Tư tưởng chính trị xã hội của plato và ảnh hưởng của nó đến aristotle - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ NGÂN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA PLATO VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ARISTOTLE

Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Triết học

Hà Nội - 2016
1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG THỊ NGÂN

TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA PLATO VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ARISTOTLE

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Chí Hiếu

Hà Nội - 2016

2



3.2 Sự kế thừa, phát triển của Aristotle đối với những tư tưởng chính trị - xã
hội Plato ················································································ 77
KẾT LUẬN············································································ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ········································ 98

4


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Triết học là kết tinh tinh thần của thời đại lịch sử, mà trước hết là kết quả
sự phản tư về lý luận của các vĩ nhân, các triết gia đối với thời đại của họ. Vì lẽ
đó, theo C.Mác, các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm
của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá nhất và vô
hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học. Do vậy, nghiên cứu những
tư tưởng triết học nói chung và tư tưởng chính trị - xã hội nói riêng là việc làm ý
nghĩa, có vai trò như là một mắt xích trong nhận thức dòng chảy tư tưởng của
nhân loại.
Plato là nhà một trong những nhà triết học vĩ đại nhất thời kỳ cổ đại.
Những đóng góp của ông cho nền triết học nhân loại là hết sức to lớn. Tư tưởng
chính trị - xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học của ông. Ở
đó, những tư tưởng của Plato không chỉ phản ảnh hiện thực xã hội thời đại ông
đang sống mà trên hết, còn thể hiện quan điểm, lập trường tư tưởng của ông đối
với các vấn đề chính trị- xã hội.
Là một nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, những tư tưởng triết học của
Plato hình thành trong bối cảnh xã hội Hy Lạp lúc đương thời đầy những biến
động, với sự khủng hoảng của nền dân chủ chủ nô, sự gia tăng căng thẳng và
xung đột xã hội, làm con người mất phương hướng trong đời sống tinh thần.

hơn”. Trong lĩnh vực chính trị -xã hội, Aristotle đưa ra những quan điểm gần như
đối lập với quan điểm của Plato và sự phê phán của Aristotle đối với quan điểm
chính trị - xã hội của Plato là rất gay gắt.
Việc nghiên cứu hệ thống những quan niệm chính trị - xã hội của Plato và
ảnh hưởng của nó đến Aristotle, không chỉ nâng cao hiểu biết về một nhà tư
tưởng vĩ đại mà một lần nữa khẳng định vị trí cũng như giá trị của những tư
tưởng chính trị - xã hội của Plato đối với lịch sử tư tưởng nhân loại.
6


Xuất phát từ những suy nghĩ trên đây, học viên mạnh dạn chọn vấn đề: Tư
tưởng chính trị - xã hội của Plato và ảnh hưởng của nó đến Aristotle làm đề tài
nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ triết học của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình phát triển lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại, tư tưởng
triết học của Plato và Aristotle có một vị trí đặc biệt quan trọng. Ở Việt Nam,
ngoài những tác phẩm được dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt, việc nghiên
cứu tư tưởng của Plato và Aristotle nói chung và tư tưởng chính trị - xã hội của
hai ông nói riêng luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Hiện nay, những tài liệu nghiên cứu về tư tưởng Plato và Aristotle rất
phong phú, có những nghiên cứu từ rất sớm về vấn đề này như: trước năm 1975,
có thể kể đến những công trình của các tác giả như: Lê Tôn Nghiêm với “Martin
Heidegger và sự thất bại của tư tưởng phương Tây hiện đại” (Tư tưởng, số
5/1969); “Lịch sử triết học Tây phương- thời kỳ khai nguyên triết lý Hy Lạp” (Lá
Bối, Sài Gòn, 1971) và “Triết học thời Thượng cổ và Trung cổ” (Lá Bối, Sài Gòn,
1973); “Lịch sử các học thuyết chánh trị” (Hùng Nguyên, Nguyễn Ngọc Huy;
Cấp tiến sản xuất, Sài Gòn, 1970); hay “Platon - Bữa tiệc” (bản dịch từ tiếng
Pháp của Nguyễn Văn, 1964); “Nietzsche: Triết lý Hy Lạp thời bi kịch” (bản dịch
Trần Xuân Kiêm, Nxb Tân An, Sài Gòn, 1975); “Câu truyện triết học” của Will
Durant (bản dịch của Trí Hải và Bửu Đính, Nha tu thủ và sưu khảo, Viện Đại học

Hợp (2014), “Lịch sử triết học phương Tây (tập 2) - Triết học phương Tây cận
hiện đại” (Nxb. CTQG, Hà Nội). Các công trình này đều dành thời lượng khá dài
để bàn về những tư tưởng triết học của Plato, Aristotle nói chung và tư tưởng
chính trị - xã hội của hai ông nói riêng.
Ngoài ra còn có những luận văn, luận án nghiên cứu về tư tưởng của Plato
như luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thanh Thủy trường Khoa học xã hội và nhân
văn ĐHQGTPHCM với đề tài “Tư tưởng chính trị của Plato trong tác phẩm Nền
cộng hòa và ý nghĩa lịch sử của nó” Ở đây, luận văn đã phân tích sâu sắc và hệ
thống tư tưởng chính trị của Plato được thể hiện trong tác phẩm “Cộng hòa” đồng
8


thời phân tích ý nghĩa lịch sử của những tư tưởng đó. “Tư tưởng giáo dục của
Plato qua tác phẩm Cộng hòa” của Phạm Bá Điền, tác giả chỉ giới hạn nghiên
cứu của mình trong tư tưởng giáo dục được thể hiện trong tác phẩm Cộng hòa.
Về nhà triết học cổ đại Aristotle, có luận văn thạc sĩ của Mai Hoài Anh và Lưu
Văn Thắng trường Học viện báo chí và tuyên truyền có tên “Tư tưởng chính trị
Aristotle trong tác phẩm chính trị luận”. Luận văn trình bày điều kiện tự nhiên,
kinh tế - xã hội Hy Lạp cổ đại, các tư tưởng chính trị có ảnh hưởng đến Aristotle,
hoàn cảnh thân thế sự nghiệp và phân tích những tư tưởng chính trị chủ yếu của
Aristotle trong tác phẩm chính trị luận, từ đó đánh giá giá trị, hạn chế của tư
tưởng chính trị Aristotle. Trên Thông tin Khoa học xã hội số 12.1014 có bài viết
của PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền bài viết mang tên “Tư tưởng triết học về
nhà nước của Aristotle trong tác phẩm “Chính trị luận””. Đây là bài viết thể hiện
những tư tưởng cơ bản về nhà nước của Aristotle trong tác phẩm “Chính trị luận”.
Trong đó, tác giả phân tích rõ những vấn đề như về sự ra đời và bản chất của nhà
nước, về chính sách nhà nước, về các hình thức chính quyền và mô hình nhà
nước lý tưởng. Bài viết cũng của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền trên Tạp chí
Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, tập 31, Số 2(1015)21-28,
mang tên “Tư tưởng triết học giáo dục của Plato”. Ở đó, bài viết khẳng định quan

Plato chuyên khảo do Lưu Minh Hy và Trí Tri biên dịch. Và tác phẩm tiêu biểu
của Aristotle bàn về vấn đề chính trị - xã hội là tác phẩm “Chính trị luận”, tác
phẩm này được Nông Duy Trường biên dịch.
Ngoài những nghiên cứu kể trên ở Việt Nam, ở nước ngoài có rất nhiều
những công trình nghiên cứu về tư tưởng Plato, trong đó có một số công trình
nghiên cứu đã được dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt. Vì vậy, việc nghiên
cứu về tư tưởng Plato nói chung và tư tưởng chính trị - xã hội của ông nói riêng
hiện nay cũng có những thuận lợi nhất định trong việc tiếp cận tài liệu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản tư tưởng chính trị xã hội của Plato, và ảnh hưởng của nó đến Aristotle.
10


Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ
sau:
- Nghiên cứu, luận giải bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội và những tiền
đề lý luận dẫn đến sự hình thành tư tưởng chính trị - xã hội của Plato
- Tập trung trình bày và phân tích những nội dung cơ bản trong tư tưởng
chính trị - xã hội của Plato và đánh giá những giá trị và hạn chế.
- Ảnh hưởng của tư tưởng chính trị - xã hội của Plato đến Aristotle:
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện đề tài này, tác giả vận dụng, kết hợp
nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau: Ngoài phương pháp thống nhất lịch sử
- lôgic, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể, phương pháp diễn dịch, quy nạp,
tác giả còn sử dụng kết hợp giữa phân tích và tổng hợp, so sánh, khái quát hóa để
nghiên cứu tư tưởng chính trị - xã hội của Plato và thấy được sự ảnh hưởng của
những tư tưởng ấy đến Aristotle


NỘI DUNG
Chương 1
BỐI CẢNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CHÍNH
TRỊ - XÃ HỘI CỦA PLATO
1.1 Bối cảnh kinh tế, chính trị và xã hội Hy Lạp cổ đại dẫn tới sự hình
thành tư tưởng chính trị - xã hội của Plato
Hy Lạp cổ đại là một vùng lãnh thổ vô cùng rộng lớn, lớn hơn nhiều quốc
gia Hy Lạp ngày nay. Lãnh thổ bao gồm phần lục địa miền Nam bán đảo
Bancăng, vùng ven biển Tiểu Á và các đảo của vùng Êgiê. Hy Lạp là quốc gia có
vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển đất
nước. Tuy nhiên, mỗi vùng miền trên lãnh thổ rộng lớn của Hy Lạp lại có những
thuận lơi đặc trưng riêng tạo ra sự phát triển các ngành khác nhau cho các vùng
lãnh thổ. Những thuận lợi về điều kiện tự nhiên cũng tác động làm cho tư duy
người Hy Lạp phóng khoáng và tự do bay bổng hơn, sự giao lưu kinh tế, văn hóa
luôn được mở rộng giữa Hy Lạp với các quốc gia, nền văn minh bên ngoài.
Lãnh thổ của Hy Lạp ngày càng được mở rộng, đây là kết quả của các cuộc
di dân thế kỷ VIII-VII TCN và những cuộc viễn chinh dành thắng lợi của
Alêchxanđrơ vào cuối thế kỷ IV TCN.
Những điều kiện tự nhiên cũng quy định nên khuynh hướng phát triển kinh
tế cũng như thể chế chính trị của mỗi vùng miền. Sự khác nhau về xu hướng phát
triển kinh tế, cách quản lý xã hội của các thế chế khác nhau gây nên sự xung đột
mâu thuẫn giữa các thành bang trên đất nước Hy Lạp. Đây là nguyên nhân gây ra
những cuộc chiến tranh thôn tính nhau của các thành bang, tạo nên những biến
đổi sâu sắc trong xã hội Hy Lạp lúc bấy giờ.
Plato được sinh ra trên đất nước Hy Lạp - một cái nôi của văn minh thế
giới, và thời đại diễn ra đầy những biến động trong xã hội. Những yếu tố này tác
động trực tiếp đến những tư tưởng triết học Plato nói chung và tư tưởng chính trị
- xã hội của ông nói riêng. Ở Hy Lạp, chế độ chiếm hữu nô lệ đã hình thành và
13

14


những chiến binh hết sức tinh nhuệ. Họ sống bằng thanh gươm, bằng cách đi xâm
chiếm và bắt người bản địa phải lao động để đáp ứng nhu cầu kinh tế cho họ.
Những người trong thành bang quen đi xâm chiếm chứ không quen lao động sản
xuất. Chế độ nhà nước ở đây gần như độc tài.
Về văn hóa, dân tộc Dorian là dân tộc trì trệ nhất. Nguyên nhân của sự trì
trệ này là do sự cô lập của thành bang này. Vì vậy, thành bang không có cơ hội
tiếp thu những tiến bộ của thế giới bên ngoài.
Về mặt kinh tế: trong thành bang Sparta chế độ tư hữu không tồn tại theo
cách họ bắt dân bản địa nơi họ xâm chiếm được phải lao động sản xuất và
phương thức sản xuất thuộc về chính quyền. Tất cả nô lệ, ruộng đất đều thuộc về
nhà nước.
Trong thành bang không có giai cấp trung lưu, do vậy không có giai cấp
đứng ra giúp quần chúng trong cuộc đấu tranh cho tự do. Thành bang luôn duy trì
một kỷ luật sắt đối với mỗi công dân, bắt mỗi cá nhân tuân theo một cách nghiêm
ngặt quy định của nhà nước. Có thể gọi là chủ nghĩa tập thể Sparta. Trong xã hội
lúc bấy giờ chỉ tồn tại hai giai cấp cơ bản là: giai cấp những người cai trị và giai
cấp những người nô lệ. Ngoài ra, còn một tầng lớp là “những cư dân xung quanh”.
Các công dân phải cống hiến, hi sinh bản thân mình cho nhà nước.
Đây là thành bang đứng đầu trong một liên minh quân sự. Trong cuộc
chiến giữa liên minh do Sparta đứng đầu và liên minh do Athens đứng đầu, nhờ
sức mạnh quân sự Sparta đã chiến thắng làm cho Athens mất quyền tự chủ.
Thành bang Athens: Nơi Plato sinh ra và lớn lên, nằm trên vùng đồng
bằng Attích, tổ tiên của người Athens là dòng dõi từ người Êôlien. Khác với
thành bang Sparta, thành bang Athens đặc trưng bởi sự phát triển kinh tế, thương
mại và văn hóa đô thị. Vì Athens có nhiều hải cảng thuận tiện cho giao lưu
thương mậu dịch, quan hệ hàng hóa sớm phát triển làm cho giai cấp chủ nô giàu
lên nhanh chóng. Trong xã hội, một bộ phận dân cư tách khỏi lao động chân tay.

giai cấp này. Đại diện cho hai giai cấp này là hai thành bang Sparta và thành bang

16


Athens, cuộc đấu tranh giữa hai thành bang diễn ra gay gắt, phức tạp trên 30 năm
làm cho đất nước Hy Lap trải qua thời kỳ đầy biến động.
Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự hình thành, phát triển và biến đổi của
xã hội chiếm hữu nô lệ, Hy Lạp thời kỳ này cũng đã đạt được những thành tựu
đáng kể trong các ngành khoa học, nghệ thuật ...
Bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội Hy Lạp là điều kiện khách quan hình
thành nên những tư tưởng triết học cũng như tư tưởng chính trị - xã hội Plato.
Chứng kiến những biến đổi lịch sử trong xã hội Hy Lạp, Plato nhận ra những
khiếm khuyết hiện hữu trong những thể chế chính trị đương thời. Đây là lý do
thôi thúc khiến Plato cũng như những nhà triết học cùng thời dành nhiều thời
gian công sức, nghiên cứu, kiếm tìm những mô hình nhà nước hoàn thiện, có thể
khắc phục được những hạn chế trong các mô hình trong hiện thực lúc bấy giờ.
Những tư tưởng chính trị - xã hội của Plato là kết quả nghiên cứu, tiếp thu và phê
phán hiện thực xã hội Hy Lạp và những tư duy mang tính dự báo, khai sáng của
Plato về sự phát triển xã hội trong tương lai.
1.2 Những tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng chính trị - xã hội của
Plato
Trong tiến trình lịch sử tư tưởng nhân loại, bất kể một triết gia nào khi đưa
ra những quan điểm của mình đều có sự kế thừa, tiếp thu và phát triển những tư
tưởng của người đi trước. Plato cũng vậy, tiền đề lý luận cho sự ra đời tư tưởng
chính trị xã hội của Plato là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là tư tưởng dân
chủ và bên kia là phản dân chủ, và sự ảnh hưởng từ những tư tưởng triết học
chính trị -xã hội trước đó. Đặc biệt đó là sự ảnh hưởng trực tiếp những tư tưởng
từ người thầy của Plato đó là Socrates.
Trước nhà triết học Socrates, đặc điểm nổi bật trong tư tưởng của các triết

trong những nhà triết học tham gia cuộc đấu tranh này. Do đứng trên lập trường
của phái chủ nô quý tộc nên ông gay gắy chống đối lại với những chủ trương của
phe chủ nô dân chủ. Bởi vậy, triết học Plato mà đặc biệt là triết học chính trị xã

18


hội của Plato là sự phán ánh hiện thực cuộc đấu tranh này và qua đó ông đã thể
hiện rõ ràng lập trường tư tưởng chính trị của mình.
Héraclite (530-470 TCN), đứng trên lập trường của phe chủ nô quý tộc
chống đối quyết liệt tư tưởng dân chủ của tầng lớp chủ nô dân chủ. Ông cho rằng:
“Đấu tranh là nguồn gốc của sự hiện hữu và khởi nguyên của sự sống và tồn tại”.
Đấu tranh theo ông là điều kiện để tạo nên sự hài hòa và phân hóa xã hội. Thông
qua đấu tranh, bản chất của sự vật được bộc lộ và từ đó con người mới chấp nhận
được sự vật. Những tư tưởng của Héraclite còn bảo thủ và phiếm diện vì ông
tuyệt đối hóa vai trò của cá nhân ưu tú: đối với ông một cá nhân ưu tú thì hơn cả
vạn người bình thường. Ông cũng tỏ ra khinh miệt tầng lớp quần chúng và chủ
trương đàn áp triệt để bất cứ cuộc khởi nghĩa nào của quần chúng nhân dân.
Những tư tưởng này hầu như đều có trong tư tưởng của Plato, Plato cũng cùng
chiến tuyến với Héraclite trong cuộc đấu tranh chống lại phe chủ nô dân chủ.
Hơn nữa tầng lớp quần chúng, hay ở Plato là tầng lớp những người lao động vẫn
là những tầng lớp người thấp kém trong mắt các triết gia cổ đại này. Và những
người ưu tú luôn được coi trọng và tuyệt đối hóa vai trò của họ nhà nước.
Pythagore (571-497 TCN) cũng là nhà triết học chủ trương chống lại phe
chủ nô dân chủ. Ông kịch liệt chống đối trước tình hình phái chủ nô quý tộc bị
phái chủ nô dân chủ đánh chiếm và cướp chính quyền. Bởi vậy, ông đã thành lập
một tổ chức chính trị và triết học để kêu gọi đấu tranh giành lại chính quyền. Đây
cũng là đường lối mà cả Socrate và Plato đi theo.
Plato sống trong thời kỳ đất nước Hy Lạp chia cắt thành các thành bang
với những thiết chế xã hội khác nhau, mà nổi bật là 2 thiết chế dân chủ và quý tộc,

Có thể nhận thấy rằng Plato đã tiếp thu và phát triển quan niệm của
Socrates trên nhiều phương diện: về lập trường chính trị ủng hộ giai cấp quý tộc,
đấu tranh chống lại tư tưởng dân chủ vì cho rằng tư tưởng dân chủ còn bộc lộ
nhiều hạn chế, bất công và vì vậy, cần xóa bỏ. Từ đây, ông đưa ra ý tưởng xây
dựng một nhà nước cộng hòa quý tộc lý tưởng, nhấn mạnh cả về vấn đề đức hạnh
chính trị.
20


Những quan điểm chính trị - xã hội của Plato thể hiện sự thống nhất, chặt
chẽ và nhất quán với những quan niệm thế giới quan, nhân sinh quan của ông.
Trong thế giới quan, Plato cho rẳng tồn tại đích thực là ý niệm, ý niệm của ông
thuộc về thế giới tinh thần. Vì vậy, Plato là một nhà triết học duy tâm khách quan.
Sự phân chia những thang bậc trong thế giới ý niệm như thế nào thì ông cũng thể
hiện sự phân chia ấy trong xã hội hiện thực. Quan điểm chính trị xã hội của Plato
thể hiện rõ nét thế giới quan duy tâm của ông khi ông tuyệt đối hóa tri thức, yếu
tố thuộc về tinh thần mà hạ thấp vật chất, người lãnh đạo trong thành bang lý
tưởng là người có tri thức chứ không phải là người giàu có.
Về nhân sinh quan, theo Plato, con người được tạo thành từ thể xác và linh
hồn nhưng thể xác chỉ là nơi cầm tù linh hồn, ràng buộc linh hồn vào những ham
muốn, dục vọng tầm thường. Linh hồn là do Thượng đế ban cho, cái có trước ở
thế giới ý niệm và trú ngụ trên các vì sao. Và có các loại linh hồn khác nhau, vì
vậy, cũng có những loại người khác nhau. Trong tác phẩm “Cộng hòa”, sự phân
chia các giai cấp trong xã hội dựa trên những khả năng tự nhiên của con người,
khả năng đó bị quy định bởi những linh hồn khác nhau ở thế giới ý niệm. Khi
những linh hồn tốt trú ngụ trong thể xác con người sẽ tạo ra những người có khả
năng tự nhiên vượt trội và người này khi được giáo dục bài bản trong nhà nước lý
tưởng sẽ trở thành những nhà cai trị thành bang. Trong khi những linh hồn không
tốt trú ngụ trong thân xác con người sẽ tạo nên khả năng tự nhiên của con người
ấy không tốt và trở thành tầng lớp lao động.

tiếp đến tư tưởng và tác phẩm của ông.
Ông là người có nhiều ưu thế hơn các thanh niên cùng thời như: là con nhà
giàu có, gia đình quý tộc, dòng họ quyền thế, thân thể cường tráng và được tiếp
thu đầy đủ giáo dục thời đại. Nhưng ông lại không theo đuổi sự nghiệp chính trị.
Bởi ông nhận thấy, nhóm Ba mươi bạo chúa khi mời ông tham gia điều hành
thành bang vẫn còn duy trì tình trạng bất công, tàn bạo. Và thêm vào đó, sự kiện

22


người thầy của ông là Socrates bị kết án tử hình đã gây chấn động và ông quyết
định vĩnh biệt chính trị.
Sau khi Socrates qua đời năm 339TCN, khi đó Plato mới 28 tuổi, ông lui về
Megara thành phố trong vùng Megaris nằm giữa vịnh Corinth và vịnh Saronic,
gặp gỡ các thân hữu từng là học trò của Socrates. Sau đó, ông đi thăm thú nhiều
nơi như: đến thành phố Cyrene trong vùng Cyrenaica thuộc địa Bắc Phi diện kiến
nhà toán học Eudoxus, tới Ai Cập, rồi đến Ý và đảo Sicile thăm viếng triết phái
Pythagora. Khi đến thành phố Syracuse, ông tiếp xúc với Dion, em vợ Dionysius.
Khi đó Dionysius đang ở cực đỉnh quyền thế, mới 25 tuổi đã được bầu làm
strategos, nguyên soái tướng quân. Ngoài chuyện toàn quyền hành động,
Dionysius giải phóng người Hy Lạp trên đảo Sicile khỏi áp bức, hiếp đáp, đe dọa
của Carthage, đồng thời tạo dựng cho họ sức mạnh chính trị để có thể có chỗ
đứng đáng kể trong thế giới Hy Lạp. Nhưng không hiểu vì lý do gì mà quan hệ
đôi bên chở nên căng thẳng, bạo chúa trẻ tuổi này lại kiếm cớ đưa ông lên thuyền
đem đến đảo Aegina bán làm nô lệ và tù binh chiến tranh. Nhưng nhờ có người
quen từ Cyrene tên là Anniceris bỏ tiền ra chuộc, ông mới trở về được Athens.
Định cư ở đây ít lâu, năm 387 TCN, ông thành lập Học viện nhằm truyền bá khoa
học và triết học trong khu rừng ven biên thành phố, ông bắt đầu giảng dạy triết
học. Cũng giống như Socrates, ông dạy học không lấy tiền và khi dạy ông thường
sử dụng phương pháp đối thoại, đàm đạo. Ông thu hút nhiều đệ tử theo học, trong

nhà tư tưởng đó. Plato cũng vậy, bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội của Hy Lạp
cổ đại có tác động trực tiếp dẫn đến sự hình thành tư tưởng chính trị -xã hội của
Plato. Cùng với vị trí địa lý thuận lợi lại thêm tài nguyên thiên nhiên phong phú,
đất nước Hy Lạp cổ đại rộng lớn có những điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự
phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, là một vùng lãnh thổ rộng lớn nên mỗi
vùng miền của đất nước Hy Lạp lại có những thuận lợi đặc trưng riêng, đây là
đặc điểm quy định nên những xu hướng phát triển kinh tế cũng như thể chế chính
trị riêng.
24


Về tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng chính trị xã hội của Plato,
những tư tưởng chính trị - xã hội của Plato có tiền đề sâu xa là sự tác động của
cuộc đấu tranh giữa hai xu hướng chính trị một bên là chủ nô dân chủ và một bên
là chủ nô quý tộc. Trong cuộc đấu tranh gay gắt này Plato đứng trên lập trường
của giai cấp quý tộc bảo vệ quyền lợi và lợi ích cho giai cấp mình. Tiền đề lý
luận trực tiếp đó là sự ảnh hưởng của những tư tưởng chính trị - xã hội của những
nhà tư tưởng trước đó như Solon, Hêraclite, Pythagore, Democrite nhưng người
có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc nhất là Socrates. Socrates ảnh hưởng tới Plato
trên nhiều phương diện cả thế giới quan lẫn nhân sinh quan. Đồng thời tư tưởng
chính trị - xã hội của Plato là sự thể hiện quan điểm nhất quán giữa thế giới quan
và nhân sinh quan của ông.
Tóm lại, tư tưởng chính trị - xã hội của Plato được hình thành là kết quả
trực tiếp từ sự tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị - xã hội của đất nước Hy
Lạp cổ đại đầy biến động. Những tư tưởng chính trị - xã hội là có tiền đề lý luận
sâu xa từ cuộc đấu tranh giữa quý tộc chủ nô và dân chủ chủ nô, nhưng tiền đề lý
luân trực tiếp là từ những nhà tư tưởng đi trước. Những tư tưởng chính trị - xã hội
của Plato thể hiện nhất quán giữa thế giới quan và nhân sinh sinh quan của ông.
Cuộc đời và sự nghiệp của Plato cũng trải qua không ít thăng trầm và những biến
cố, ông cũng đã để lại cho lịch sử nhân loại một kho tàng những tác phẩm có ý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status