loc ̣ nên
hoàn chinhh hơn, có ý nghĩa giáo dục, có tác dụng thiết thực đối với đời sống con
người vàxa ̃hôị. Những tri thức, kiến thức đó chỉ có thể trở thành kiến thức của
mỗi HS thông qua quá trình nhận thức, học tập.
Thuật ngữ “lịch sử” có hai ý chính là “hiện thực lịch sử” và “nhận thức
lịch sử”. Kiến thức lịch sử là những hiểu biết của con người về quá trình phát
triển của xa ̃hôịloài người vàdân tôc ̣ từ xưa đến nay đa ̃đươc ̣ khoa hoc ̣ licḥ sử
xác nhận.
Kiến thức lịch sử ở trường phổ thông đươc ̣ lưạ choṇ từ kiến thức sử h ọc,
mang đầy đủđăc ̣ trưng của kiến thức lịch sử và được ghi vào sách giáo khoa
(SGK). Chúng b ao gồm sư ̣kiêṇ , nhân vâṭ, không gian , thời gian , biểu tương ̣ ,
khái niệm, nguyên lý, quy luâṭ, những hiểu biết vềphương pháp học tập … giúp
HS nhâṇ thức licḥ sử m ột cách cu ̣thể, toàn diện, có hệ thống. Những đặc trưng
cơ bản của kiến thức lịch sử ở trường phổ thông gồm: tính quá khứ, tính không
lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thực tiễn và tính toàn diện.
Bên cạnh những đặc trưng ấy, kiến thức lịch sử ở trường phổ thông còn
được chia thành nhiều loại khác nhau như kiến thức các lớp 4, 5… đến 12; kiến
thức mang tên các yếu tố sự kiện, biểu tượng, khái niệm, quy luật…; kiến thức
lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới; kiến thức “sử” và “luận”; kiến thức về các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá…; kiến thức cơ bản và kiến thức
không cơ bản. Trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông, người ta dùng tất cả
không gian nhất định. Điều đó để phân biệt sự kiện này với sự kiện khác (ví dụ
chiến tranh thế giới 2 gần với khoảng thời gian từ 1939 đến 1945, gắn với không
gian là chiến trường ở các khu vực ở Châu Âu, Châu Á - Thái Bình Dương, Bắc
Phi…), Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII gắn với mốc thời gian năm
1789 với không gian là nhà ngục Baxti…). Không có một hiện tượng nào hoàn
9
toàn giống với sự kiện nào mà chỉ có những sự kiện giống nhau lặp lại trên cơ sở
không lặp lại (ví dụ như cùng xảy ra trên dòng sông Bạch Đằng song cuộc kháng
chiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền và cuộc kháng chiến chống MôngNguyên thời Trần diễn ra trong những khoảng thời gian khác nhau và có diễn
biến ý nghĩa… khác nhau).
Đời sống xã hội là một dòng chảy không ngừng mà ở đó mọi mặt từ kinh
tế, chính trị, văn hoá … đều thay đổi ít nhiều cùng thời gian. Do đó trong giảng
dạy lịch sử giáo viên cần chú ý đến thời gian và không gian diễn ra các sự kiện,
hiện tượng lịch sử đó.
Lịch sử mang tính cụ thể đậm nét
Lịch sử là khoa học nghiên cứu tiến trình lịch sử cụ thể của các nước, các
dân tộc khác nhau và quy luật phát triển của nó. Trên cơ sở những quy luật
chung của lịch sử xã hội loài người, mỗi quốc gia, dân tộc đều có diện mạo riêng
do những điều kiện riêng quy định. Lịch sử mỗi nước phản ánh, mô tả chi tiết,
cụ thể và đầy đủ về tiến trình phát triển của dân tộc mình. Tuy cùng chịu sự tác
động của quy luật lịch sử chung song mỗi nước lại chịu tác động ở mỗi mức độ
khác nhau, ví dụ: Nhân loại trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên
thuỷ, Chiếm hữu nô lệ, Phong kiến, Tư bản chủ nghĩa, Xã hội chủ nghĩa nhưng ở
nhiều quốc gia quá trình đó không diễn ra tuần tự như vậy, ví dụ Mĩ bỏ qua hình
thái phong kiến từ chế độ chiếm hữu nô lệ tiến thẳng lên tư bản chủ nghĩa,
Việt Nam, Trung Quốc bỏ qua hình thái tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Hay như với việc cùng trải qua thời kì chiếm hữu nô lệ
song ở Trung Quốc là chế độ nô lệ gia trưởng khác hẳn chế độ nô lệ ở phương
với thực tiễn. Song xuất phát từ những đặc trưng của môn lịch sử mà quá trình
nhận thức lịch sử cũng có những đặc điểm riêng:
Trong học tập lịch sử học sinh không thể “trực quan sinh động” được đối
tượng nghiên cứu. Do đó giai đoạn trực quan trong nhận thức lịch sử là giai
đoạn học sinh tiếp xúc với tài liệu, với những dấu vết của quá khứ.
Nhận thức lịch sử bao giờ cũng phức tạp vì con người là bộ phận không tách
rời của đối tượng nghiên cứu - xã hội loài người. Do đó giai đoạn tư duy trừu
tượng trong nhận thức lịch sử là giai đoạn mà học sinh thông qua tiếp xúc với tài
liệu dùng những thao tác tư duy của mình: tưởng tượng, tái tạo, ghi nhớ… để từ
đó đi sâu vào bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch sử.
11
Cuối cùng giai đoạn từ trực quan sinh động trở về thực tiễn là quá trình
mà học sinh trên cơ sở những hiểu biết sâu sắc về lịch sử vận dụng các tri thức
ấy để hiểu hiện tại và có nhưng hành động phù hợp trong thực tiễn và tương lai.
Mặt khác chương trình lịch sử được cấu tạo từ các sự kiện ở quá khứ cho
đến hiện tại mà quá trình nhận thức của học sinh lại đi từ gần đến xa do đó học
sinh dễ rơi vào tình trạnh “hiện đại hoá” lịch sử.
Do những dặc điểm như vậy, qua trình nhận thức lịch sử bắt đầu từ việc
nắm các sự kiện. Khoa học chân chính khác với các quan niệm duy tâm ở chỗ nó
dựa trên các sự kiện chân thực: “Bất cứ lĩnh vực khoa học nào trong lĩnh vực tự
nhiên cũng như xã hội, lịch sử phải xuất phát từ sự kiện chúng ta biết được” [9].
Từ những điều đã nói ở trên việc tổ chức dẫn dắt học sinh tạo biểu tượng
lịch sử là cái chốt để đi vào khám phá hiện thực lịch sử. Sử dụng kênh hình
trong dạy học lịch sử là chìa khoá hữu hiệu để mở cái chốt ấy. Vì vậy giáo viên
lịch sử cấn nắm được cách khai thác và nội dung các kênh hình đồng thời phải
hướng dẫn học sinh khai thác được nội dung kiến thức chứa đựng trong phần
kênh hình có trong sách giáo khoa.
* Vai trò của kênh hình trong dạy học lịch sử
+ Tranh, ảnh lịch sử về chân dung các nhân vật lịch sử.
+ Tranh, ảnh lịch sử về các di tích lịch sử và không gian lịch sử.
- Sơ đồ lịch sử.
Vai trò của kênh hình trong dạy học lịch sử
Đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông bao gồm
nhiều loại: hiện vật lịch sử, tranh, ảnh lịch sử, các phương tiện trực quan quy
ước như bản đồ, sơ đồ, đồ thị,… Các loại đồ dùng trực quan này góp phần
không nhỏ vào việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy, cung
cấp kiến thức, bồi dưỡng tình cảm, nâng cao nhận thức lịch sử, khả năng thực
hành… vì vậy, nội dung sách giáo khoa lịch sử hiện nay, trong điều kiện kinh tế,
kĩ thuật, mĩ thuật… cho phép, đã dành cho kênh hình một tỉ lệ đáng kể.
Kênh hình trong sách giáo khoa không chỉ sử dụng trong khi trình bày kiến
thức mới mà cả khi ôn tập, tổng kết, kiểm tra, hoạt động ngoại khoá và thực
hành. Kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử có chức năng chủ yếu nhằm đa
dạng nguồn kiến thức,tạo hình ảnh giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách
sinh động, làm cho bài giảng lịch sử bớt phần khô khan và thêm phần hấp dẫn.
13
Kênh hình là một phương tiện trực quan trong dạy học lịch sử. Sử dụng
kênh hình trong sách giáo khoa có ý nghĩa to lớn trong việc bồi dưỡng kiến thức
cho học sinh. Do tính quá khứ của lịch sử quy định nên học sinh không thể trực
tiếp tri giác, quan sát những sự kiện, hiện tượng lịch sử đang học. Do đó để tạo
biểu tượng lịch sử chân thực, để dựng lại bức tranh quá khứ với bộ mặt đúng
như nó đã diễn ra thì ngoài lời nói sinh động của giáo viên phải có phương tiện
trực quan mà phổ biến nhất hiện nay vẫn là kênh hình trong sách giáo khoa.
Trong sách giáo khoa lịch sử bao giờ kênh hình cũng luôn phải gắn liền với nội
dung bài viết, câu hỏi và bài tập nhằm tạo nên tổ hợp kiến thức phong phú . Do
đó khi biên soạn sách giáo khoa lịch sử, nhiều loại kênh hình đã thay thế một
phần nội dung đáng kể của phần bài viết. Đồng thời kênh hình cũng có tác dụng
học sinh cũng dần trở lên năng động, tự tin, linh hoạt trước tập thể và ngày càng
làm chủ kiến thức của mình.
Như vậy, sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa là một biện pháp hữu
hiệu nằm trong tổng thể các biện pháp giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản.
Từ đó, bồi dưỡng học sinh tư tuởng, tình cảm, đạo đức tốt đẹp cho học sinh
đồng thời góp phần phát triển toàn diện các em. Có thể nói, sử dụng, khai thác
kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử, với tư cách là một nguồn kiến thức quan
trọng là một đòi hỏi của việc đổi mới phương pháp dạy học lịch sử, khắc phục
tình trạng mà hơn 30 năm trước cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “
Lịch sử đâu có phải là một chuỗi những sự kiện để người viết sử ghi lại, rồi
người giảng sử đọc lại, người học sử lại học thuộc lòng”. Việc đổi mới phương
pháp dạy học phải tiến hành “một cuộc cách mạng”, khắc phục thói quen cũ:
“đọc- chép”, phải bỏ nhiều công sức mới có thể thực hiện có hiệu quả bài học
lịch sử. Việc đổi mới trong sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, kênh hình nói
chung riêng, trong dạy học lịch sử, trước hết phải nắn vững nội dung lịch sử
được phản ánh trong tranh, ảnh , bản đồ và các loại đồ dùng trực quan khác.
Không nắm được nội dung lịch sử thì không thể đổi mới phương pháp dạy học
lịch sử nói chung và phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan nói riêng.
Yêu cầu với kênh hình trong sách giáo khoa
Để đạt hiệu quả trong nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát triển nói trên,
kênh hình trong sách giáo khoa phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
15
- Kênh hình phải phản ánh đúng nội dung đối tượng nghiên cứu, phù hợp
với nội dung trình bày ở phần kênh chữ, không có những thông tin sai lệch về
mặt khoa học hoặc làm phân tán sự tập trung chú ý của học sinh về sự kiện
đang học.
- Màu sắc hài hoà, tươi sáng gần gũi với tự nhiên.
giảm tải, hoàn thiện đảm bảo cung cấp cho học sinh những tri thức lịch sử đầy
đủ, chính xác và hệ thống qua đó làm rõ các giai đoạn phát triển của Lịch sử dân
tộc và Lịch sử thế giới. Từ đó rút ra các quy luật, bài học lịch sử. Hệ thống kiến
thức đưa vào đảm bảo trình độ phổ thông.
Thứ hai: Nhiều giáo viên lịch sử đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và áp dụng
các phương pháp, phương tiện dạy học mới để tạo hứng thú học tập lịch sử cho
học sinh. Giáo viên lịch sử đã chú trọng đến vận dụng phương pháp liên môn
Văn - Sử, chú ý cách trình bày miệng sao cho sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh
để lôi cuốn học sinh; cố gắng kết hợp nhiều phương pháp trong một giờ học để
thay thế cho một phương pháp truyền thống là phương pháp thuyết trình; áp
dụng các phương pháp dạy học mới theo hướng phát huy tính tích cực học tập
của học sinh: dạy học theo nhóm, dạy học nêu vấn đề, và bước đầu vận dụng
phương pháp tích cực… Giáo viên lịch sử cũng chú trọng đến sử dụng các
phương tiện kĩ thuật hiện đại vào dạy học: Power point, Violet… tạo ra hứng thú
học tập lịch sử cho học sinh.
Thứ ba: Hằng năm có nhiều cuộc thi lịch sử được tổ chức: Thi Olympic
lịch sử, thi học sinh giỏi môn lịch sử các cấp… đem lại thành công to lớn, phát
hiện ra nhiều nhân tài cho đất nước. Nhiều cuộc thi tìm hiểu lịch sử được phát
động trên các phương tiện truyền thông đại chúng: “Theo dòng lịch sử”, thi tìm
hiểu và học tập theo tấm gương đạo đưc Hồ Chí Minh …thu hút được sự quan
tâm, tham gia và hưởng ứng của đông đảo quần chúng. Trong các sân chơi trí
tuệ như: “Ai là triệu phú”, “Đấu trường 100”, “Đường lên đỉnh Ôlympia”… Số
lượng các câu hỏi thuộc lĩnh vực Sử học chiếm tỉ lệ khá lớn. Đó là những tín
hiệu đáng mừng cho các nhà giáo dục lịch sử.
Tuy nhiên quá trình day-học lịch sử vẫn còn đang tồn tại những bất cập và
hạn chế lớn chưa thể khắc phục:
Một hiên trạng rất đáng buồn là trong những năm gần đây có hiện tượng
“dân ta” không biết “sử ta”. Trong thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân chủ
17
lời: “…Đêm 30-12, rạng sáng ngày 1-1-1975, nhân lúc quân Mĩ đang say sưa,
18
quân ta tấn công. Tiếng súng đầu tiên nổ lên, kháng chiến bắt đầu, giặc lúng
túng chống trả không kịp, bỏ cả đồn bốt chạy sang Trung Quốc”. Có thí sinh
nhầm lẫn sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 với chiến dịch lịch
sử Điện biên Phủ “…Đến ngày 30-4-1975, bộ đội ta đã bao vây và tiến thẳng
vào Điện Biên Phủ…”.
Khi nói về tội ác của Mỹ-Diệm có thí sinh đã viết: “…Mỹ-Diệm đã đàn
áp nhân dân, lôi kéo nhân dân vào nhà chứa đưa họ vào con đường nghiện ngập
… Mở các lớp học không học về lịch sử Việt Nam mà phải học những gì mà các
giáo sư Mĩ dạy”. Viết về ý nghĩa của Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975,
thí sinh viết “…Mùa xuân 1974-1975, quân và dân ta không chịu được cảnh đàn
áp của thực dân Pháp… Sau Lê Lai, Lê Lợi không chịu được cảnh lòng lang dạ
sói của thực dân Pháp, đã nổi dậy đấu tranh năm 1975… nổ ra ròng rã 2 ngày 1
đêm và quân ta đã đánh đuổi thực dân Pháp… Mùa xuân 1975 máu chảy thành
sông, người chết thì nhiều. Sau Lê Lợi lên làm vua được vài năm thì chết”.
Đặc biệt, qua quá trình thực tập phổ thông bản thân tôi thấy rõ thực trạng
học tập lịch sử. Rất nhiều học sinh đã nhầm lẫn Hai Bà Trưng lãnh đạo khởi
nghĩa Hai Bà Trưng là Bà Trưng và Bà Triệu. Đặc biệt là thái độ của học sinh
đối với môn lịch sử là điều đáng nói khiến các nhà giáo dục lịch sử phải suy
ngẫm. Tại trường THPT Tân Lạc-Hoà Bình trong giờ học lịch sử học sinh đã
xuyên tạc “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn: “…Ta thường tới bữa quên ăn,
nửa đêm kêu đói…” hoặc khi đọc lời biểu dụ của Quang Trung khi xuất quân ra
Bắc tiêu diệt quân Thanh thì đã có em học sinh đọc như sau:
“ Đánh cho để rụng tóc
Đánh cho để long răng…”
Thiết nghĩ vị trí của bộ môn lịch sử chua được đặt đúng chỗ của nó. Lịch sử