Vai trò của nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn áp dụng qui phạm điều ước và qui phạm tập quán - Pdf 38

I/ Lời mở đầu
Trong một thế giới thay đổi từng ngày, với đời sống quốc tế sôi
động, những qui phạm luật quốc tế liên tục được hình thành và phát triển.
Thực tiễn quan hệ quốc tế đã đặt ra nhu cầu lớn về hình thành và viện dẫn áp
dụng các qui phạm điều ước và qui phạm tập quán quốc tế một cách linh hoạt
và hiệu quả. Ngày nay, ngày càng nhiều luật gia cho rằng nghị quyết của các
tổ chức quốc tế liên chính phủ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình
thành cũng như viện dẫn áp dụng qui phạm điều ước và qui phạm tập quán
quốc tế.
II/Nội dung:
1.

Những vấn đề chung:

1.1. Qui phạm điều ước và qui phạm tập quán quốc tế:
Qui phạm luật quốc tế được hiểu là những qui tắc xử sự do các chủ thể
của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên hoặc thừa nhận giá trị pháp lí của
chúng để điều chỉnh các quan hệ quốc tế. Qui phạm luật quốc tế là công cụ cơ
bản và quan trọng nhất có chức năng điều chỉnh các quan hệ diễn ra giữa các
chủ thể luật quốc tế và là hạt nhân trong cấu trúc của hệ thống pháp luật quốc
tế. Nội dung của qui phạm luật quốc tế luôn chứa đựng các quyền và nghĩa vụ
pháp lí quốc tế của cac chủ thể luật quốc tế với nhau. Có thể khẳng định rằng,
nội dung của các qui phạm pháp luật quốc tế là cơ sở pháp lí để đánh giá tính
pháp lí của các hành vi của các chủ thể khác khi tham gia vào các quan hệ
pháp luật quốc tế. Mọi hành vi vi phạm các qui định của qui phạm luật quốc
tế là cơ sở pháp lí để xác định trách nhiệm pháp lí quốc tế đối với các chủ thể
luật quốc tế.
Căn cứ vào phương thức hình thành và hình thức tồn tại của qui phạm,
qui phạm luật quốc tế có thể được chia thành qui phạm điều ước và qui phạm
tập quán.



Qui phạm tập quán quốc tế là loại qui phạm bất thành văn do các quốc
gia thừa nhận và “luật hóa” các qui tắc xử sự trong quan hệ quốc tế. Theo


nghĩa là nguồn của luật quốc tế, tập quán quốc tế là những qui tắc xử sự hình
thành trong thực tiễn quan hệ quốc tế được các quốc gia và các chủ thể khác
của luật quốc tê thừa nhận rộng rãi là những qui phạm có tính chất pháp lí bắt
buộc để điều chỉnh quan hệ quốc tế. Tập quán quốc tế được tạo thành từ hai
yếu tố:

Yếu tố vật chất – là những hành

vi xử sự được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần trong thực tiễn quan hệ giữa các
quốc gia để tạo ra những qui tắc xử sự thống nhất, hành vi có thể là hành vi
lập pháp, hành pháp hoặc tư pháp của quốc gia.

Yếu tố tâm lí

– được tạo thành khi chủ thể của luật quốc tế nhận thức rằng, việc áp dụng các
qui tắc thực tiễn ấy là đúng về mặt pháp lí, mọi sự không tôn trọng qui tắc này
được xem là vi phạm các nghĩa vụ pháp lí quốc tế.
Để trở thành nguồn luật quốc tế, tập quán quốc tế phải đáp ứng các
điều kiện sau: 1- Tập quán quốc tế đó phải được áp dụng một thời gian dài
trong thực tiễn quan hệ quốc tế; 2- Tập quán đó phải được thừa nhận rộng rãi
như những qui phạm có tính chất bắt buộc, 3- Tập quán quốc tế phải có nội
dung phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
Một quan điểm tương đối phổ biến hiện nay
cho rằng trong luật quốc tế tồn tại hai loại qui phạm tập quán quốc tế.
Loại qui phạm “truyền thống”,

Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ được coi là một
loại phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế, gồm hai loại là các nghị quyết
có tính qui phạm và các nghị quyết mang tính khuyến nghị.
Nghị quyết có tính qui phạm là các nghị quyết qui định qui định về mức
độ đóng góp của các quốc gia thành viên, về tổ chức và hoạt động của bộ
máy, về thủ tục quan trọng trong hoạt động của từng tổ chức. Những qui định
có tính bắt buộc được đề cập đến trong chính điều lệ (qui chế) của mỗi tổ
chức. Các nghị quyết này tạo ra qui phạm pháp lí đối với từng tổ chức quốc tế
nhất định và là nguồn của luật quốc tế, nhưng không phải là nguồn của luật
quốc tế nói chung mà là luật của tổ chức quốc tế. Chúng có giá trị pháp lí bắt
buộc đối với từng tổ chức quốc tế, với cơ quan và thành viên của nó.
Nghị quyết có tính khuyến nghị của tổ chức quốc tế : Các nghị
quyết – khuyến nghị của Đại hội đồng Liên hợp quốc và tổ chức quốc tê khác
là văn kiện quốc tế, trong đó có các định hướng, chủ trương, biện pháp giải
quyết từng vấn đề nhất định mang tính thời sự của đời sống quốc tế, hoặc
tuyên bố về nguyên tắc giải quyết những vấn đề nào đó trong quan hệ quốc tế.
Tự bản thân, các nghị quyết này chỉ mang tính khuyến nghị mà không
sinh ra quy phạm pháp lí, không có hiệu lực pháp lí bắt buộc các quốc gia


phải tuân theo, và vì thế chúng không được coi là nguồn của luật quốc tế. Tuy
vậy, nhiều nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc giữ vai trò quan trọng
trong quá trình hình thành và phát triển của qui phạm luật quốc tế, đồng thời
được công nhận là phương tiện bổ trợ để xác định qui phạm luật quốc tế.

2. Vai trò của nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chính phủ
trong quá trình hình thành cũng như viện dẫn áp dụng qui phạm điều
ước và qui phạm tập quán.
Nhiều luật gia cho rằng nghị quyết của các tổ chức quốc tế, chủ yếu là
Liên hợp quốc, cũng là nguồn của luật quốc tế hiện đại. Quan điểm này khẳng

với nguyên tắc không sử dụng vũ lực với tư cách là nguyên tắc của luật tập
quán.
2.1. Đối với quy phạm điều ước :
Ngày nay nhiều tổ chức quốc tế đóng vai trò rất quan trọng trong quá
trình kí kết điều ước quốc tế. Tổ chức quốc tế có thể đưa ra sáng kiến kí kết
điều ước về những vấn đề quốc tế để các nước thành viên xem xét và quyết
định việc kí kết hoặc phê chuẩn. Ví dụ, Công ước về quyền ưu đãi và miễn trừ
của Liên hợp quốc (năm 1946), Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển
năm 1982, sau khi đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua, được đưa
ra để các nước thành viên kí và phê chuẩn.
Trong những trường hợp như vậy tổ chức quốc tế chỉ đóng vai trò là cơ
quan bổ trợ cho các quốc gia, chỉ thông qua văn bản điều ước quốc tế, chứ
không thể làm cho điều ước quốc tế có hiệu lực. Chỉ có các quốc gia, sau khi
đã kí hoặc phê chuẩn theo thủ tục qui định, mới quyết định hiệu lực của điều
ước quốc tế.
Theo Hiến chương Liên hợp quốc, Đại hội đồng Liên hợp quốc có quyền
thông qua hai loại quyết định có giá trị khác nhau. Đại hội đồng chỉ có quyền
thông qua quyết nghị có tính chất bắt buộc về một số vấn đề rất hẹp, chủ yếu
thuộc về tổ chức và tài chính của Liên hợp quốc. Còn đối với tất cả các vấn đề
khác thuộc lĩnh vực hoạt động chủ yếu của Liên hợp quốc, Đại hội đồng chỉ


có quyền thông qua kiến nghị (điều 10 và 8 Hiến chương Liên hợp quốc). Hai
loại văn bản trên khác nhau cơ bản ở chỗ quyết nghị có giá trị pháp lí bắt buộc
đối với quốc gia thành viên và do đó, làm phát sinh trực tiếp quyền và nghĩa
vụ pháp lí, còn kiến nghị chưa có giá trị pháp lí bắt buộc, mà mới chỉ là
nguyện vọng của Liên hợp quốc và đề nghị các quốc gia thành viên chấp
nhận. Kiến nghị chỉ làm phát sinh hậu quả pháp lí khi nào đã được các quốc
gia thành viên chấp nhận, thông qua việc đăng kí và phê chuẩn, tùy theo sự
qui định cụ thể về thủ tục trong từng trường hợp.

pháp lực lượng vũ trang tấn công vào lãnh thổ quốc gia khác, cũng như bất kì
sự bao cây phong tỏa nào bằng lực lượng vũ trang chống lại quốc gia ấy.
Như vậy, việc các quốc gia đồng tình với Nghị quyết trên đây của Đại
hội đồng Liên hợp quốc về Định nghĩa xâm lược đã thể hiện sự thừa nhận
hiệu lực thực tế của Nghị quyết, để từ đó các quốc gia hành động theo những
chuẩn mực được qui định trong Nghị quyết. Chừng nào Nghị quyết này chưa
phải là điều ước quốc tế thì việc các quốc gia hành động theo những chuẩn
mực của nó chính là sự thừa nhận quy phạm tập quán quốc tế mới hình thành.
Từ thực tiễn Tòa án quốc tế Liên hợp quốc, đôi khi nghị quyết của tổ
chức quốc tế được coi là bằng chứng của luật tập quán. Điều này được thể
hiện rõ ràng trong thực tiễn tòa án quốc tế của Liên hợp quốc, bởi vì trong
nhiều trường hợp Tòa có nhiệm vụ phải xác định rõ đâu là quy phạm tập quán
của luật quốc tế liên quan đến việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia
Một ví dụ tiêu biểu là trong vụ Nicaragua kiện Mỹ năm 1984, Năm 1984,
Nicaragua đâm đơn kiện Mỹ về những hoạt động quân sự và bán quân sự bất
hợp pháp chống lại chính quyền và toàn vẹn lãnh thổ Nicaragua mìn ở các
cảng của Nicaragua và ủng hộ phiến quân Contras thuộc đảng đối lập. Tòa án
quốc tế đã xem xét những quy phạm của luật tập quán quốc tế áp dụng cho vụ
tranh chấp này , cùng với Hiến chương LHQ và Hiến chương của Tổ chức các
nước châu Mỹ cũng như hiệu lực của các bảo lưu các điều ước đa phương.
Trong vụ này , cùng lúc với thực thi thẩm quyền chỉ trong lĩnh vực áp dụng
các quy định tập quán về không sử dụng vũ lực và không can thiệp, tòa án lưu


ý rằng các bên bị các quy định này ràng buộc như là một bộ phận của luật
điều ước và luật tập quán quốc tế. Tòa đã quyết định rằng việc các bên đồng
tình với Nghị quyết 2625 (XXV) của Liên hợp quốc; “Tuyên bố về các
nguyên tắc của luật quốc tế” là thể hiện sự công nhận hiệu lực pháp lí (opinio
juris) đối với các nguyên tắc này, trong đó có nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực
với tư các là nguyên tắc của luật quốc tế.

NXBCTQG, 2010.
4.

Luật quốc tế - Lý luận và thực tiễn, Ts. Trần Văn Thắng – Ths. Lê

Mai Anh, NXBGD, 2001.


MỤC LỤC


I/ Lời mở đầu
Trong một thế giới thay đổi từng ngày, với đời sống quốc tế sôi
động, những qui phạm luật quốc tế liên tục được hình thành và phát triển.
Thực tiễn quan hệ quốc tế đã đặt ra nhu cầu lớn về hình thành và viện dẫn áp
dụng các qui phạm điều ước và qui phạm tập quán quốc tế một cách linh hoạt
và hiệu quả. Ngày nay, ngày càng nhiều luật gia cho rằng nghị quyết của các
tổ chức quốc tế liên chính phủ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hình
thành cũng như viện dẫn áp dụng qui phạm điều ước và qui phạm tập quán
quốc tế.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status