ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ BÍCH DIỆP
NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN
DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN THEO PHÁP
LUẬT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật hình sự
Mã số
: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI - 2007
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ BÍCH DIỆP
NGUYÊN TẮC “THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM
NHÂN DÂN XÉT XỬ ĐỘC LẬP VÀ CHỈ TUÂN
THEO PHÁP LUẬT” TRONG CÔNG CUỘC CẢI
CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Hoàn thiện cơ chế quản lý Toà án nhân dân địa phương theo hướng đảm bảo
tính độc lập giữa các cấp Tòa án trong hoạt động xét xử”. Chính sự quan tâm
đặc biệt của Ban chấp hành Trung ương Đảng đối với tầm quan trọng của độc
lập tư pháp cùng với những thiếu sót, khuyết điểm trong hoạt động xét xử các vụ
án hình sự một vài năm trở lại đây là lý do để tôi chọn đề tài: Nguyên tắc “Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong
công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay cho luận văn thạc sỹ luật học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Đây không phải là lần đầu tiên nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được đưa ra phân tích và nghiên
cứu nhưng có lẽ là lần đầu tiên nguyên tắc này được nghiên cứu một cách đồng
bộ, toàn diện, đặc biệt trong giai đoạn cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay. Do
nội dung của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật” có phạm vi biểu hiện hẹp nên các nhà nghiên cứu trước
đây thường chỉ nhắc tới nguyên tắc này theo khía cạnh là một trong những
nhiệm vụ và trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân mà chưa tìm
hiểu sâu cơ chế nào để các thành viên của Hội đồng xét xử có thể thực hiện tốt
nguyên tắc độc lập xét xử của Toà án. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu
khi đề cập đến tính độc lập xét xử lại nhìn nhận vấn đề dưới góc độ so sánh sự
độc lập tư pháp giữa các nước có nền tư pháp phát triển với các nước đang ở
trong thời kỳ quá độ. Và nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” cũng thường được nhắc đến trong nhiều bài
viết cũng như các công trình nghiên cứu khi bàn về vị trí, vai trò của Thẩm phán
và Hội thẩm nhân dân dưới góc độ là những người tiến hành tố tụng. Ví dụ như
các bài viết:
"Độc lập xét xử ở các nước quá độ: Một góc nhìn so sánh" của tác giả Lưu Tiến
Dũng được đăng tải trên tạp chí Toà án nhân dân số 20, 21/2006.
Là tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu.
3.2. Về mặt thực tiễn.
Thứ nhất, trong quá trình cải cách tư pháp, việc nghiên cứu nguyên tắc
“Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” có
vai trò to lớn giúp chúng ta nhìn nhận lại thực tiễn xét xử tại Việt Nam trong
thời gian qua và xác định một bước đi đúng đắn cho nền tư pháp Việt Nam với
mong muốn đưa Toà án thực sự trở thành cơ quan độc lập, là linh hồn của Nhà
nước pháp quyền.
Thứ hai, nghiên cứu để tìm ra cách hạn chế bớt sự tác động của các thế
lực khác vào hoạt động xét xử với mục đích xây dựng một nền tư pháp mạnh,
dân chủ, khách quan, công bằng và đem lại lòng tin cho nhân dân vào pháp luật
và công lý.
4. Phạm vi nghiên cứu.
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các vấn
đề sau:
Một vài nét khái quát về vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân theo quy định của một số nước thuộc hệ thống pháp
luật Common Law và hệ thống pháp luật Civil Law, theo pháp luật Việt Nam và
theo quan điểm của các luật gia.
Nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, vị trí của nó trong hệ thống các
nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việt Nam và những yếu tố đảm bảo cho việc
xét xử độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân.
Những quy định của pháp luật thực định thể hiện nội dung của nguyên
tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
cũng như nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc này trong hoạt động xét xử
của một số nước trên Thế Giới.
Thực trạng áp dụng nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử
theo pháp luật” không phải là vấn đề mới về mặt lý luận vì nó đã lần đầu được
nhắc đến trong các văn bản pháp luật ngay sau khi chúng ta giành được độc lập
vào năm 1945 và được tiếp tục khẳng định là một trong những nguyên tắc hiến
định trong các bản Hiến pháp tiếp theo.
Trên thực tế, chúng ta chỉ có thể tập trung nghiên cứu và nghiên cứu tốt
những vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải giải quyết. Nghị quyết số 48NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 24/5/2005 cũng đã khẳng định “Trọng tâm là
hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, bảo đảm Toà
án xét xử độc lập... Hoàn thiện cơ chế quản lý Toà án nhân dân địa phương theo
hướng đảm bảo tính độc lập giữa các cấp Toà án trong hoạt động xét xử”.
Có thể, đây là lần đầu tiên nguyên tắc này được lựa chọn làm đề tài cho
một luận văn thạc sỹ và cũng là lần đầu tiên những vấn đề liên quan đến nguyên
tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
được trình bày một cách đồng bộ và có hệ thống. Bởi vậy, luận văn không chỉ
phân tích một cách kỹ lưỡng nội dung, ý nghĩa và những yếu tố có thể làm ảnh
hưởng đến tính độc lập xét xử của Tòa án mà còn trả lời cho câu hỏi chúng ta
phải làm những gì đề nguyên tắc này có thể được áp dụng triệt để tại Việt Nam?
Nhiều người cho rằng đây là một đề tài có phạm vi hẹp nên người viết có thể sẽ
gặp khó khăn khi xây dựng đề cương và tìm kiếm những tài liệu tham khảo.
Nhưng hy vọng với tâm huyết và lòng nhiệt tình của mình, tác giả sẽ đóng góp
một chút công sức nhỏ bé cho công cuộc cải cách tư pháp đang được Đảng, Nhà
nước và những người yêu mến nghề luật quan tâm./.
Chương 1:
MỘT VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍ , VAI TRÒ, QUYỀN HẠN, TRÁCH NHIỆM
CỦA THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM NHÂN DÂN
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THẨM PHÁN.
tụng tranh tụng chính là minh chứng rõ nét nhất cho sự khác biệt trong quyền
hạn của Thẩm phán tại các nước theo hệ thống pháp luật Common Law với các
nước theo truyền thống pháp luật Civil Law. Theo quy định của hệ thống pháp
luật Anh - Mỹ, khi xét xử Thẩm phán không được nghiên cứu hồ sơ từ trước,
không có bất kỳ thông tin nào về vụ án và tại phiên toà, với vai trò trọng tài,
quyền hạn của các Thẩm phán sẽ chỉ được phát huy khi Bồi thẩm đoàn đưa ra
phán quyết bị cáo là người có tội. Bởi theo quy định của pháp luật, Thẩm phán
có nghĩa vụ xác định tội danh cũng như mức hình phạt được áp dụng đối với bị
cáo.
Tại phiên toà hình sự theo hình thức tố tụng tranh tụng của các nước thuộc hệ
thống pháp luật Anh - Mỹ, không có sự liên hệ, ràng buộc giữa Thẩm phán Chủ toạ phiên toà và các bị cáo trong một vụ án hình sự. Bởi lẽ, Thẩm phán
không tham gia xét hỏi bị cáo và càng không có nhiệm vụ chứng minh tội phạm
như một tầng nấc cao hơn của hoạt động điều tra. Và với vị trí, vai trò như thế,
Thẩm phán chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi và quyền hạn do luật định,
cụ thể họ phải chịu trách nhiệm về những phán quyết của mình đối với việc xác
định tội danh và mức hình phạt được áp dụng đối với các bị cáo.
Còn tại một số quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law, thì ứng viên
Thẩm phán thông thường là các giáo sư luật hoặc thư ký Toà án hoặc những
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
CHỦ TRƢƠNG, NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
1. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và
hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020, Hà Nội.
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
16. Lê Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự
(phần chung), Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
17. Lê Cảm (2006), Những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống tư pháp
hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Hà Nội.
18. Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
19. Nguyễn Bá Diến (chủ biên) (2001), Giáo trình Tư pháp quốc tế, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
10. Trần Kim Nở (chủ biên) (1993), Từ điển Anh - Việt, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
21. Vũ Thị Bích Diệp (2003), Tố tụng tranh tụng - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn trong công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, Khoá luận
tốt nghiệp cử nhân luật học, Hà Nội.
CÁC BÀI VIẾT TRÊN TẠP CHÍ, BÀI BÁO, BÁO CÁO KHOA HỌC
22. Chánh án Toà án nhân dân Tối cao (2002), Báo cáo về công tác Toà
án tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XI, Hà Nội.
23. Đặng Thanh Nga (2002), “Các phẩm chất nhân cách cơ bản của Thẩm
phán”, Luật học, (5).
24. Đỗ Gia Thư (2005), “Bàn về quản lý Thẩm phán Toà án nhân dân các
cấp”, Toà án nhân dân, (1).
25. Đỗ Gia Thư (2004), “Thực trạng đội ngũ Thẩm phán nước ta -Những
nguyên nhân và bài học kinh nghiệm từ quá trình xây dựng”, Toà án nhân dân,
(4).
26. Đỗ Gia Thư (2004), “Yêu cầu nhiệm vụ của ngành Toà án và quan
điểm xây dựng đội ngũ Thẩm phán trong giai đoạn mới”, Toà án nhân dân, (13).
27. Hoàng Hùng Hải (2005), “Mấy ý kiến nâng cao hiệu quả hoạt động
của Hội thẩm”, Toà án nhân dân, (6).
trong phiên toà tại Toà đại hình Pháp”, Toà án nhân dân, (11).
42. Nguyễn Khắc Bộ (2004), “Để Hội thẩm nhân dân không chỉ là hình
thức”, Toà án nhân dân, (3).
43. Nguyễn Tâm Khiết (2006), “Phấn đấu xây dựng ngành Toà án có uy
và có tín trong chiến lược cải cách tư pháp”, Toà án nhân dân, (9).
44. Nguyễn Tâm Khiết (2006), “Về hệ thống Toà án trong chiến lược cải
cách tư pháp”, Toà án nhân dân, (2).
45. Nguyễn Quang Lộc (2006), “Quản lý công tác bồi dưỡng nghiệp vụ
cho Hội thẩm Toà án - Thực trạng và giải pháp”, Toà án nhân dân, (15).
46. Nguyễn Tất Viễn (1995), “Bàn về chế định Hội thẩm”, Luật học, (2).
47. Phan Công Luận (2006), “Uy tín của người Thẩm phán”, Luật học,
(1).
48. Phan Hữu Thư (1997), “Kinh nghiệm đào tạo nghề nghiệp Thẩm phán
ở Pháp và một vài suy nghĩ về vấn đề này tại Việt Nam”, Pháp luật chuyên đề
tháng 4.
49. Phạm Văn Lợi và Trần Thanh Hương (1998), “Quyền và nghĩa vụ của
Thẩm phán theo quy định của pháp luật hiện hành”, Toà án nhân dân, (8).
50. Phạm Văn Chung (2006), “5 kiến nghị về nâng cao năng lực cho Hội
thẩm nhân dân”, Toà án nhân dân, (6).
51. Toà án nhân dân Tối cao (2004), Báo cáo tổng kết công tác năm 2004
và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2005 của ngành Toà án nhân dân, Hà
Nội.
52. Toà án nhân dân Tối cao (2005), Báo cáo tổng kết công tác năm 2005
và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2006 của ngành Tòa án nhân dân, Hà
Nội.
53. Toà án nhân dân Tối cao (2006), Báo cáo tổng kết công tác năm 2006
và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2007 của ngành Toà án nhân dân, Hà
Nội.