XÂY DỰNG CÂU HỎI PHÁT VẤN KHI DẠY BÀI 17: “CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ” SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ LỚP 5 - Pdf 22

DANH MỤC VIẾT TẮT GV Giáo viên
HS Học sinh
SGK Sách giáo khoa
PPDH Phương pháp dạy học
NXB Nhà xuất bản MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

2.2. Xây dựng và sử dụng câu hỏi phát vấn khi dạy bài 17:“Chiến thắng lịch sử
Điện Biên Phủ" 27
CHƢƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 50
3.1. Mục đích thực nghiệm 50
3.2. Đối tượng, thời gian, địa bàn thực nghiệm 50
3.3. Nội dung thực nghiệm 50
3.4. Phương pháp thực nghiệm 50
3.5. Tổ chức thực nghiệm 50
3.6. Kết quả thực nghiệm 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1. Kết luận 54
2. Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền văn minh và hội nhập. Xã hội càng phát triển
thì yêu cầu đặt ra đối với ngành giáo dục lại càng cao. Giáo dục Việt Nam đang
đứng trước yêu cầu của công cuộc CNH – HĐH đất nước, của quá trình mở rộng
giao lưu, hợp tác quốc tế trong thời kỳ của nền kinh tế tri thức. Chính vì vậy, việc
đổi mới phương pháp, tăng cường thông tin để nâng cao chất lượng dạy học nói
chung, dạy học lịch sử nói riêng là yêu cầu bức thiết đặt ra cho ngành giáo dục.
Môn Lịch sử với tư cách là một môn Khoa học – Xã hội, có ưu thế đặc biệt
trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường tiểu học. Môn Lịch sử thực
hiện chức năng và nhiệm vụ do đặc trưng của nó qui định. Tri thức lịch sử là
một bộ phận của ý thức xã hội, là hành trang không thể thiếu được của mỗi con
người khi bước vào đời.
Ở học sinh tiểu học, lịch sử không chỉ khơi dạy cho các em lòng tự hào dân

đã mạnh dạn lựa chọn khoá luận: “Xây dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nhằm góp phần giúp cho HS ghi nhớ và
khắc sâu nội dung bài học, qua đó tạo cho các em niềm đam mê khi học môn
Lịch sử.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề đổi mới phương pháp nói chung, xây dựng câu hỏi phát vấn nói
riêng cũng đã được đề cập trong một số công trình như:
+ Phạm Văn Lực với bài: “Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử phù hợp các
trường phổ thông ở Tây Bắc” [9, tr.12] trong đó có đề cập đến việc nêu câu hỏi
phát vấn cho HS tiểu học. Nhưng sự đề cập đó còn rất chung chung và vắn tắt.
+ Trần Văn Lưu với bài “Biểu tượng lịch sử với học sinh tiểu học” (Đổi
mới phương pháp dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm, NXB Giáo dục Hà
Nội 1996) trong đó có đề cập đến việc tăng cường thông tin cho các em khi tạo
biểu tượng cho học sinh tiểu học bằng cách nêu câu hỏi phát vấn. Nhưng sự đề
cập này cũng còn rất khái lược và chung chung.
+ Đặng Quốc Bảo (chủ biên) trong cuốn Giáo dục Việt Nam hướng tới
tương lai vấn đề và giải pháp, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004, khi
đề cập đến yêu cầu đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng những vấn đề thực tiễn đang

3
đặt ra, tác giả nhấn mạnh: “Nội dung môn học sẽ được tinh giản, chọn lọc kiến
thức cơ bản, kiến thức nền tảng, chủ yếu là rèn luyện cho học sinh các kĩ năng tư
duy, kĩ năng ngôn ngữ, kĩ năng biểu thị, diễn đạt, phương pháp tự học, tự khai
thác thông tin.” [4.1.4, tr 247]. Khi bàn về các giải pháp phát triển giáo dục, vấn
đề đổi mới chương trình, tác giả đã nhấn mạnh: “Bảo đảm tính thống nhất về
chuẩn kiến thức, kĩ năng và thái độ” [4.1.2, tr 245].
+ Cuốn giáo trình Phương pháp dạy học lịch sử, tập 1, do GS.TS. Phan
Ngọc Liên (Chủ biên), NXB Đại học Sư phạm xuất bản năm 2009, đã dành toàn
bộ chương IV để đi sâu phân tích nội dung kiến thức cơ bản của chương trình
lịch sử phổ thông. Trọng tâm của chương này, các tác giả đã làm rõ vấn đề, xác

4. Đối tƣợng, phạm vi đề tài, cơ sở tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Bài 17: “ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” – SGK Lịch sử lớp 5
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Câu hỏi phát vấn khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”
4.3. Giả thuyết khoa học
Sau khi hoàn thành xong khóa luận. Nếu xây dựng được câu hỏi phát vấn
khi dạy bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” sẽ giúp HS ghi nhớ và nắm
chắc nội dung bài “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nói riêng và tạo cho
HS niềm say mê, hứng thú khi học môn Lịch sử nói chung. Khóa luận “Xây
dựng câu hỏi phát vấn khi dạy bài Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” hoàn
thành cũng là tài liệu tham khảo cực kì hữu ích cho GV tiểu học và các bạn sinh
viên ngành Giáo dục tiểu học.
4.4. Phạm vi nghiên cứu
Tôi tiến hành nghiên cứu trong phạm vi là địa bàn thành phố Sơn La - tỉnh
Sơn La.
4.5. Cơ sở tài liệu
- Để thực hiện khóa luận này, tôi đã dụng các tài liệu lưu trữ ở trung ương
và địa phương kết hợp khai thác các tài liệu đã được công bố trong các công
trình nghiên cứu sẽ được cụ thể hóa trong danh mục tài liệu tham khảo.
- Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 5. 5
4.6. Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến thành khóa luận này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu chủ yếu sau:
 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Tìm hiểu các nguồn tài liệu, sách tham khảo, báo chí, tìm kiếm nguồn
thông tin trên mạng Internet…về các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu,

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1. Cơ sở lí luận
1.1. Mục tiêu và những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở
trường Tểu học hiện nay
1.1.1. Mục tiêu của phần Lịch sử ở trường Tiểu học
Lịch sử là một trong những môn học cơ bản được đưa vào giảng dạy ở
trường phổ thông từ lớp 4 đến lớp 12. Về mặt lí luận cũng như thực tiễn đã
khẳng định phần lịch sử góp phần quan trọng vào thực hiện mục tiêu giáo dục
phổ thông. Trên cơ sở đó, mục tiêu dạy học bộ môn được xác định trên cả ba
mặt: kiến thức, kĩ năng và thái độ.
* Về kiến thức, giúp học sinh:
- Biết được những sự kiện lịch sử tiêu biểu, những bước phát triển chủ yếu,
những nội dung quan trọng của lịch sử dân tộc từ thời nguyên thuỷ đến nay.
- Có những hiểu biết đúng đắn về quá trình phát triển của lịch sử dân tộc từ
nguồn gốc đến nay, trên cơ sở nắm được những sự kiện tiêu biểu của từng thời
kì, những chuyển biến lịch sử và phát triển hợp quy luật của dân tộc trong sự
phát triển chung của lịch sử thế giới.
* Về kĩ năng, phần lịch sử góp phần quan trọng trong việc hình thành cho
học sinh những kĩ năng cơ bản như:
- Xem xét các sự kiện lịch sử trong các quan hệ không gian, thời gian.
- Có ý niệm về phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, bước đầu đánh giá các
sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử.
- Hình thành năng lực tự học, tự làm giàu tri thức lịch sử cho học sinh
thông qua các nguồn sử liệu khác nhau (đã có và phát hiện mới…).
* Về thái độ, trên cơ sở trang bị kiến thức lịch sử góp phần hình thành ở
học sinh:
- Tình yêu quê hương, đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lòng tự hào dân
tộc, có thái độ trân trọng đối với các di sản văn hoá của dân tộc và nhân loại trong


- Phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử.

8
- Thông báo những kết quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ…
- Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống.
c. Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS những thái độ và thói quen:
- Ham học hỏi, ham hiểu biết thế giới xung quanh.
- Yêu thiên nhiên, con người, đất nước.
- Có ý thức và hành động bảo vệ thiên nhiên và các di sản văn hoá.
1.2.2. Một số vấn đề nội dung, chương trình phân môn Lịch sử ở tiểu học
Một số sự kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu của lịch sử dân tộc qua các thời kỳ.
- Hơn tám mươi năm chống thực dân Pháp xâm lược và đô hộ (1858 – 1945)
+ Cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược: Trương Định
+ Đề nghị canh tân đất nước: Nguyễn Trường Tộ
+ Cuộc phản công ở kinh thành Huế. Phong trào Cần Vương: Phan Đình
Phùng, Nguyễn Thiện Thuật…
+ Sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội Việt Nam và cuộc đấu tranh chống
Pháp đầu thế kỉ XX.
+ Nguyễn Ái Quốc
+ Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
+ Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1930 đến năm 1945: Xô
Viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.
- Bảo vệ chính quyền non trẻ, trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954)
+ Việt Nam những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám.
+ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến.
+ Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến.
+ Chiến thắng Việt Bắc thu – đông năm 1947: Chiến thắng Biên giới thu –
đông 1950. Hậu phương của ta.
+ Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ.

trình giáo dục.
Cốt lõi của việc đổi mới PPDH ở trường Tiểu học là làm cho HS học tập
tích cực, chủ động, sáng tạo, thay đổi thói quen học tập thụ động, ghi nhớ máy
móc. Nhà trường phổ thông cần phải làm mọi cách để HS ngày hôm nay được

10
suy nghĩ nhiều hơn, làm việc nhiều hơn, bày tỏ ý kiến nhiều hơn và hợp tác học
tập với nhau nhiều hơn.
Cũng như các môn học khác trong trường phổ thông, PPDH Lịch sử cũng
đổi mới theo các định hướng bao quát. Tuy vậy, cần xem xét những yếu tố thuộc
đặc trưng bộ môn.
Quan niệm về PPDH Lịch sử hiện đại được xác lập trên 2 tiền đề cốt lõi:
- Tiền đề thứ nhất: Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, có thật và tồn tại
khách quan trong quá khứ. Do đó, không thể phán đoán, suy luận, tưởng tượng
để nhận thức lịch sử. Nhận thức lịch sử phải thông qua những “dấu tích” của quá
khứ, những chứng cứ về sự tồn tại của các sự việc đó diễn ra. Do đó, việc đầu
tiên, tất yếu, không thể không tiến hành là cho HS tiếp nhận thông tin từ sử liệu
bằng nhiều hình thức khác nhau. Ở tiểu học, HS cần phải có biểu tượng về “các
sự kiện đã diễn ra”. Cần phải tạo ra được ở nhận thức của HS những hình ảnh cụ
thể, sinh động, rõ nét về các nhân vật lịch sử và hoạt động của họ trong thời
gian, không gian, trong những điều kiện lịch sử cụ thể, những quan hệ xã hội cụ
thể. Những biện pháp tổ chức cho HS tiếp nhận thông tin từ sử liệu:
+ GV kể lại các câu chuyện lịch sử, tường thuật lại diễn biến các sự kiện
lịch sử, miêu tả các sự vật, đối tượng, thiết chế…đã tồn tại trong lịch sử.
+ Sử dụng các phương tiện trực quan: tranh ảnh, bản đồ, phục chế hiện
vật…Nếu có các phương tiện nghe nhìn như: phim video, radio, casseett, máy
chiếu qua đầu…càng tốt.
+ HS kể lại, thuật lại điều mình đã biết trước cho các bạn nghe.
+ HS làm việc với các sử liệu có trong SGK hoặc những sử liệu do GV
cung cấp khi giao việc, được in trong phiếu học tập.

hương, tên các danh nhân lịch sử…
Đối mới PPDH Lịch sử ở Tiểu học theo sự trình bày ở trên đòi hỏi cần phải
đổi mới cách thức hoạt động của thầy, của trò, đổi mới cấu trúc và phương pháp
trình bày của SGK, các phương tiện DH, cách thức đánh giá kết quả học
tập…Đây là những vấn đề đòi hỏi nhiều công sức nghiên cứu, thử nghiệm, đòi
hỏi sự tham gia của đông đảo cán bộ quản lý và GV. 12
1.3. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh tiểu học ảnh hưởng đến việc học
tập môn Lịch sử
Bước vào trường Tiểu học là một “bước ngoặt” mới trong cuộc đời của một
đứa trẻ. Giai đoạn này, trẻ gặp rất nhiều khó khăn khi phải chuyển hoạt động
chủ đạo từ “vui chơi” sang “học tập”. Đặc điểm của chế độ học tập: phải thức
dậy đúng giờ, không được bỏ học, phải ngồi yên lặng, phải thực hiện đúng hạn
bài tập ở nhà…Tính chất quan hệ qua lại giữa GV với trẻ, giữa trẻ với trẻ, giữa
trẻ với gia đình cũng thay đổi, điều này gây cho trẻ rất nhiều khó khăn trong
việc thích ứng với môi trường mới trong giai đoạn đầu của giáo dục phổ thông.
Hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này là hoạt động học tập, nó làm thay đổi một
cách cơ bản những hành động của hành vi trẻ, nó mở ra những nguồn phát triển
mới của sức mạnh nhận thức và đạo đức của trẻ. Hành động học phải được xem
như là đối tượng để lĩnh hội, sau đó trở thành phương tiện để tiếp thu tri thức,
khái niệm khoa học. Cách học vừa là tiền đề, công cụ, phương tiện, vừa là mục
đích của dạy học. Hoạt động học bắt đầu nảy sinh ở lớp 1 và 2, hình thành ở lớp
3 và 4 và dần dần định hình vào lớp 5.
Tri giác mang tính đại thể, toàn bộ, ít đi sâu vào chi tiết (lớp 1 và 2), tuy
nhiên trẻ cũng bắt đầu có khả năng phân tách dấu hiệu, chi tiết nhỏ của một đối
tượng nào đó. Tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn, phải
cầm nắm, sờ mó sự vật thì tri giác sẽ tốt hơn.
Tri giác và đánh giá không gian, thời gian cũng hạn chế: chi giác chưa chính

1.4. Hứng thú học tập của học sinh tiểu học
1.4.1. Một số đặc điểm của hứng thú học tập
Hứng thú học tập là một dạng đặc biệt của hứng thú, hứng thú học tập có
đầy đủ đặc điểm của hứng thú. Bên cạnh đó, hứng thú học tập có những đặc
điểm riêng như sau:
- Hứng thú học tập có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của hoạt
động học tập. Hứng thú có thể rất rộng, phân tán nhằm thu lượm thông tin nói
chung hoặc nhận biết các mặt mới của đối tượng, hoặc đi sâu vào một lĩnh vực
nhận thức nhất định, vào cơ sở lí luận của nó, vào những mối liên hệ và quy luật
quan trọng của nó.

14
- Trong nhà trường, đối tượng của hứng thú học tập của HS chính là nội
dung các môn học, và việc tiếp thu những nội dung đó chính là nhiệm vụ chủ
yếu của hoạt động học tập. Vì vậy, hứng thú học tập không những chỉ có kiến
thức mà HS tiếp thu, mà còn là cả quá trình học tập nói chung.
- Hứng thú học tập có nhiệm vụ quan trọng là nhiệm vụ nhận thức, đòi hỏi
chủ thể phải hoạt động tích cực, tìm tòi, sáng tạo. Lúc đầu, hứng thú học tập hướng
tới nội dung tri thức khoa học, sau đó hướng tới các phương pháp khám phá nội
dung đó.
- Hứng thú học tập là sự biểu hiện của một trong những động lực mạnh mẽ
thúc đẩy HS trong quá trình học tập, giúp HS luôn nhận thức vấn đề học tập một
cách rõ ràng, đúng đắn và nhanh chóng.
1.4.2. Các loại hứng thú học tập
Có rất nhiều căn cứ để phân chia các loại hứng thú học tập, tuy nhiên có
một số cách chia tiêu biểu như sau:
- Căn cứ vào hiệu quả của hứng thú, chia làm 2 loại:
+ Hứng thú thụ động: là loại hứng thú chỉ dừng lại ở việc ngắm nhìn, chiêm
ngưỡng đối tượng gây nên hứng thú.
+ Hứng thú tích cực: chủ thể chiêm ngưỡng đối tượng, đồng thời hoạt động

Có niềm vui nhận thức cùng sự thích thú khi tiếp nhận bài học.
Thích thú thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Vui sướng với thành công trong học tập.
+ Hành vi: là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của hứng thú học tập. Là sự
nỗ lực vượt khó và tính tích cực tiến hành các hoạt động để đạt được kết quả
trong học tập. Cụ thể là:
Trong lớp chú ý nghe giảng, phát biểu ý kiến.
Tích cực tham gia thảo luận cùng bạn bè.
Sưu tầm thêm các thông tin, tìm đọc sách, tài liệu tham khảo.
Vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn
Như vậy, chú ý nghe giảng và tích cực phát biểu trong giờ học là dấu hiệu
đầu tiên của hứng thú học tập, hoạt động học là hoạt động căng thẳng nên nếu
chỉ có ý thức nghĩa vụ và ý thức tổ chức kỉ luật thì không đủ để HS chú ý

16
thường xuyên, lâu dài. Chỉ có hứng thú thì HS mới tập trung, chú ý lâu vào bài
học và hoàn thành các nhiệm vụ học tập GV giao.
1.4.4. Vai trò của hứng thú học tập
Đối với hoạt động học tập phân môn Lịch sử của HSTH thì hứng thú học
tập có vai trò như sau:
- Hứng thú học tập kích thích hoạt động, làm cho con người hoạt động tích
cực, say mê và đem lại kết quả cao trong học tập.
- Hứng thú học tập thể hiện thái độ đặc biệt của bản thân HS đối với hoạt
động học tập, cho nên giúp HS thực hiện các hoạt động một cách dễ dàng, có sự
tập trung cao độ và đạt kết quả cao. Khi đó HS sẽ cảm thấy thích thú đối với
hoạt động học tập.
- Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động và hành động một cách sáng
tạo. Khi được phát triển ở mức độ cao, sâu sắc, hứng thú biến thành nhu cầu cấp
bách. Khi đó, cá nhân HS sẽ cảm thấy cần phải hành động để thoả mãn nhu cầu
và tự giác bắt tay vào hoạt động học tập.

lâm, giáo điều, thiếu hấp dẫn… Nhưng những nguyên nhân căn bản thể hiện ở
mấy điểm sau:
Thứ nhất, nhiều GV chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới
phương pháp dạy học lịch sử và hướng đổi mới là phát huy tính tích cực, độc lập
nhận thức của HS trong học tập.
Thứ hai, một số GV nhận thức được điểm mấu chốt của việc đổi mới
phương pháp dạy học là chuyển sang mô hình dạy học “lấy học sinh làm trung
tâm”, nhưng biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của HS trong dạy học bộ
môn thì mang nặng tính hình thức và máy móc. Nhiều GV đã biến giờ học lịch
sử thành giờ “hỏi - đáp” khiến giờ học trở nên căng thẳng và khô khan, hoặc coi
hoạt động nhóm là biểu hiện duy nhất của đổi mới phương pháp, khiến các tiết
học bị xáo trộn…
Thứ ba, không ít GV nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, do hạn chế về
thông tin nên còn chưa nhận thức được yêu cầu đổi mới phương pháp hoặc lấy lí
do HS yếu kém nên vẫn duy trì tình trạng dạy học truyền thống “thầy đọc trò
chép”, nhồi nhét kiến thức, khiến giờ học trở nên nặng nề, buồn tẻ. Việc kiểm
tra, đánh giá còn mang tính hình thức, thiếu khoa học và tính giá trị.

18
Thứ tư, phương pháp dạy học ở trường Tiểu học hiện nay, đặc biệt là ở
những vùng sâu, vùng xa chưa theo kịp chương trình và SGK. Hầu hết GV vẫn
quá phụ thuộc vào SGK, nhất là phần kênh chữ. Điều này làm cho bài học trở
nên nặng nề, thiếu trọng tâm và xa rời mục tiêu. Việc giáo dục và phát triển HS
thì được tiến hành một cách hình thức, máy móc và mang tính áp đặt khiến HS
càng cảm thấy chán nản và nhiều áp lực. Nói cách khác GV không đánh giá
đúng trình độ HS, không xác định được những kiến thức cần thiết (chuẩn kiến
thức) và mức độ kĩ năng (chuẩn kĩ năng) và thái độ cần hình thành cho HS qua
dạy học những nội dung, bài học cụ thể theo quy định của chương trình.
2.2. Thực tiễn dạy học phần lịch sử ở trường tiểu học ở tỉnh Sơn La
- Đặc điểm của tỉnh Sơn La:

thuộc còn phổ biến. Do đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học chưa được quan
tâm đúng mức. Phương pháp truyền thống “đọc - chép” vẫn ngự trị trong giảng
dạy. Do nhiều nguyên nhân, HS còn thiếu tích cực trong học tập, còn cảm thấy
nhiều áp lực trong học tập bộ môn. Hệ quả là chất lượng dạy học lịch sử rất
thấp, mục tiêu giáo dục bộ môn chưa được đảm bảo.
Để cải thiện thực trạng trên, một là cần nâng cao nhận thức của GV và HS
ở Sơn La về vai trò, vị trí của bộ môn, về yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
lịch sử. Trong đó vấn đề mấu chốt là cần giúp GV và HS nhận thức đầy đủ,
đúng đắn về chuẩn kiến thức, kĩ năng và các biện pháp sư phạm nhằm thực hiện
chuẩn kiến thức, kĩ năng cho HS Sơn La trên cơ sở phát huy tính tích cực, tự
giác của HS trong nhận thức. Hai là cần tăng cường tài liệu, nguồn thông tin về
lí luận giáo dục bộ môn và tài liệu lịch sử cho GV và HS qua nhiều kênh thông
tin khác nhau nhằm tạo ra những đột phá cho chất lượng dạy học lịch sử ở Sơn
La. Cần có sự nghiên cứu, điều tra toàn diện để có những căn cứ khoa học cho
những biện pháp chiến lược và ngắn hạn để cải thiện chất lượng giáo dục nói
chung, chất lượng dạy học bộ môn nói riêng cho tỉnh.
2.3. Thực tiễn về tình hình học tập phân môn Lịch sử của học sinh tiểu
học hiện nay
Tuổi trẻ bây giờ được sinh ra và lớn lên trong thời bình, dường như các em
chưa quan tâm nhiều đến lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông
ta. Các em chưa biết quan tâm nhiều đến việc tìm tòi, nghiên cứu nguồn sử liệu
về lịch sử. Ở HS Tiểu học, các em chỉ dành nhiều thời gian, tâm sức cho môn
Toán và môn Tiếng Việt. Dường như các em thấy thờ ơ đối với môn Lịch sử,
một phần vì các em thấy môn này khô khan, khó học, khó nhớ. Mặt khác, các

20
em chưa thực sự biết cách học môn Lịch sử. Dẫn đến kết quả học tập môn Lịch
sử giảm sút. Vậy làm thế nào để nâng cao chất lượng của môn Lịch sử ? Đó là
nỗi lo âu, trăn trở của mỗi chúng ta khi giảng dạy môn học này.
2.4. Thực tiễn về việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học phân môn

quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Lịch sử nói riêng phải biết cách lựa
chọn và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp, làm sao có thể phát huy cao
nhất năng lực chủ động, sáng tạo của các em. Đặc biệt là cần hình thành ở các
em phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động. Có như vậy
kết quả học tập môn Lịch sử mới được cải thiện.
Môn Lịch sử ở trường Tiểu học ngày càng khẳng định vị trí và tầm quan
trọng của mình trong cuộc sống. Môn học này giúp HS hoàn thiện cả về mặt tri
thức và đạo đức. Tuy nhiên HS vẫn chưa thấy được vị trí và tầm quan trọng của
môn học này. Các em thờ ơ và không mấy hứng thú với môn học Lịch sử. Chính
vì vậy người GV phải làm sao để khơi nguồn cảm hứng ở các em, giúp các em
thấy hứng thú với môn Lịch sử.
Khi người GV làm cho các em thấy được sự hứng thú với với môn học thì
sự hứng thú đó sẽ tác động đến mọi mặt của quá trình nhận thức và làm tăng
hiệu quả của hoạt động nhận thức của HS trong quá trình học tập. Hứng thú sẽ
giúp các em say mê học tập, học không mệt mỏi. Trong quá trình học tập nếu
HS có hứng thú và học với một niềm đam mê thực sự thì tri thức mà các em lĩnh
hội được sẽ rất bền vững, khó mất đi và rất dễ tái hiện. Vì vậy, để học môn Lịch
sử đạt kết quả cao, GV phải biết khơi nguồn cảm hứng, giúp các em tìm thấy
niềm đam mê đối với môn học.
Qua tìm hiểu thực trạng dạy học môn Lịch sử ở trường Tiểu học hiện nay,
tôi thấy người GV đã biết sử dụng câu hỏi trong mỗi bài học lịch sử, để giúp HS
học tập một cách chủ động theo đúng tinh thần của việc đổi mới phương pháp
dạy học hiện nay. Tuy nhiên việc sử dụng câu hỏi phát vấn trong dạy học môn
Lịch sử còn nhiều hạn chế, không ít GV chưa biết cách khai thác triệt để nội
dung bài học thông qua hệ thống câu hỏi phát vấn. Mặt khác, câu hỏi phát vấn
được sự dụng chưa thực sự phù hợp với đại trà trình độ của HS trong lớp, chưa
phát huy hết được năng lực của các em.

22
Chính vì những tồn tại trên đã đặt ra một yêu cầu cấp bách đó là phải xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status