So sánh những điểm giống nhau và khác nhau giữa thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt - Pdf 38

LỜI MỞ ĐẦU
Chủ trương cải cách hệ thống thuế ở nước ta được khởi xướng từ năm
1989, đến năm 2008 một hệ thống luật, pháp lệnh, nghị định về thuế áp dụng
thống nhất trong cả nước được ban hành. Các sắc thuế trong hệ thống thuế
này được áp dụng chung cho tất cả cả các thành phần kinh tế, không còn sự
phân biệt giữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh như trước đây. Từ
năm 1996 ta tiến hành cải cách thuế bước hai. Hệ thống thuế mới này đã đánh
dấu một bước tiến bộ trong công tác quản lý vĩ mô của Đảng và Nhà nước ta,
đóng góp tích cực vào sự quản lý kinh tế vĩ mô và tăng thu cho ngân sách nhà
nước. Trong công cuộc cải cách thuế bước hai, cùng với việc thực hiện thuế
mới là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Việt Nam
đã tiến hành sửa đổi và cho ra đời một số luật thuế mới khác trong đó có Luật
thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng. Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt
và thuế giá trị gia tăng sau 9 năm thực hiện đã dần đi vào đời sống và có
những tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội đất nước cũng như góp
phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu cho ngấn sách nhà nước, đồng thời đem
lại những kết quả nhất định trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng hàng
hoá, dịch vụ được coi là đặc biệt và điều tiết thu nhập.


NỘI DUNG
Trước khi đi vào so sánh em xin trình bày về một vài khái niệm cơ bản:
- Thuế giá trị gia tăng (thuế GTGT) là thuế tính trên giá trị tăng thêm
của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt (thuế TTĐB) là một loại thuế gián thu, đánh
vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo qui định của luật
thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ và
do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ.
I.Những nét giống và tương đồng nhau giữa thuế GTGT và thuế
TTĐB:

TTĐB cũng có những nét chung về phạm vi áp dụng.
- Đối tượng chịu thuế:
*Hàng hóa:
a) Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút,
hít, nhai, ngửi, ngậm;
b) Rượu;
c) Bia;
d) Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại
có từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở
người và khoang chở hàng;
đ) Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên
125cm3;
e) Tàu bay, du thuyền;
g) Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade
component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng;


h) Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống;
i) Bài lá;
k) Vàng mã, hàng mã.
*. Dịch vụ:
a) Kinh doanh vũ trường;
b) Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke);
c) Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò
chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự;
d) Kinh doanh đặt cược;
đ) Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;
e) Kinh doanh xổ số.
- Đối tượng không chịu thuế:
Hàng hóa nhập khẩu trong trường hợp viện trợ nhân đạo, viện trợ


Phạm vi áp
dụng:
+ Đối tượng Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho
chịu thuế
sản xuất, kinh doanh và tiêu

Hàng hóa:

a) Thuốc lá điếu, xì gà
và chế phẩm khác từ cây thuốc
dùng ở Việt Nam là đối tượng lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi,
chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các ngậm;
b) Rượu;
đối tượng quy định tại Điều 5
của Luật này, bao gồm cả những
đối tượng chịu thuế TTĐB

c) Bia;
d) Xe ô tô dưới 24 chỗ,
kể cả xe ô tô vừa chở người,
vừa chở hàng loại có từ hai
hàng ghế trở lên, có thiết kế
vách ngăn cố định giữa khoang
chở người và khoang chở
hàng;
đ) Xe mô tô hai bánh, xe
mô tô ba bánh có dung tích xi
lanh trên 125cm3;
e) Tàu bay, du thuyền;

TTĐB chỉ tập trung điều tiết một số mặt hàng và dịch vụ nhất định, không được
nhà nước khuyến khích tiêu dùng
+ Đối tượng
nộp thuế

Người nộp thuế giá trị gia

Người nộp thuế tiêu thụ

tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, đặc biệt là tổ chức, cá nhân sản
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ xuất, nhập khẩu hàng hóa và
chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây kinh doanh dịch vụ thuộc đối
gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ tượng chịu thuế tiêu thụ đặc
chức, cá nhân nhập khẩu hàng biệt.
hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau


đây gọi là người nhập khẩu).

Trường hợp tổ chức, cá
nhân có hoạt động kinh doanh
xuất khẩu mua hàng hoá thuộc
diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt
của cơ sở sản xuất để xuất
khẩu nhưng không xuất khẩu
mà tiêu thụ trong nước thì tổ
chức, cá nhân có hoạt động
kinh doanh xuất khẩu là người
nộp thuế tiêu thụ đặc biệt.


chính trị xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị vũ trang
nhân dân, quà biếu, quà tặng
cho cá nhân tại Việt Nam theo
mức quy định của Chính phủ;

3. Tưới, tiêu nước; cày,
bừa đất; nạo vét kênh, mương
nội đồng phục vụ sản xuất nông
nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản
phẩm nông nghiệp.

2. Hàng hóa nhập khẩu
bao gồm:

4. Sản phẩm muối được
sản xuất từ nước biển, muối mỏ
b) Hàng hóa vận chuyển
tự nhiên, muối tinh, muối i-ốt.
quá cảnh hoặc mượn đường
5. Nhà ở thuộc sở hữu nhà qua cửa khẩu, biên giới Việt
nước do Nhà nước bán cho Nam , hàng hóa chuyển khẩu
theo quy định của Chính phủ;
người đang thuê.
6. Chuyển quyền sử dụng

c) Hàng tạm nhập khẩu,


đất.

Chính phủ.
được từ 24 người trở lên; xe ô
11. Dịch vụ phục vụ công tô chạy trong khu vui chơi, giải
cộng về vệ sinh, thoát nước trí, thể thao không đăng ký lưu
đường phố và khu dân cư; duy trì hành và không tham gia giao
vườn thú, vườn hoa, công viên, thông;
cây xanh đường phố, chiếu sáng
5. Hàng hoá nhập khẩu
công cộng; dịch vụ tang lễ.
12. Duy tu, sửa chữa, xây từ nước ngoài vào khu phi thuế
dựng bằng nguồn vốn đóng góp quan, hàng hoá từ nội địa bán
của nhân dân, vốn viện trợ nhân
đạo đối với các công trình văn vào khu phi thuế quan và chỉ
hóa, nghệ thuật, công trình phục sử dụng trong khu phi thuế
vụ công cộng, cơ sở hạ tầng và
nhà ở cho đối tượng chính sách quan, hàng hoá được mua bán
xã hội.
giữa các khu phi thuế quan với
13. Dạy học, dạy nghề nhau, trừ xe ô tô chở người
theo quy định của pháp luật.
dưới 24 chỗ
14. Phát sóng truyền thanh,
truyền hình bằng nguồn vốn ngân


sách nhà nước.
15. Xuất bản, nhập khẩu,
phát hành báo, tạp chí, bản tin
chuyên ngành, sách chính trị,
sách giáo khoa, giáo trình, sách

dùng phục vụ quốc phòng, an
ninh.
19. Hàng hóa nhập khẩu
trong trường hợp viện trợ nhân
đạo, viện trợ không hoàn lại; quà
tặng cho cơ quan nhà nước, tổ


chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp, đơn
vị vũ trang nhân dân; quà biếu,
quà tặng cho cá nhân tại Việt
Nam theo mức quy định của
Chính phủ; đồ dùng của tổ chức,
cá nhân nước ngoài theo tiêu
chuẩn miễn trừ ngoại giao; hàng
mang theo người trong tiêu
chuẩn hành lý miễn thuế.
Hàng hoá, dịch vụ bán cho
tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ
chức quốc tế để viện trợ nhân
đạo, viện trợ không hoàn lại cho
Việt Nam.
20. Hàng hoá chuyển
khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt
Nam; hàng tạm nhập khẩu, tái
xuất khẩu; hàng tạm xuất khẩu,
tái nhập khẩu; nguyên liệu nhập
khẩu để sản xuất, gia công hàng
hoá xuất khẩu theo hợp đồng sản

mức lương tối thiểu chung áp
dụng đối với tổ chức, doanh
nghiệp trong nước.
Cơ sở kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ không chịu thuế giá
trị gia tăng quy định tại Điều này
không được khấu trừ và hoàn thuế
giá trị gia tăng đầu vào, trừ trường
hợp áp dụng mức thuế suất 0%
quy định tại khoản 1 Điều 8 của
Luật này.


KẾT LUẬN
Trong cuộc cải cách thuế lần thứ nhất năm 1990 và cuộc cải cách thuế
lần thứ hai 1996, Luật thuế TTĐB và thuế GTGT được ban hành thay thế cho
Luật thuế hàng hoá và Luật thuế doanh thu.Từ đó đến nay, trong tiến trình cải
cách chế độ thuế ở Việt Nam, thuế TTĐB và thuế GTGT đã được bổ sung,
sửa đổi nhiều lần cho phù hợp và phạm vi áp dụng thuế TTĐB, thuế GTGT
cũng vì thế thay đổi theo. Đến nay, đối tượng chịu thuế TTĐB và thuế GTGT
không chỉ bao trùm hầu hết các loại hàng hoá, dịch vụ thông thường mà còn
áp dụng cả đối với một số loại hình dịch vụ cao cấp, đối tượng nộp thuế là tất
cả các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có sản xuất, nhập khẩu
và kinh doanh các loại hàng hoá, dịch vụ chịu thuế TTĐB và thuế GTGT.
Qua những so sánh trên đã làm rõ những nét chung và riêng của thuế TTĐB
và thuế GTGT cũng như vị trí quan trọng của chúng trong hệ thống thuế Việt
Nam.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Thu Vân - 039
Phạm Hải Anh - 057
Đặng Hồng Quân - 060


MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
Chủ trương cải cách hệ thống thuế ở nước ta được khởi xướng từ năm
1989, đến năm 2008 một hệ thống luật, pháp lệnh, nghị định về thuế áp dụng
thống nhất trong cả nước được ban hành. Các sắc thuế trong hệ thống thuế
này được áp dụng chung cho tất cả cả các thành phần kinh tế, không còn sự
phân biệt giữa khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh như trước đây. Từ
năm 1996 ta tiến hành cải cách thuế bước hai. Hệ thống thuế mới này đã đánh
dấu một bước tiến bộ trong công tác quản lý vĩ mô của Đảng và Nhà nước ta,
đóng góp tích cực vào sự quản lý kinh tế vĩ mô và tăng thu cho ngân sách nhà
nước. Trong công cuộc cải cách thuế bước hai, cùng với việc thực hiện thuế
mới là thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Việt Nam
đã tiến hành sửa đổi và cho ra đời một số luật thuế mới khác trong đó có Luật
thuế Tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế giá trị gia tăng. Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt
và thuế giá trị gia tăng sau 9 năm thực hiện đã dần đi vào đời sống và có
những tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội đất nước cũng như góp
phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu cho ngấn sách nhà nước, đồng thời đem
lại những kết quả nhất định trong việc hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng hàng
hoá, dịch vụ được coi là đặc biệt và điều tiết thu nhập.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status