I.ĐẶT VẤN ĐỀ
Kỳ họp là hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của Quốc hội. Kỳ họp là
nơi biểu hiện trực tiếp và tập trung nhất quyền lực nhà nước của cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất; trí tuệ tập thể của các đại biểu Quốc hội. Tại kỳ họp, Quốc hội thảo luận
dân chủ và quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và của nhân dân; thực
hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với vai trò đó,
nhiệm vụ tổ chức một kỳ họp Quốc hội có hiệu quả là rất quan trọng đối với sự phát triển
bền vững của một quốc gia. Do vậy, việc có một cái nhìn toàn diện, chính xác về thực
trạng của kỳ họp Quốc hội của nước ta hiện nay rất cần thiết trong việc tìm ra những giải
pháp để nâng cao tính hiệu quả của hình thức hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của
Quốc hội này.
II.NỘI DUNG
1. Giới thiệu chung về kỳ họp Quốc hội.
Điều 86 Hiến pháp 1992 quy định: Quốc hội Việt Nam họp thường lệ mỗi năm hai kỳ
do Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập.Trong trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng
Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết
định của mình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định triệu tập kỳ họp Quốc hội thường lệ chậm
nhất là ba mươi ngày, kỳ họp Quốc hội bất thường chậm nhất là bảy ngày, trước ngày
khai mạc kỳ họp.
Các kỳ họp của Quốc hội đều công khai, một số phiên họp được truyền hình trực tiếp,
phát sóng toàn quốc và ra nước ngoài. Tuy nhiên, Quốc hội cũng có thể họp kín theo đề
nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất
1/3 tổng số đại biểu Quốc hội. Thành viên của Chính phủ không phải là đại biểu Quốc
hội được mời tham dự các phiên họp toàn thể của Quốc hội. Đại diện cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan báo chí, công dân và khách quốc
tế có thể được mời dự các phiên họp công khai của Quốc hội.
2. Thực trạng và giải pháp về vấn đề kỳ họp Quốc hội hiện nay.
Vì những đặc điểm mang tính ổn định về nội dung và tính chất của kỳ họp Quốc
hội mà hiệu quả (kết quả) kỳ họp phụ thuộc chủ yếu vào ba loại vấn đề lớn là việc chuẩn
bị cho kỳ họp, quá trình họp của kỳ họp Quốc hội và tinh thần làm việc của đại biểu
lệnh còn lúng túng, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc.
• Chất lượng soạn thảo các dự án luật được trình Quốc hội đã được nâng lên
một bước so với trước đây nhưng vẫn còn hạn chế. Các dự thảo luật do các cơ quan quản
lý chuyên ngành soạn thảo nên chủ yếu chỉ cố gắng đưa ra các biện pháp tình thế nhằm
bảo đảm thuận lợi cho quản lý ngành mà ít chú ý đến khâu phân tích chính sách, mô hình
hóa để quy định của luật trở thành mực thước chung, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội,
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Các dự thảo luật còn dừng lại ở mức nguyên tắc,
thiếu cụ thể. Sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong việc chuẩn bị dự án còn chưa
chặt chẽ nên còn có một số dự án luật có báo cáo, tờ trình hoặc dự thảo chưa được chuẩn
bị kỹ về nội dung, về kỹ thuật soạn thảo văn bản.
• Khi đã có dự thảo luật thì phải chuẩn bị tờ trình. Đây là một tài liệu rất
quan trọng, nó có ý nghĩa như một bản thuyết trình phân tích đầy đủ tính khoa học, tính
thực tiễn, cách thiết kế các chương, điều; những nội dung cơ bản, những vấn đề còn có ý
kiến khác nhau... Đáng chú ý là vừa qua có một số dự án luật, tờ trình rất sơ sài (chỉ nói
đã dự thảo bao nhiêu lần, có mấy chương, mấy điều) không nói được những vấn đề cần
tập trung cho ý kiến, thậm chí tránh né những vấn đề phức tạp.
• Chất lượng thẩm tra dự án luật còn chưa cao. Điều này do nhiều nguyên
nhân: các dự án luật được gửi đến Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội chậm làm
cho các cơ quan này lúng túng, không chủ động được trong việc tổ chức phiên họp thẩm
tra; các thành viên của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, lại
cư trú ở nhiều địa phương khác nhau nên việc tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra dự
án luật gặp khó khãn; bộ máy giúp việc trong các cơ quan này còn thiếu chuyên gia giỏi
có nhiều kinh nghiệm về các lĩnh vực thuộc nội dung của dự án…
a.1.2 Giải pháp
Về chất lượng soạn thảo dự án luật, muốn có một dự thảo luật tốt trước hết ban
soạn thảo phải thật sự khách quan, đứng trên lợi ích của toàn xã hội. Vì vậy ít nhất phải
tập hợp được ba loại chuyên gia, đó là chuyên gia pháp luật chuyên ngành, chuyên gia
các ngành luật có liên quan và chuyên gia kỹ thuật lập pháp.
b.2. Giải pháp.
- Trong công tác chuẩn bị phải thống kê rất rõ số lượng báo cáo phải đọc, số trang
của từng báo cáo và tổng số trang của tất cả các báo cáo. Thông thường thời gian đọc mỗi
trang in khổ A4 từ 2,5 đến 3 phút. Từ "định mức" đó mà xác định thời gian cần thiết để
đọc toàn bộ các văn bản.
- Về vấn đề chuẩn bị của đại biểu Quốc hội, có nhiều biện pháp khắc phục tình hình
này, nhưng trước hết là phải đổi mới quy trình xây dựng luật mà nhiều luật gia, các nhà
quản lý đã kiến nghị.
+ Trong đó, đáng lưu ý nhất là việc chuẩn bị các dự án luật khi được chuyển đến
UBTVQH thì chủ yếu phải là Hội đồng Dân tộc và các ủy ban chịu trách nhiệm chuẩn bị
(Hội đồng Dân tộc, các ủy ban phải chịu trách nhiệm tới mức đạt được yêu cầu trình ra
Quốc hội). Nếu một năm thông qua 20 dự án luật thì bình quân mỗi ủy ban, Hội đồng chỉ
phải đảm nhiệm 2 dự án, do đó sẽ không đến nỗi cập rập lắm. Tuy nhiên, không thể
không tính toán khối lượng công việc xây dựng luật để quy định lại thời gian cho mỗi
công đoạn phù hợp với thực tế.
+ Thứ hai là cách chuẩn bị ý kiến của đại biểu Quốc hội trước khi về dự kỳ họp, nên
chăng trong mỗi dự án luật, UBTVQH chỉ yêu cầu đại biểu nghiên cứu chuẩn bị vài ba
vấn đề then chốt nhất, gay cấn nhất, mà không nhất thiết phải chuẩn bị cả dự án luật (trên
thực tế, nhiều đại biểu đã thực hành như vậy)...
2.2.Quá trình họp của kỳ họp Quốc hội
Có rất nhiều vấn đề diễn ra trong các phiên họp làm ảnh hưởng đến tính hiệu quả
trong quá trình làm việc, tuy nhiên trong khuôn khổ giới hạn của bài viết, chỉ xin được đề
cập đến thực trạng và những giải pháp cơ bản về một số những yếu tố điển hình như sau:
vai trò của người điều hành kỳ họp, vấn đề sinh hoạt ở tổ, đoàn trong kỳ họp, vấn đề chất
vấn và trả lời chất vấn, vấn đề thông qua luật.
a. Vai trò của người tổ chức và điều hành kỳ họp
a.1 Thực trạng
Tại các phiên họp toàn thể trong các kỳ họp vừa qua, việc điều hành có rất nhiều
- Nếu cuộc họp chỉ để lấy ý kiến thì người chủ trì, người lãnh đạo phải xác định nghe
là chính, tránh tình trạng lái mọi ý kiến sang ủng hộ ý kiến riêng của mình dù nhiều
người chưa đồng tình.
b. Vấn đề sinh hoạt ở tổ, đoàn trong kỳ họp
b.1. Thực trạng
Không chỉ các phiên họp toàn thể mà tất cả các phiên làm việc ở tổ, ở đoàn, việc
điều hành đều có vai trò chi phối kết quả phiên họp. Như vậy, ngoài chủ tọa phiên họp
toàn thể còn có 22 tổ trưởng và hơn 30 tổ phó của 22 tổ góp phần quan trọng vào kết quả
kỳ họp (trừ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, tổ và đoàn là một, còn các tổ khác mỗi tổ
có từ 2 đến 5 đoàn).
Tuy nhiên vẫn còn có tình trạng các đại biểu coi sinh hoạt ở tổ, đoàn không quan
trọng bằng các phiên họp toàn thể nên dễ tranh thủ đi làm việc khác; chưa triệt để tận
dụng thời gian (nhất là buổi làm việc cuối tuần).
b.2. Giải pháp
Các phiên làm việc ở tổ, đoàn cần khắc phục những hiện tượng làm lãng phí thời
gian và không có hiệu quả như trên. Người điều khiển (tổ trưởng, tổ phó) nên nghiên cứu
kỹ hơn vấn đề cần thảo luận để có thể có các gợi ý, hay là người phát biểu ý kiến đầu tiên
tạo không khí làm việc tích cực ngay từ đầu mỗi phiên làm việc.
c. Vấn đề chất vấn và trả lời chất vấn
Chất vấn là quyền của đại biểu Quốc hội đòi hỏi một cơ quan nhà nước, một nhà
chức trách nào đó phải trả lời, phải báo cáo với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất về
vấn đề có liên quan đến hoạt động của cơ quan hoặc người bị chất vấn.
Chất vấn là một biện pháp thực hiện quyền giám sát của Quốc hội, nó thực sự
phát huy tác dụng tại các kỳ họp Quốc hội.
c.1. Thực trạng.
- Về việc gửi chất vấn, theo quy định tại Điều 43 của Nội quy kỳ họp Quốc hội và
Điều 49 của Luật tổ chức Quốc hội thì đại biểu gửi chất vấn trong thời gian Quốc hội họp
để chuyển đến người bị chất vấn.
Theo trình tự này thì những chất vấn gửi vào cuối kỳ họp sẽ rất khó xử lý tại kỳ
họp (chỉ còn cách là chuyển về phiên họp UBTVQH để thực hiện sau). Nhưng nếu phải
- Không nên hỏi quá nhiều về một vấn đề, thay vào đó, đại biểu Quốc hội nên
chọn lọc để tập trung vào những khúc mắc lớn, mang tầm khái quát, thật sự có giá trị chứ
không nên sa đà vào những cái tản mạn.
- Về những vướng mắc hoặc chưa thỏa đáng của đại biểu Quốc hội, sau này khi
sửa đổi các luật có liên quan đến việc này, phải làm rõ cơ chế, thủ tục thực hiện, hoặc khi
thông qua chương trình kỳ họp thì ngoài 3 ngày tiến hành chất vấn chính thức, cần quy
định thêm thời gian dự phòng
- Phải phân loại các loại ý kiến để quy định thời gian cho mỗi lần phát biểu. Phát
biểu thảo luận kinh tế, xã hội, thu chi ngân sách; cho ý kiến lần đầu về các dự án luật thì
có thể tối đa 15 phút như quy định hiện hành; thảo luận các báo cáo hàng năm về lĩnh
vực tư pháp, về một số dự án khác... thì khoảng 10 phút; phát biểu thảo luận một điều
luật khi thông qua dự án luật, hoặc phát biểu lại một vấn đề... thì chỉ nên 5 phút.
d. Vấn đề thông qua luật
d.1. Thực trạng
Từ sau khi Nhà nước ta ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, hoạt động xem xét, thông qua luật tại kỳ họp Quốc hội
ngày càng đi vào nề nếp và trở nên thiết thực, có hiệu quả hơn.Tuy nhiên vẫn còn những
bất cập, hạn chế và nhìn chung còn có điểm chưa thật sự phù hợp với tính chất và đặc
điểm của Quốc hội nước ta. Ðiển hình là một số điểm như sau:
- Về quy trình thông qua luật:
+ Việc trình Quốc hội xem xét, thông qua các dự án luật còn thiếu sự đồng bộ,
chưa thực sự ưu tiên các văn bản luật có nhu cầu cấp thiết ban hành.
+ Số lượng các luật cần được thông qua trong mỗi kỳ họp là quá lớn so với khả
năng thông qua của Quốc hội hiện nay.
+ Quốc hội vẫn chưa thực hiện được việc biểu quyết những nội dung cơ bản của
dự thảo luật trong lần thảo luận đầu tiên để làm cơ sở cho việc chỉnh lý do việc cung cấp
thông tin, tư liệu liên quan đến các dự án luật còn chưa kịp thời, đầy đủ.
+ Sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong quá trình chuẩn bị các dự án luật
Một số đại biểu vẫn chưa chuẩn bị, nghiên cứu kỹ lưỡng những vấn đề của kỳ họp
- Có đại biểu phát biểu sau, vì ý kiến viết thành bài sẵn nên vẫn đọc nguyên xi các
thông tin đã “bão hòa”, do đó mức độ trùng lặp khá cao.
- Có những đại biểu rất ngại phát biểu hoặc ngược lại, cũng có những đại biểu việc gì
cũng muốn nói vài lần (mặc dù thông tin không thật “đắt giá”, bổ ích lắm).
- Việc kiêm nhiệm đòi hỏi phải trực tiếp xử lý nhiều công việc đã làm cho người kiêm
nhiệm “quá tải”... Ví dụ như rất nhiều phiên họp của UBTVQH khoá XI không đủ 2/3 số
thành viên theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, vì nhiều Chủ nhiệm còn phải giải
quyết công việc của Ủy ban. Ngay như trong kỳ họp Quốc hội thứ hai vừa qua, tại những
phiên biểu quyết thông qua nghị quyết quan trọng, số lượng đại biểu vắng mặt lên tới 50.
Điều này gây khó khăn rất lớn trong việc thực hiện nguyên tắc làm việc tập trung và biểu
quyết theo đa số.
- Vẫn còn tình trạng đại biểu không thật sự chú ý trong các phiên họp, có những tư thế
thiếu thẩm mĩ vô tình “phô bày” trên màn hình trông rất phản cảm
b.Giải pháp
- Đại biểu phải đọc dần các tài liệu đã được gửi tới trước ( báo cáo kinh tế- xã hội,
các dự án luật,…) để hiểu được nội dung, có thể tham gia thảo luận; chuẩn bị các tài liệu
của địa phương mình, ngành mình có liên quan đến những vấn đề đó.
- Chuẩn bị kỹ các ý kiến để tham gia thảo luận, đặc biệt là những vấn đề, những
lĩnh vực mà mình hiểu biết sâu, có nhiều thông tin có thể trao đổi. Đại biểu phải theo dõi
liên tục để điều chỉnh ý kiến của mình cho hợp lý, nâng cao hiệu quả đóng góp của mình.
- Đại biểu phải tham dự đầy đủ mọi phiên họp, vì đây là vấn đề thuộc tiêu chuẩn
đại biểu (có điều kiện hoạt động cho Quốc hội). Đại biểu chỉ nên vắng mặt trong trường
hợp bất khả kháng. Để đạt kết quả cao, đại biểu cần tập trung toàn bộ tâm trí, sức lực cho
các công việc của kỳ họp. Đại biểu nên hết sức tránh những tình trạng, tư thế thiếu thẩm
mĩ trong các phiên họp.
III.LỜI KẾT.
Mặc dù vẫn còn tồn tại một số vấn đề chưa thật sự hoàn thiện nhưng với sự cố