Giá trị pháp lý và vài trò, ý nghĩa của hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật - Pdf 38

I. PHẦN MỞ BÀI
Từ “thẩm định” có ý nghĩa chung là “xem xét để xác định về chất lượng”.
Dưới góc độ pháp lí, Viện khoa học Pháp lí Bộ Tư pháp đã đưa ra cách hiểu:
“thẩm định có nghĩa là việc xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận mang tính pháp
lí bằng văn bản về một vấn đề nào đó”( Từ điển Luật học – Viện Khoa học pháp
lí, Bộ Tư pháp – NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006 –Tr.700). Qui chế thẩm định dự
án, dự thảo văn bản QPPL ban hành kèm theo Quyết định số 05/2007/QĐ-TTg
ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ định nghĩa hoạt động thẩm định dự
thảo văn bản QPPL là hoạt động “xem xét đánh giá về nội dung, hình thức của
dự án, dự thảo nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ
của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật”
Còn Thẩm tra dự thảo văn bản QPPL theo cách hiểu thông thường, thẩm
tra là việc “điều tra, tìm hiểu để xem xét lại điều đã kết luận trước đó đúng hay
sai, có chính xác không”( Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nguyễn Như Ý (chủ
biên) – NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 – Tr.727). Còn về mặt pháp lí, thẩm tra
được hiểu là “việc xem xét lại kỹ lưỡng dự án luật, pháp lệnh do Hội đồng dân
tộc, Uỷ ban pháp luật hoặc một Uỷ ban hữu quan của Quốc hội hay một Uỷ ban
lâm thời được Quốc hội chỉ định tiến hành trước khi trình UBTVQH. Cơ quan
thẩm tra xem xét sự phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, tính hợp hiến,
hợp pháp, đối tượng, nội dung, phạm vi và tính khả thi của dự án”(Từ điển Luật
học – Tr.702).
Theo đó, thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có thể
hiểu là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền trong việc xem xét, đánh giá về nội
dung, cơ sở pháp luật, hình thức nhằm đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, thống
nhất, đồng bộ và khả thi của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, thẩm
định, thẩm tra đều là những hoạt động nhằm đánh giá góp phần hoàn thiện nội
1


dung cũng như hình thức của dự thảo. Do đó, hoạt động thẩm định, thẩm tra dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật có vai trò vô cùng to lớn đối với việc hình

có hiệu lực. Kinh nghiệm trong những năm qua cho thấy, các cơ quan ban hành
văn bản quy phạm pháp luật có thể cải thiện được kết quả xây dựng pháp luật nhờ
một quy trình thẩm định, thẩm tra tương đối khoa học, góp phần chỉnh lý, hoàn
thiện các dự thảo văn bản. Chất lượng thẩm định, thẩm tra dự thảo có tác động
mạnh đến trình độ xây dựng pháp luật, đến quy mô của việc thực hiện pháp luật.
Ngược lại, nếu thẩm định, thẩm tra không chuẩn xác có thể làm nản lòng chủ thể
soạn thảo, ban hành và kết quả là dự thảo đó sẽ gây thiệt hại cho xã hội. Mặt
khác, nếu thẩm định, thẩm tra hời hợt không nắm bắt, tuân thủ các quy định của
pháp luật và không có nghiệp vụ thẩm định, thẩm tra sẽ làm cho các chủ thể mất
tin tưởng và tốn kém nhiều sức lực, thời gian để giải quyết những mâu thuẫn,
không thống nhất trong hệ thống pháp luật hiện hành.
Chỉ có thông qua công tác thẩm định, thẩm tra của cơ quan, người có thẩm
quyền mới đánh giá những mặt được, chưa được của các dự thảo và từ đó đề xuất
những biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng dự thảo. Chẳng hạn, khi
chúng ta tiến hành xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong tình trạng nước ta
còn có hiện tượng giao các dự thảo cho các Bộ, Ngành chủ trì nội dung thì việc
xem xét, đánh giá theo một quy trình nhất định nhằm đảm bảo chất lượng là việc
làm không thể thiếu được. Thông thường, xây dựng dự thảo chỉ khai thác những
mặt có lợi cho ngành, lĩnh vực, địa phương mình mà khó có cái nhìn tổng thể, do
đó điều quan trọng là từ những ý tưởng ban đầu ấy nhiệm vụ của những người
làm công tác thẩm định cần nâng cấp, bổ sung, hoàn thiện và làm cho các ý tưởng
đó trở thành phổ biến, bảo đảm lợi ích chung của đất nước.
Hơn nữa, ngoài giá trị là xem xét, kiểm tra (đôi khi là tư vấn) công tác
thẩm định, thẩm tra còn tạo ra một cơ chế bắt buộc các chủ thể phải thực hiện các
3


ý kiến của các cơ quan thẩm định. Giá trị pháp lý này ở nước ta còn bị coi nhẹ. Ở
một số nước, vai trò thẩm định không chỉ dừng lại ở xem xét, kiến nghị mà chủ
thể thẩm định còn có thể đưa các dự thảo ra trước công luận (báo chí) hoặc đề

mỗi vấn đề của dự thảo, giúp văn bản qui phạm pháp luật được thông qua thuận
lợi(Một số ý kiến nhằm nâng cáo chất lượng của báo cáo thẩm định, thẩm tra dự
thảo văn bản quy phạm pháp luật/ Trần Thị Vượng/ Tạp chí Dân chủ và pháp
luật. Bộ Tư pháp, Số chuyên đề 5/2011, tr.17-21).Cùng với việc cung cấp thông
tin về dự thảo dưới góc độ vừa mang tính toàn diện, vừa mang tính chuyên môn
thẩm định, thẩm tra còn là cơ sở để giải thích, thuyết phục về những ý đồ lập
pháp, đồng thời là cơ sở để giải thích luật sau này. Chỉ có thông qua công tác
thẩm định, thẩm tra cơ quan có thẩm quyền mới đánh giá được những mặt được
cũng như chưa được của các dự thảo văn bản qui phạm pháp luật và từ đó đảm
bảo tính khả thi cũng như đề xuất những biện pháp thích hợp để nâng cao chất
lượng dự án, dự thảo. Nếu cơ quan có thẩm quyền không thẩm định, thẩm tra tốt
tính khả thi, ngôn ngữ và kỹ thuật soạn thảo của dự thảo, thì sẽ để lọt các văn bản
không có tính khả thi, không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, làm ảnh
hưởng lớn đến niềm tin của tổ chức và công dân đối với tính nghiêm túc của pháp
luật.
Thứ ba, thẩm định dự thảo văn bản qui phạm pháp luật còn có ý nghĩa vô
cùng đặc biệt đối với cơ quan soạn thảo. Đóng vai trò là hoạt động kiểm định, lại
kết quả làm việc của cơ quan chủ trì soạn thảo, thẩm định góp phần không nhỏ
trong việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan này. Những tham vấn trong các báo
cáo thẩm định được cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp thu, kịp thời sửa đổi đã mang
lại chất lượng cao hơn cho dự thảo cũng như hiệu quả làm việc của cơ quan này.
Từ đó, cơ quan chủ trì soạn thảo dần dần hoàn thiện hơn cả về kĩ năng lẫn trách
nhiệm trong quá trình soạn thảo văn bản qui phạm pháp luật.

5


Thứ tư, thẩm định, thẩm tra còn là cơ chế đảm bảo, nâng cao sự phối hợp
và giám sát lẫn nhau của các cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động ban hành
văn bản qui phạm pháp luật – một khía cạnh của hoạt động quản lí nhà nước.

1.

Giáo trình kỹ thuật xây dựng văn bản / Trường Đại học Luật

Hà Nội . - H. : Công an nhân dân, 2001
2.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008

3.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng

nhân dân, Ủy ban nhân dân 2004
4.

Từ điển tiếng Việt thông dụng – Nguyễn Như Ý (chủ biên) –

NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 – Tr.727
5.

Từ điển Luật học – Viện Khoa học pháp lí, Bộ Tư pháp –

NXB Tư pháp, Hà Nội, 2006 – Tr.702
6.

“Sổ tay Kỹ thuật soạn thảo, thẩm định và đánh giá tác động

của Văn bản quy phạm pháp luật”, dự án VIE 02/2015, Bộ tư pháp
7.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status