Nội dung các qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành về nguyên tấc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự - Pdf 40

Bài tập học kỳ tố tụng dân sự.
Chương I
Những vấn đề lý luận về nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
1.1.

Khái niệm và ý nghĩa của nguyên tắc
1.1.1 Khái niệm

Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản cấu thành nên hệ
thống các nguyên tắc cơ bản của luật ttds Việt Nam. Nguyên tắc này luôn
được coi trọng và được ghi nhận trong bốn bản hiến pháp của nước ta qua
các thời kỳ lịch sử khác nhau của đất nước. đến nay, nguyên tắc này đã trở
thành một nguyên tắc tối thượng trong tổ chức và hoạt động của TA nói
chung và trong hoạt động xét xử các vụ án dân sự nói riênng. Theo đó, để
đảm bảo cho hoạt động xét xử được nghiêm minh thì khi xét xử TP và
HTnd độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Từ đó co thể hiểu Nguyên tắc này thể hiện tư tưởng pháp lý khi xét xử các
vụ án dân sự tp và htnd tư mình quyết định và tự chịu trách nhiêm về bản
án và quyết địng của mình mà không phụ thuộc vào quan điểm. ý kiến của
bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào, không bị chi phối bởi ý kiến của nhau
và chỉ căn cứ và các qui định của pháp luật để xem xét và quyết định từng
vấn đề của vụ án.
1.1.2 ý nghĩa của nguyên tắc
thứ nhất, nguyên tắc tp và htnd độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nền
tảng của tư pháp trong nhà nước pháp quyền. nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa đòi hỏi ở tòa án các yếu tố chuẩn mực như sự công minh, công
bằng, dân chủ. hiệu quả, hiệu lực trong đó việc thực hiện nguyên tắc tp và
htnd xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là cơ sở nền tảng thực hiện
các đòi hỏi này. độc lập xét xử được coi như là một điều kiện bảo đảm sự

trực tiếp thực hiện quyền của mình mà lại giao cho người khác là Nhà
nước, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên là kiểm soát
quyền lực nhà nước. Tính độc lập của Tòa án là một trong những biểu hiện
rx nét của cơ chế phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam.


Về lý luận cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ
mất đi những giá trị to lớn của nó nếu tính độc lập của tp không được đảm
bảo. Sự vi phạm nguyên tắc này dẫn sự lạm dụng quyền lực, sự thoái hóa
của quyền lực và xã hội dĩ nhiên sẽ gánh chịu những hậu quả to lớn của
tình trạng này.
Thứ hai, xuất phát từ bản chất của hoạt động tư pháp mà TA thực hiện.
TA là cơ quan thực hiện hoạt động Tư pháp - hoạt động nhân danh công lý
và dựa vào công ý thì TA phải xét xử như một người đứng giữa, trung lập,
không phụ thuộc vào bên nào, chỉ xét xử độc lập và tuân theo pháp luật thì
TA mới tồn tại đúng với bản chất của mình là một cơ quan bảo vệ công lý.
Bản án, quyết định của TA là văn bản kết thúc quá trình xét xử một vụ án
dân sự. Do vậy, có thể nói bản án chính là “tuyên ngôn công lý” mà TA
thay mặt nhà nước ban hành thông qua quá trình tố tụng tại TA. Bản án
đúng đắn sẽ mang lại sự công bằng trong xã hội, bảo vệ công lý và quyền
của con người, chính vì thế chúng phải chính xác tuyệt đối, đảm bảo đúng
pháp luật. điều này đòi hỏi ở Tp và NTNd một bản lĩnh vững vàng, tinh
thần trách nhiệm cao, lương tâm nghề nghiệp và phẩm chất đạo đức trong
sáng để độc lập xét xử theo pháp luật.
Thứ ba, xuất phát từ chế độ dân chủ nhân nhân ở nước ta.
Việc xét xử của TA có htnd tham gia đã được hiến pháp và pháp luật qui
định, đó là một trong những nguyên tắc hể hiện rõ tư tương “Nhà nước của
dân, do dân và vì dân” và chế độ dân chủ Xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nguyên
tắc xét xử độc lập bao hàm không chỉ tp mà cả htnd. Mục đích của chế định
xét xử có htnd tham gia không chỉ đơn thuần là cùng to xét xử cho xong vụ

Nguyên tắc tp và htnd xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong
ttds được ghi nhận tại điều 12 blttds được xác định với hai nội dung: khi
xét xử tp và htnd độc lập và khi xét xử tp và htnd chỉ tuân theo pháp
luật.
2.1 Khi xét xử thẩm phán va hội thẩm nhân dân độc lập
2.1.1 khi xét xử tp và htnd độc lập với yếu tố bên ngoài.
Theo phương diện độc lập với các yếu tố bên ngoài thì khi xét xử tp và
htnd độc lập với vks với ta các cấp, độc lập với các cơ quan nhà nước,


tổ chức và cá nhân khác. Tuy nhiên, hoạt động xét xử của TA được đặt
dưới sự lãnh đạo của đảng và sự giám sát tối cao của Quốc hội – cơ
quan quyền lực Nhà nước cao nhất. ây là đặc điểm của chính thể nước
ra để phân biệt với các nước theo chế độc tam quyền phân lập.
Hiện nay, theo qui định của luật tổ chức TANd thì ta cấp trên, tandtc
vừa là cơ quan xét xử, vừa là cơ quan giám độc việc xét xử của TA cấp
dưới. Tuy nhiên, TA cấp trên chỉ quán lý ta cấp dưới về mặt chuyên
môn nghiệp vụ và tổ chức hành chính còn TA cấp dưới vẫn có toàn
quyền quyết định đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình.
Pháp luật qui định nguyên tấc tp và htnd xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật để đảm bảo cho tp và htnd thực hiện quyền tự quyết của mình
khi xét xử. đồng thời buộc họ phải có nghĩa vụ và trách nhiệm cá nhân
về tính đúng đắng, hợp pháp đối với các quyết định của mình khi giải
quyết vụ án. Như vậy, mặc dù giữa các cấp TA tồn tại mối quan hệ quản
lý hành chính nhưng TA cấp trên không thể ra lệnh hoặc chỉ đạo TA câp
dưới xét xử theo ý mình. Sự độc lập giữa các cấp TA cũng là một nọi
dung quan trọng của nguyên tắc độc lập xét xử, cẩn phải được nghiên
cứu một cách khoa học và đúng đắn
Vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam về mặt nguyên tắc không
làm ảnh hưởng đến tính độc lập của tp và htnd. Nguyên tắc TP và htnd

yếu tố bên trong
để đảm bảo sự độc lập giữa tp và htnd cần xác định rõ tính chất mối
quan hệ giữa họ với nhau trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử thì theo
qui định tại điều 42 blttds thì htnd có quyền nghiên cứu hồ sợ trước khi
mở phiên tòa để biết được nội dung cũng như những vấn đề cần phải
giải quyết trong vụ án. mối quan hệ giữa tp và htnd trong giao đoạn này
mang tính chất hỗ trợ nhau.. nhưng vẫn phai có sự độc lập trong nghiên
cứu hồ sơ vụ án, kiểm tra, đánh giá các tài liệu chứng cứ làm cơ sở cho
việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Mỗi người đều có quyền có quan


diểm, lập trường của riêng mình và phải chịu trách nhiệ cá nhân về
quyết định của mình.
Tại phiên tòa tính độc lập giữa tp và hội thẩm nhan dân càng được thể
hiện rõ hơn. Tất cả các thành viên của Hđxx đều có quyền hỏi đương sự
về những vấn đề liên quan đến vụ án. Theo điều 222 blttds thì tp chủ tọa
phiên tòa hỏi trước rồi đến htnd. Htnd có quyền hỏi tất cả các vấn đề mà
mình cho là cần thiết để giải quyết vụ án mà không phụ thuộc vào tp.
Trong qua trình điều hành phiên tòa, tp phải luôn xác định rằng htnd là
những người ngang quyền với mình để từ đó có thái độ đúng đắn trong
mối quan hệ giữa các thành viên của hđxx.
Sự độc lập giữa tp và htnd được thể hiện rõ nhất trong quá trình nghị án.
điều 236, sự độc lập xét xử của to và htnd không cho phép thành viên
này được áp đặt ý kiến của mình lên các thành viên khác trong cùng một
hđxx. Tp không được lấy quyền chủ tọa phiên tòa để áp đặt các quyết
định của htnd theo ý kiến của mình. Ngược lại, htnd cũng không được
dựa vào ưu thế số động để đánh giá, gây áp lưc để giải quyết các vấn đề
theo quan điểm của mình.
2.2 Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm nhân dân chỉ tuân theo pháp

mặt của mmọt vấn đề, chứng có mỗi quan hệ tác động qua lại và bổ sung
cho nhau, nhằm đảm bảo cho việc xét xử các vụ án dân sự được khách qan,
công bằng và đúng luật.


Chương 3 thực tiễn thực hiện nguyên tắc
Ghi nhận vai trò của HTnd trong công tác xét xử của ngành TA trong
những năm qua. Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số nơi,
việc tham gia xét xử của HTnd vẫn mang nặng tính hình thức. Thực tế
nhiều htnd chưa phát huy được hết vai trò, trcáh nhiệm mà pháp luật qui
định, cũng như sự kì vọng cua nhân dân đối với bọ. Do trình độ chuyên
môn và năng lực giữa tp và htnd cònmột khoảng cách khá xa nên việc thực
hiện nguyên tắc trong xét xử còn mang tính tượng trưng, hình thức..
NHững bất cập
Về hệ thống pháp luât Hiện nay, thủ tục ttds ở nước ta là thủ tục xét hỏi.
Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy thủ tục này đã làm cho TA có xu hướng lệ
thuộc vào hồ sợ vụ án, các giai đoạn tố tụng diễn ra một cách khép kín, các
bên đương sự và luật sự không phát huy được hết vai trò của mình với tư
cách là những người tham gia tố tụng. để khắc phục tình trạng nêu trên và
đảm bảo tính độc lập của TA cân đổi mới thủ tục tại phiên tòa theo hướng
từ xét hỏi sang tranh tụng.
Về mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân.
Mô hình tổ chức và hoạt động của TAnd là một trong những yêu tố có tác
động rất lớn đến việc thưucj hiện nguyên tắc to và htnd xét xử dộc lập và
chỉ tuân theo pl trong ttds. ở nước ta hiện nay, hệ thống TA được tổ chức
theo cấp hành chính lãnh thổ, theo đó có Tand cấ huyện, tand cấp tỉnh và
tand tố cao. điều này tạo nên một bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu
quả.Mặt khác, tổ chức TA theo tiêu chí lãnh thổ còn dẫn đến hiện tượng ở
những mức độ khác nhau, TA vẫn chịu. sự ảnh ưởng của chính quyền địa
phương trong hoạt động xét xử của mình. Chính vì vậy, tính độc lập của tp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status