Bình luận về cơ chế ra quyết định của ASEAN theo Hiến
chươ ng AS EAN.
Theo quy định tại Chương VII Hiến chương ASEAN thì cơ
chế ra quyết định của ASEAN là theo nguyên tắc tham vấn và
đồng thuận. Điều 20 Hiến chương ASEAN quy định: “ 1. Việc ra
quyết định dựa trên tham vấn và đồng thuận là một nguyên tắc
cơ bản của ASEAN. 2. Khi không có đồng thuận, Cấp cao
ASEAN có thể xem xét việc đưa ra quyết định cụ thể. 3. Khoản
1 và 2 trong Điều này sẽ không ảnh hưởng tới các phương thức
ra quyết định đã được nêu trong các văn kiện pháp lý liên quan
khác của ASEAN. 4. Trong trường hợp có sự vi phạm nghiêm
trọng hoặc không tuân thủ, vấn đề này sẽ được trình lên Cấp
cao ASEAN để ra quyết định .”
Như vậy, tham vấn và đồng thuận có ý nghĩa rất quan
trọng trong hoạt của ASEAN. Nguyên tắc này có nguồn gốc
trong làng xã cổ của thế giới Mã Lai (bao gồm: Indonesia,
Mailai, Philippin và một số tỉnh phía Nam của Thái lan), được
tổng thống Indonesia lúc đó là ông Xuhacto đưa ra vào những
năm 60 của thế kỷ XX và được các nhà lãnh đạo ASEAN thừa
nhận là nguyên tắc ra quyết định chính của hội và đến nay đã
được kế thừa trong hiến chương ASEAN năm 2007, chính thức
có hiệu lực ngày 15/12/2008. Ở cấp độ làng xóm, nguyên tắc
này có nghĩa là “ một nhà lãnh đạo không nên độc đoán hoặc áp
đặt ý chí của mình mà tốt hơn là nên nhẹ nhàng đưa ra những
gợi ý về con đường mà cộng đồng nên theo, đồng thời luôn luôn
thận trọng tham khảo ý kiến tất cả những người khác một cách
đầy đủ và tới quan điềm và tình cảm của họ trước khi đi tới
quyết định có tính chất tổng hợp ”. (Dẫn theo Phanit Thakur:
1
2
Nhằm khắc phục phần nào hạn chế trên của nguyên tắc
tham vấn và đồng thuận, đồng thời thúc đẩy quá trình hợp tác
khu vực, trong hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế
được thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ IV, tổ
chức tại S ingapo 2/1992, ASEAN đã đưa vào áp dụng nguyên
tắc “-X”. Nguyên tắc này cho phép 2 hay một số nước thành
viên có thể tiến hành các dự án hợp tác khu vực trước, còn
những nướ c chưa sẵn sàng tham gia thì có thể lùi lại một thời
điểm nhất định hoặc kéo dài thời gian thực hiện dự án so với
các nước khác. Và cho đến Hiến chương ASEAN vẫn kế thừa
nguyên tắc “-X” này trong việc thực hiện cơ chế ra quyết định
của mình (Khoản 2 Điều 21 Hiến chương ASEAN quy định:
“khi thực hiện các cam kết kinh tế, có thể áp dụng công thức
tham gia linh hoạt, trong đó có công thức ASEAN-X trong
trường hợp có sự đồng thuận như vậy” ).
Hiến chươ ng AS EAN đã tiếp tục khẳng định lại thực tiễn
hiện hành của ASEAN là các quyết định sẽ được thông qua trên
cơ sở trao đổi ý kiến-tham vấn và đồng thuận (consultation and
consensus). Quy định này áp dụng cho tất cả các cơ quan của
AS EAN từ Hội nghị Cấp cao, Hội đồng Điều phối, 03 Hội đồng
Cộng đồng cho đến các cơ chế trực thuộc thấp hơn. Các tổ chức
quốc tế, tổ chức khu vực khác cũng có quy định về việc thông
qua các quyết định bằng phương thức tham vấn và đồng thuận.
Nhưng điểm khác nhau giữa Hiến chương ASEAN và các văn
bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực khác là
đối vớ i một số vấn đề nhất định các tổ chức quốc tế, tổ chức
3.
Phanit Thakur: “Những cố gắng hội họp khu vực Đông
Nam Á: một nghiên cứu về các vấn đề và các tiến bộ của
AS EAN”. S ách xuất bản theo yêu cầu của trường Đại học
Quốc tế Maicrôphim, 1980.
4