1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên tinh thần quán triệt và thực hiện các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và
đang nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy, từng bước đề cao nguyên tắc quản
lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp
chế XHCN nhằm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới nước ta và xây dựng
thành công nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Để xây
dựng thành công nhà nước pháp quyền không chỉ cần một hệ thống pháp luật
hoàn thiện với các tiêu chí toàn diện, đồng bộ, phù hợp và trình độ kỹ thuật
pháp lý cao, mà còn cần dựa vào ý thức tôn trọng pháp luật, sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật của mỗi công dân, tổ chức và các cơ quan nhà
nước. Pháp luật dù có hoàn thiện đến đâu nhưng không được tổ chức thực
hiện tốt thì cũng không có ý nghĩa, chính vì vậy hoạt động áp dụng pháp luật
của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc
đưa pháp luật vào cuộc sống và góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý
xã hội bằng pháp luật. Những năm gần đây, tình hình thực hiện pháp luật nói
chung và áp dụng pháp luật nói riêng ở Việt Nam cũng như trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên ngày càng được đổi mới và tăng cường, có nhiều kết quả đáng
khích lệ, góp phần quan trọng vào việc thực hiện các chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từng bước nâng cao hiệu lực quản lý nhà
nước. Tuy nhiên, hiệu quả của việc áp dụng pháp luật ở nước ta trong thời
gian qua chưa cao, còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém, vướng mắc cả về mặt
lý luận và thực tiễn. Trước yêu cầu không ngừng tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa trên phạm vi cả nước nói chung và Hưng Yên nói riêng, nhằm xây
dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
do dân, vì dân thì nghiên cứu làm rõ các vấn đề về lý luận và thực tiễn về áp
dụng pháp luật; đánh giá đúng thực trạng áp dụng pháp luật ở Hưng Yên và
Áp dụng pháp luật là một vấn đề rộng lớn và phức tạp, liên quan tới nhiều
lĩnh vực hoạt động của các cơ quan nhà nước nên trong phạm vi một khóa
3
luận tốt nghiệp đại học, tác giả chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, trên cơ sở đó đề xuất
một số giải pháp pháp lý chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm
chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam về đường lối đổi mới của đất nước, về
xây dựng nhà nước pháp quyền thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng
cũng như trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Nhà nước ta.
Trong quá trình phân tích, khóa luận có sử dụng những phương pháp cụ
thể như: phương pháp khảo sát, phương pháp so sánh, kết hợp sử dụng
phương pháp lôgích và lịch sử, phân tích và tổng hợp.
6. Những đóng góp của khóa luận
Đây là khóa luận đầu tiên nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về tình
hình áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh Hưng Yên, trong đó nghiên cứu làm
rõ các vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật như khái niệm, đặc điểm, các giai
đoạn của quá trình áp dụng pháp luật… Đánh giá thực trạng áp dụng pháp
luật trên địa bàn Hưng Yên hiện nay trên hai mặt ưu điểm, khuyết điểm và
phân tích những nguyên nhân của ưu khuyết điểm đó. Đề xuất những giải
pháp pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên địa bàn tỉnh
Hưng Yên hiện nay.
7. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận
thức quan trọng, có tính đặc thù nên cần đi sâu nghiên cứu. Áp dụng pháp luật
vừa là một hình thức thực hiện pháp luật, vừa là một giai đoạn đặc thù của sự
thực hiện pháp luật. Áp dụng pháp luật có tính đặc thù bởi nó chứa đựng yếu
tố bảo đảm cho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong đời sống
thực tế. Yếu tố bảo đảm đó chính là sự can thiệp của nhà nước. Trên thực tế,
5
có những trường hợp nếu không có sự can thiệp của nhà nước thì nhiều quy
phạm pháp luật sẽ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng.
Ở nước ta hiện nay có nhiều quan điểm về vấn đề áp dụng pháp luật.
Nhưng nhìn chung các định nghĩa về áp dụng pháp luật đó tương đối đồng
nhất, sự khác nhau có chăng chỉ là việc sử dụng các từ ngữ khác nhau để diễn
đạt mà thôi. Có thể nói rằng: Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện
pháp luật, là hoạt động mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, được thực
hiện thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các
tổ chức xã hội khi được nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hóa các quy phạm
pháp luật vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật quan trọng và có
quan hệ mật thiết với các hình thức còn lại. Nếu chỉ thông qua các hình thức
như tuân thủ, thi hành và sử dụng pháp luật mà không có áp dụng pháp luật
thì nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện hoặc được thực hiện
nhưng không chính xác, không đầy đủ và nghiêm minh đảm bảo cho các quan
hệ pháp luật đi vào cuộc sống góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân
dân, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Nếu như tuân thủ, chấp
hành và sử dụng pháp luật là những hình thức mà mọi chủ thể đều có thể thực
hiện thì áp dụng pháp luật luôn có sự tham gia của nhà nước, là hoạt động của
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong hoạt động áp dụng pháp luật bao
hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật. Việc các cơ quan nhà nước tổ
luật trong các trường hợp sau:
Thứ nhất, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế do các chế tài pháp
luật quy định đối với những chủ thể vi phạm pháp luật. Để bảo đảm cho pháp
luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và tự giác bởi mọi chủ thể trong
xã hội, nhiều quy phạm pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế nhà
nước cần áp dụng với người vi phạm trong phần chế tài của nó. Việc áp dụng
một biện pháp cưỡng chế nhà nước cụ thể với một chủ thể cụ thể là bắt họ
phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi hay những sự thiệt hại nhất định
về tài sản, về nhân thân, về tự do… Vì thế để đảm bảo công bằng xã hội, chỉ
có các chủ thể có thẩm quyền mới có thể áp dụng và hoạt động áp dụng của
họ phải tiến hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật
7
quy định. Ví dụ cho trường hợp này là việc cảnh sát giao thông xử phạt người
vi phạm luật giao thông, Hội đồng kỷ luật nhà trường xử lý kỷ luật đối với
cán bộ, giáo viên hoặc sinh viên vi phạm kỷ luật…
Thứ hai, nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước, những quyền và nghĩa vụ
pháp lý trong quan hệ pháp luật không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc
chấm dứt. Ví dụ, Hiến pháp Việt Nam 1992 quy định lao động là quyền và
nghĩa vụ của công dân, nhưng quan hệ pháp luật lao động với những quyền và
nghĩa vụ lao động cụ thể giữa một công dân với một cơ quan, tổ chức nhà
nước chỉ phát sinh khi có quyết định tuyển dụng người công dân nói trên của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ ba, khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên
tham gia quan hệ pháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được. Trong
trường hợp trên, phải nhờ hoạt động áp dụng pháp luật mới làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể thì trường hợp này khác ở
chỗ một quan hệ pháp luật cụ thể đã phát sinh, các bên chủ thể đã có quyền và
có thành tích theo quy định của pháp luật. Trong pháp luật của các nhà nước
đương đại không chỉ quy định các biện pháp trừng phạt đối với các chủ thể vi
phạm pháp luật mà còn quy định nhiều hình thức khen thưởng đối với các chủ
thể có thành tích trong những hoạt động nhất định hoặc trong việc thực hiện
pháp luật. Mục đích của việc quy định các biện pháp đó là nhằm đền đáp công
ơn của những người có công với đất nước, với xã hội; để khuyến khích, động
viên các chủ thể nhiệt tình công tác, phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất
trong hoạt động của mình cũng như để khuyến khích các chủ thể tự giác thực
hiện tốt pháp luật, làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh,
tự giác hơn. Vì thế, ở Việt Nam, bên cạnh Bộ luật hình sự và Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính còn có Luật thi đua, khen thưởng, và trong đa số các văn
bản quy phạm pháp luật đều có quy định việc khen thưởng những người thực
hiện tốt những quy định trong văn bản trước khi quy định việc xử phạt đối với
những người vi phạm nó. Ví dụ, việc các chủ thể có thẩm quyền xét tặng bằng
khen, danh hiệu vinh dự nhà nước cho một chủ thể nào đó chính là áp dụng
pháp luật trong trường hợp này.
9
Thứ sáu, khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ
pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy
định của pháp luật. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, các chủ thể đều
có quyền và nghĩa vụ nhất định do pháp luật quy định. Có những quyền và
nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện nó chỉ liên quan đến lợi ích của cá nhân
người thực hiện, song có những quyền và nghĩa vụ pháp lý mà việc thực hiện
nó lại liên quan đến lợi ích của các chủ thể khác, lợi ích chung của xã hội,
của cộng đồng. Vì vậy, cần phải kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và
nghĩa vụ đó để đảm bảo tính đúng đắn, chính xác của nó. Hoạt động kiểm tra,
giám sát đó chỉ do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục
thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng. Pháp luật cũng quy định trong một số
trường hợp nhất định việc áp dụng pháp luật đối với những trường hợp đó chỉ
được tiến hành khi có yêu cầu của tổ chức hay cá nhân nhất định theo quy
định của pháp luật
+ Áp dụng pháp luật có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị áp dụng và
các chủ thể có liên quan. Điều này thể hiện ở chỗ dù việc áp dụng pháp luật
được tiến hành theo ý chí nhà nước hay ý chí của chủ thể bị áp dụng thì quyết
định áp dụng pháp luật cũng chỉ do các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp
luật ban hành (trong một số trường hợp có tính đến ý chí của các chủ thể bị áp
dụng); quyết định áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc phải thực hiện đối
với những tổ chức và cá nhân có liên quan; trong những trường hợp cần thiết,
nhà nước có thể cưỡng chế thi hành quyết định áp dụng pháp luật đã có hiệu
lực.
+ Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình
thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể
thực hiện các quy định của pháp luật. Vì thế, hoạt động này phải được tiến
hành theo những điều kiện, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ do pháp luật quy
định. Mỗi loại quy phạm pháp luật có trình tự, thủ tục áp dụng khác nhau
không thể như nhau trong tất cả các vụ việc mà nó sẽ khác nhau từ vụ việc
này sang vụ việc khác tuỳ theo tính chất của vụ việc. Trình tự, thủ tục xem xét
để cấp Đăng ký kết hôn sẽ khác với trình tự, thủ tục công nhận tốt nghiệp cho
người học, càng khác với trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính…
11
Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt đối với các
quan hệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật
hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể.
Các quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung nên không chỉ rõ
đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao,
có ý thức pháp luật và kinh nghiệm phong phú và lương tâm nghề nghiệp.
Các đặc điểm trên làm cho áp dụng pháp luật khác hoàn toàn với các hình
thức thực hiện pháp luật khác, bởi lẽ, chủ thể tuân theo, thi hành, sử dụng
pháp luật có thể là bất kỳ tổ chức, cá nhân nào trong xã hội; trong khi đó, chủ
thể tiến hành áp dụng pháp luật chỉ có thể là chủ thể có thẩm quyền theo quy
đinh của pháp luật. Khi tuân theo, thi hành hoặc sử dụng pháp luật, chủ thể có
thể không cần đưa ra một quyết định pháp lý nào và cũng có thể không bị bắt
buộc phải theo những trình tự, thủ tục nhất định. Còn khi áp dụng pháp luật,
chủ thể có thẩm quyền luôn bị bắt buộc phải tiến hành theo những điều kiện,
trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định và bao giờ cũng phải đưa ra
một quyết định áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc mà mình thụ lý. Có
thể nói, áp dụng pháp luật bao hàm cả ba hình thức trên bởi lẽ, trong quá trình
áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền cũng có thể bị cấm thực hiện những
hành vi nhất định và họ phải tuân theo pháp luật, họ cũng phải thực hiện
những nghĩa vụ pháp lý nhất định, tức là phải thi hành pháp luật, đồng thời có
những quyền hạn nhất định tức là có thể sử dụng pháp luật.
1.2. Các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật
Áp dụng pháp luật là một quy trình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố có sự
tương tác lẫn nhau như con người, tổ chức, kỹ thuật, pháp lý. Dựa vào nội
dung công việc thực hiện cụ thể, khoa học và thực tiễn pháp lý chia quá trình
áp dụng pháp luật thành bốn giai đoạn: Phân tích đánh giá đúng chính xác
mọi tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc thực tế đã xẩy ra; lựa chọn quy
phạm pháp luật phù hợp và phân tích làm rõ nội dung, ý nghĩa của quy phạm
pháp luật đối với trường hợp cần áp dụng; ra quyết định áp dụng pháp luật; tổ
chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật đã ban hành.
13
14
nhiên, trên thực tế việc lựa chọn quy phạm pháp luật có thể xảy ra các khả
năng như sau:
- Có một quy phạm pháp luật đáp ứng đủ yêu cầu để làm cơ sở pháp lý
cho việc áp dụng. Đối với khả năng này rất thuận lợi cho các chủ thể có thẩm
quyền xác định được cơ sở pháp lý để sớm ban hành văn bản, quyết định áp
dụng pháp luật đúng thời hạn, thời hiệu theo quy định của pháp luật.
- Có hai hay nhiều quy phạm pháp luật cùng điều chỉnh quan hệ đó nhưng
đưa ra cách giải quyết khác nhau. Đây là trường hợp xung đột quy phạm pháp
luật trong áp dụng pháp luật. Thực tiễn pháp lý có các cách giải quyết đối với
tình huống này bằng việc lựa chọn quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao
hơn và lựa chọn quy phạm pháp luật được ban hành sau.
- Không có quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng pháp
luật đối với sự kiện, quan hệ đó. Đây là thực trạng pháp lý có thể xảy ra ở bất
cứ quốc gia nào ngay cả đối với những quốc gia có hệ thống pháp luật hoàn
thiện ở mức cao. Thực tiễn pháp lý có cách giải quyết đối với tình huống này
bằng việc áp dụng pháp luật tương tự.
1.2.3. Ra quyết định áp dụng pháp luật
Đây là giai đoạn quan trọng nhất bởi nó phản ánh kết quả thực tế quá trình
áp dụng pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền. Về bản chất, đây là giai
đoạn chuyển hóa những quy định chung được nêu ra trong các quy phạm
pháp luật thành những quyết định cụ thể, cá biệt. Các quyết định áp dụng
pháp luật được đưa ra phải đảm bảo tính khách quan, hợp pháp cũng như sự
phù hợp cả về nội dung và hình thức. Sự phù hợp của quyết định áp dụng
pháp luật được đưa ra cần phải xem xét ở cả hai khía cạnh là pháp lý và thực
tế. Theo đó, mức độ cá thể hóa càng chi tiết, sát thực về nội dung, yêu cầu và
đảm bảo khách quan thì quyết định áp dụng pháp luật càng chính xác, hiệu
quả.
Để các văn bản, quyết định áp dụng pháp luật được các chủ thể có liên quan
tôn trọng thực hiện cần chuẩn bị tốt để các chủ thể đó có khả năng thực hiện
quyền, nghĩa vụ pháp lý cũng như trách nhiệm và trách nhiệm pháp lý của họ
như: các điều kiện về kỹ thuật, pháp lý, tổ chức, xã hội và tư tưởng… Cần
tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực thi các quyết định áp
16
dụng pháp luật đối với các chủ thể có liên quan để đảm bảo hiệu lực và hiệu
quả của nó trên thực tế.
1.3. Áp dụng pháp luật tương tự
Khi xây dựng pháp luật, nhà làm luật đã cố gắng dự liệu hết điều kiện,
hoàn cảnh, tình huống có thể xảy ra trong đời sống để đưa ra các quy phạm
pháp luật điều chỉnh hành vi của con người. Tuy nhiên, xã hội phát triển quá
nhanh, nhiều vấn đề nảy sinh, hoặc do khả năng của nhà làm luật hạn chế, cho
nên pháp luật vẫn còn những lỗ hổng, có nhiều sự kiện, quan hệ xảy ra trên
thực tế liên quan đến lợi ích của cá nhân, tổ chức cần phải được pháp luật
điều chỉnh nhưng trên thực tế chưa có quan hệ pháp luật nào điều chỉnh. Nếu
chúng ta không vận dụng pháp luật để giải quyết, đợi ban hành quy phạm mới
để áp dụng thì nhiều khi quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
không được bảo đảm.
Trước tình thế ấy, pháp luật cho phép các cơ quan có thẩm quyền áp dụng
pháp luật tương tự và coi đây chỉ là biện pháp tạm thời mang tính tình thế.
Áp dụng pháp luật tương tự có hai hình thức là áp dụng tương tự quy
phạm pháp luật và áp dụng tương tự pháp luật.
Áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là hình thức mà các cơ quan nhà
nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực
tế bằng cách dựa trên một quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội khác
có nội dung tương tự. Điều kiện để áp dụng tương tự quy phạm pháp luật là:
ra những quy phạm pháp luật bổ sung điều chỉnh nếu cần thiết.
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng áp pháp luật
1.4.1. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật có liên quan chặt chẽ tới hoạt
động xây dựng pháp luật. “Để thực hiện và áp dụng pháp luật được tốt trước
hết phải có pháp luật tốt, nghĩa là, phải xây dựng được một hệ thống pháp
luật hoàn chỉnh, đồng bộ, sát thực tế, phù hợp với các quy luật khách quan
của sự phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với những điều kiện kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, tâm lý, tổ chức… mà trong đó pháp luật sẽ tác
động, đáp ứng những nhu cầu đòi hỏi của đất nước ở mỗi thời kỳ phát triển”
[8, tr. 6 – 11]. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thể hiện ở những tiêu
18
chuẩn như tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp
lý cao của hệ thống pháp luật.
Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật trước hết được thể hiện ở tính
toàn diện của nó. Tính toàn diện của hệ thống pháp luật đòi hỏi hệ thống pháp
luật phải đủ các ngành luật và trong mỗi ngành luật phải có đủ các chế định
pháp luật và các quy phạm pháp luật đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của pháp
luật trên tất cả các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội: dân sự, hình sự,
thương mại, đầu tư, lao động… Không chỉ chú trọng tới luật nội dung mà còn
phải chú trọng đến luật hình thức (Bộ luật tố tụng dân sự, bộ luật tố tụng hình
sự) bởi chính luật hình thức là điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện đầy đủ,
chính xác và nghiêm chỉnh luật nội dung, bảo đảm hiệu quả cao.
Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện ở sự thống nhất của nó, giữa
các bộ phận của hệ thống pháp luật (ngành luật – chế định pháp luật – quy
phạm pháp luật) không mâu thuẫn, không trùng lặp, chồng chéo với nhau.
Trên thực tế sự đồng bộ của hệ thống pháp luật còn biểu hiện ở việc ban hành
Cuối cùng, sự hoàn thiện của pháp luật còn thể hiện ở trình độ kỹ thuật
pháp lý cao khi xây dựng văn bản pháp luật. Nói một cách khái quát, thì kỹ
thuật pháp lý cao thể hiện ở ba điểm quan trọng là những nguyên tắc tối ưu
được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật; ở
việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật; ở cách biểu đạt bằng ngôn ngữ
pháp lý đảm bảo cô đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa.
Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật có quan hệ gắn bó mật thiết với thực
tiễn áp dụng pháp luật. Để áp dụng đúng pháp luật được tốt trước hết phải có
pháp luật tốt, nghĩa là phải xây dựng được một hệ thống pháp luật toàn diện,
đồng bộ, phù hợp với thực tế và trình độ kỹ thuật pháp lý cao. Ngược lại, từ
thực tiễn áp dụng pháp luật sẽ phát hiện được những thiếu sót, khiếm khuyết
của hệ thống pháp luật, từ đó có những sáng kiến pháp luật hoặc sửa đổi, bổ
sung quy phạm pháp luật để cho pháp luật ngày càng phù hợp với thực tế
cuộc sống, có tính khả thi cao.
1.4.2. Chất lượng hoạt động tổ chức áp dụng pháp luật
Chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện ở hiệu quả công tác
tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật; công tác tổ chức bộ
20
máy và các hoạt động chỉ đạo việc áp dụng pháp luật; công tác kiểm tra, giám
sát việc áp dụng pháp luật.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật là khâu quan trọng đầu tiên,
không thể thiếu được của quá trình thực hiện pháp luật nói chung và áp dụng
pháp luật nói riêng. Pháp luật sau khi được ban hành nếu không được tuyên
truyền, phổ biến tới cán bộ và nhân dân để nắm bắt được nội dung, tinh thần
các quy định pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật thì pháp
luật có tốt đẹp đến đâu đi chăng nữa cũng không có ý nghĩa. Tuyên truyền,
phổ biến pháp luật là cầu nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống, là một
Để áp dụng pháp luật đạt được hiệu quả cao không chỉ có phổ biến, tuyên
truyền, giải thích và giáo dục pháp luật mà còn phải kiểm tra, giám sát việc
thực hiện pháp luật; xử lý kịp thời nghiêm minh và nhanh chóng mọi vi phạm
pháp luật. Cần kết hợp công tác kiểm tra của Đảng, của nhà nước và của nhân
dân đối với áp dụng pháp luật; phát huy hơn nữa vai trò giám sát của các cơ
quan quyền lực nhà nước; nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan bảo
vệ pháp luật. Đồng thời, huy động sức mạnh của toàn dân vào cuộc đấu tranh
phòng ngừa và chống các vi phạm pháp luật. Qua việc kiểm tra, giám sát áp
dụng pháp luật mới có thể phát hiện ra những vi phạm pháp luật để từ đó chấn
chỉnh các hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân, đồng thời,
thấy được những bất cập của pháp luật để có đề xuất sửa đổi, bổ sung cho phù
hợp. Do vậy, cần có hoạt động kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình áp dụng
pháp luật, có những biện pháp xử lý nghiêm minh với những cán bộ, công
chức có hành vi cố ý không thực hiện pháp luật hoặc thực hiện pháp luật
không đầy đủ, đi ngược lại mục đích xã hội. Xã hội hóa công tác kiểm tra,
giám sát việc áp dụng pháp luật cần được triển khai sâu rộng với sự tham gia
của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.
Xã hội hóa công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật là một yếu
tố khách quan xuất phát từ bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do
dân và vì dân trên cơ sở dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.
1.4.3. Hiệu quả hoạt động bảo vệ pháp luật
Hoạt động bảo vệ pháp luật trước hết đó là nhiệm vụ chung của toàn xã
hội trong đó nhà nước giữ vai trò chính, nhằm bảo đảm cho pháp luật luôn
22
được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh. Hiệu quả công tác bảo vệ
pháp luật càng cao bao nhiêu thì ảnh hưởng tích cực của nó tới sự hình thành
và nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân càng cao bấy
lọt tội phạm, không làm oan người vô tội bằng hoạt động bảo vệ pháp luật thì
mới giữ vững được kỷ cương, phép nước. Ngoài hoạt động bảo vệ pháp luật
còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật để từ đó
có thể đưa ra những giải pháp hữu ích, sáng kiến pháp luật sửa đổi, bổ sung
hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và tạo cơ chế thích hợp để pháp luật
đi vào cuộc sống.
1.4.4. Trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ cán
bộ, công chức
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh “cán bộ là cái gốc của mọi công
việc” [20, tr.269] “muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay
kém. Đó là một chân lý nhất định” [21, tr. 240]. Người cán bộ, công chức tốt
là người phải có đủ trình độ, năng lực hoàn thành tốt công việc được giao
đồng thời là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Trình độ, năng lực
quản lý và phẩm chất chính trị đạo đức của cán bộ, công chức là những yếu tố
quyết định bảo đảm thực hiện pháp luật đúng đắn, có hiệu quả. Trình độ, năng
lực yếu kém, lại thiếu trách nhiệm, thiếu chủ động trong việc triển khai thực
hiện các văn bản pháp luật hiện hành thì pháp luật – dù có đúng đắn – cũng
chỉ nằm trên trang giấy. Thực trạng yếu kém trong quản lý môi trường, quản
lý an toàn lương thực, thực phẩm và nhiều lĩnh vực khác trong thời gian gần
đây rõ ràng là do trình độ, năng lực quản lý yếu kém và trách nhiệm thực thi
pháp luật của cán bộ, công chức các ngành chức năng và chính quyền địa
phương, cơ sở. Đối với các cán bộ, công chức trong các cơ quan tư pháp nếu
trình độ năng lực yếu kém sẽ tác động trực tiếp đến việc áp dụng pháp luật
dẫn đến oan sai, bỏ lọt tội phạm, xét xử thiếu công minh. Thực hiện pháp luật
nghiêm minh là yêu cầu đối với tất cả các chủ thể thực hiện pháp luật, nhưng
đối với cán bộ của các cơ quan tư pháp việc thực hiện pháp luật nghiêm minh
có yêu cầu khắt khe hơn vì thực hiện pháp luật nghiêm minh hay không
nghiêm minh của đội ngũ cán bộ này trực tiếp ảnh hưởng đến tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
cho việc thực hiện các văn bản là khác nhau. Có những văn bản pháp luật đòi
hỏi mức độ kinh phí và điều kiện vật chất không lớn, trái lại có những văn
25
bản pháp luật, nếu triển khai thực hiện đòi hỏi kinh phí và điều kiện vật chất
rất lớn. Tuy nhiên, phải quán triệt tinh thần là hoạt động áp dụng pháp luật
phải đạt được mục đích xã hội với chi phí xã hội thấp nhất cả về vật chất lẫn
tinh thần. Ngoài ra, còn phải quan tâm tới đời sống vật chất và tinh thần của
những người trực tiếp áp dụng pháp luật cũng như gia đình họ, giúp họ giảm
bớt những khó khăn tận tâm, dồn hết thời gian, sức lực, trí tuệ cho công việc,
không bị mua chuộc về vật chất, giữ được thái độ vô tư, khách quan trong
công việc. Đối với một số chức danh nhà nước cần phải có chế độ dưỡng liêm
phù hợp.
Các yếu tố bảo đảm áp dụng pháp luật nêu trên nếu được xây dựng hoàn
thiện, phát triển sẽ là điều kiện lý tưởng bảo đảm áp dụng pháp luật. Nhưng
điều đó không có nghĩa là phải hội đủ và ở một mức độ hoàn thiện cao của
các yếu tố đó mới bảo đảm cho pháp luật được áp dụng. Các yếu tố bảo đảm
áp dụng pháp luật ngoài tác động tổng thể có tính hệ thống, nền tảng, cơ sở,
điều kiện bảo đảm áp dụng pháp luật còn có tác động độc lập tương đối có
tính cộng hưởng của từng yếu tố. Vì vậy trong những không gian và thời gian
xác định, đối với những lĩnh vực cụ thể, vẫn đủ điều kiện bảo đảm cho pháp
luật được áp dụng. Đương nhiên tính vững chắc, ổn định, tự giác cao của việc
áp dụng pháp luật ở các chủ thể trong điều kiện các yếu tố nêu trên chưa đầy
đủ, hoàn thiện sẽ không bằng trong điều kiện các yếu tố bảo đảm áp dụng
pháp luật đã phát triển, hoàn thiện ở trình độ cao. Chỉ khi nào các yếu tố bảo
đảm áp dụng pháp luật phát triển, hoàn thiện ở trình độ cao mới bảo đảm việc
thực hiện pháp luật nghiêm minh, thống nhất, trở thành giá trị đạo đức trong
xã hội.