LỜI NÓI ĐẦU
Nguyên thủ và người đứng đầu chính phủ 10 nước thành viên ASEAN đã ký phê chuẩn
Hiến chương ASEAN. Sự kiện quan trọng này diễn ra vào lúc 13 giờ 40 ngày 20-11-2007 tại
Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 ở Singapore. Như vậy, ASEAN chính thức có Hiến
Chương năm 2008. Bản Hiến chương đã mang lại cho ASEAN một tư cách pháp nhân và mọi
hoạt động của tổ chức đều dựa trên khung pháp lý rõ ràng. Một thực thể mới đã được hình thành
vào ngày 15/12/2008 với các nguyên tắc chủ đạo và “phương cách ASEAN” là: không can thiệp
vào công việc nội bộ của các thành viên, tham vấn và ra quyết định dựa trên sự đồng thuận.
Trong bài tập lần này, em xin được bình luận về nguyên tắc đồng thuận và tham vấn của
ASEAN.
NỘI DUNG
Nguyên tắc tham vấn và đồng thuận trong cơ chế ra quyết định của ASEAN đã được quy
định trong Điều 20 Hiến Chương ASEAN:
“1. Việc ra quyết định dựa trên tham vấn và đồng thuận là một nguyên tắc cơ bản của ASEAN.
2. Khi không có đồng thuận, cấp cao ASEAN có thể xem xét việc đưa ra quyết định cụ thể.
3. Khoản 1 và 2 trong Điều này sẽ không ảnh hưởng tới các phương thức ra quyết định đã được
nêu trong các văn kiện pháp lý lien quan khác của ASEAN.
4. Trong trường hợp có sự vi phạm nghiêm trọng hoặc không tuân thủ, vấn đề này sẽ được trình
lên cấp cao ASEAN để quyết định.”
Theo đó, ta có thể hiểu tham vấn là một quá trình tăng cường khả năng, trong đó nhà
tham vấn hợp tác với đối tượng để giúp họ xác định và làm sáng tỏ vấn đề, xác định những
nguyên nhân “gốc rễ” và các cách để cải thiện tình huống của họ. Còn về nguyên tắc đồng
thuận (consensus), theo Từ điển chính trị Dalloz, “Trong luật quốc tế, đồng thuận là một thủ tục
thông qua các văn bản luật, được áp dụng thường xuyên trong hoạt động của các tổ chức quốc
tế. Đồng thuận cho phép người ta có được một thỏa thuận mà không cần thông qua biểu quyết
nếu không có phản đối, đồng thời việc những người không đưa ra ý kiến (abstention) sẽ không
được kể đến. Yếu tố cuối cùng vừa nêu này là lợi điểm quan trọng của thủ tục consensus, vì việc
không đưa ra ý kiến làm suy yếu hiệu lực của văn bản luật, ngay cả khi văn bản đó được nhất trí
thông qua. Tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành
viên nhất trí thông qua. Nguyên tắc này đòi hỏi phải có quá trình đàm phán lâu dài nhưng bảo
đảm được việc tính đến lợi ích quốc gia của tất cả các nước thành viên, nó kết quả của sự tự
khi mà tình hình thế giới có nhiều biến động. Hiện nay, khi các thành viên của tổ chức còn đang
cố gắng tìm những điểm chung, khi họ còn chưa hiểu biết nhiều về nhau, thậm chí nghi kỵ lẫn
nhau, thì việc phó thác lợi ích của một thành viên cho các thành viên khác là điều khó có thể
chấp nhận. Vì thế biểu quyết theo đa số khi thông qua các kế hoạch chung là không khả thi và
Nguyên tắc đồng thuận và tham vấn đã được chọn lựa.
Thứ hai: Trên khía cạnh luật quốc tế, có thể nói về mặt quyền lực quốc gia, việc đòi hỏi sự
đồng ý của tất cả các thành viên cho phép quốc gia bảo vệ được quyền quyết định và điều khiển
tối cao của mình đối với mọi hoạt động của Hiệp hội. Trong ASEAN, với nguyên tắc dân chủ,
ngang bằng, và không can thiệp, các quốc gia thành viên có lá phiếu như nhau, ngang nhau trong
mọi vấn đề, chủ quyết, dù là nước lớn hay nước bé. Và khi lợi ích của họ chưa đạt như kì vọng,
khi ý tưởng về hợp tác chưa thông suốt thì việc có tiếng nói khác là điều không tránh được.
Người đại diện quốc gia phải nói tiếng nói của quốc gia mình, không phải như ai đó suy diễn về
một tiếng nói của người khác, thay cho người khác. Khi mỗi thành viên chưa đủ thông tin, chưa
được thuyết phục, họ sẽ không ủng hộ ngay, dù sáng kiến đó có vì mục đích tốt đẹp đến đâu. Do
đó việc sử dụng nguyên tắc đồng thuận và tham vấn làm cho các quốc gia thỏa mãn khi được
bày tỏ thái độ phản đối hay đồng ý hay thậm chí im lặng nhưng cũng sẽ được cân nhắc tất cả vào
việc ra quyết định, chứ không bị lệ thuộc tiếng nói như phương pháp đa số.
Thứ ba: Xét về mặt chính trị, việc có thể im lặng sẽ cho phép các quốc gia tránh được gánh
nặng về chính trị mỗi khi phải đưa ra câu trả lời công khai. Hơn nữa, nó còn giúp quốc gia khỏi
bị “mất mặt” trước những thành viên khác và thậm chí, góp phần tô vẽ cho hình ảnh chung của
Hiệp hội, bởi vì các thành viên đều tin rằng một kết quả biểu quyết không phải là 100% thuận sẽ
làm xấu đi hình ảnh của Hiệp hội và ảnh hưởng tới bầu không khí hợp tác chung. Ngoài ra, việc
ý kiến của một quốc gia bị đa số phủ quyết cũng có thể gây nên những căng thẳng về tình hình
chính trị của quốc gia đó, điều mà không một nhà lãnh đạo nào muốn, nhất là trong giai đoạn
khó khăn hiện nay. Tóm lại, nó góp phần giữ gìn sự ổn định chính trị của mỗi quốc gia và thông
qua đó, giữ gìn sự ổn định của khu vực.
Hạn chế:
Thứ nhất: Một trong những đặc tính quan trọng của nguyên tắc đồng thuận và tham vấn, đó
là văn bản được thông qua khi có sự “im lặng” từ các bên. Sự im lặng này được hiểu như không
có chống đối. Tuy nhiên, im lặng không nhất thiết là đồng ý, vì thế đôi khi nguyên tắc này che
1. Trung tâm Luật châu Á – Thái Bình Dương. Tập bài giảng “Pháp luật cộng đồng
ASEAN”. Hà Nội – 2011.
2. Hiến chương của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 20
3. Website: aseansec.org, aseanregionalforum.org, asean2010.vn