Nghiên cứu xử lý nitơ và phốtpho trong nước có tải lượng ô nhiễm cao bằng hệ bùn hoạt tính cải tiến - Pdf 38

Nghiên cứu xử lý nitơ và phốtpho trong nước
có tải lượng ô nhiễm cao bằng hệ bùn hoạt tính
cải tiến
Trần Đình Minh
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS Chuyên ngành: Khoa học môi trường; Mã số 60 44 03 01
Người hướng dẫn: TS. Lê Văn Chiều
Năm bảo vệ: 2014

Abstract. Đánh giá phương pháp Bùn hoạt tính (BHT) cải tiến yếm khí – thiếu khí –
hiếu khí (AAO) khi có và không sử dụng vật liệu mang polyuretan nhằm nâng cao
hiệu quả xử lý nước thải giàu N và P. Tiến hành khảo sát hiệu quả xử lý khi thay đổi
các điều kiện thí nghiệm: Thay đổi thời gian lưu nước; Thay đổi nồng độ NH4+ đầu
vào khác nhau; Chế độ tuần hoàn khác nhau khi có và không có vật liệu mang PU.
Nghiên cứu và thiết lập mối quan hệ tải lượng hữu cơ – năng suất xử lí, đưa ra giá trị
thông số thiết kế áp dụng cho các hệ thống qui mô lớn ngoài thực địa.
Keywords. Xử lý ô nhiễm; Bùn hoạt tính; Ô nhiễm nước; Hệ bùn hoạt tính; Khoa học
mỗi trường.

Content
MỞ ĐẦU
Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá và
đương nhiên là kéo theo đô thị hoá. Tình hình ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện gia tăng
nhanh chóng. Theo các tính toán nếu tốc độ tăng trưởng GDP ở Việt Nam trong vòng 10 năm
tới tăng bình quân khoảng 7 %/năm, trong đó GDP công nghiệp khoảng 8-9 %/năm, mức đô
thị hoá từ 23 % lên 33 % trong năm 2000, thì đến năm 2020 lượng ô nhiễm do công nghiệp có
thể tăng lên gấp 2,4 lần so với bây giờ, lượng ô nhiễm do nông nghiệp và sinh hoạt cũng có thể
gấp đôi mức hiện nay. Tác động về môi trường do chăn nuôi gây ra không nhỏ. Việc tìm giải
pháp phù hợp để xử lý nước thải sau chăn nuôi trước khi xả ra môi trường là hết sức cần thiết cho
sự phát triển nông nghiệp bền vững [5].


nước thải chăn nuôi lợn - một nguồn thải phổ biến ở Việt Nam hiện nay và ngày càng có xu
hướng tăng lên, chứa CHC, CÔN, nitơ và phốtpho có hàm lượng ô nhiễm cao.
Công nghệ xử lý nước thải luôn được phát triển và hoàn thiện trên cơ sở những thành
tựu mới về khoa học, kỹ thuật nhằm hạ giá thành xây dựng và vận hành hệ thống xử lý nước
thải cũng như nâng cao chất lượng nước sau khi xử lý. Tuy nhiên hiện nay việc xử lý nước
thải nói chung và nước thải giàu N, P nói riêng theo hướng áp dụng các kỹ thuật sinh học


được chú trọng phát triển mạnh trọng thời gian gần đây do chúng có tính bền vững, thích nghi
với nhiều điều kiện trong tự nhiên [18, 19].
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu xử lý nitơ và phốtpho trong nước có tải
lượng ô nhiễm cao bằng hệ bùn hoạt tính cải tiến”. Luận văn nằm trong đề tài Bộ công
thương, do PGS. TS. Nguyễn Quang Huy, Chủ nhiệm Khoa Sinh học làm chủ nhiệm đề tài.
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá phương pháp BHT cải tiến yếm khí – thiếu khí – hiếu khí (AAO) khi có và
không sử dụng vật liệu mang polyuretan nhằm nâng cao hiệu quả xử lý nước thải giàu N và P.
Nội dung nghiên cứu
1. Khảo sát hiệu quả xử lý khi thay đổi các điều kiện thí nghiệm:
- Thay đổi thời gian lưu nước
- Thay đổi nồng độ NH4+ đầu vào khác nhau
- Chế độ tuần hoàn khác nhau khi có và không có vật liệu mang PU
2. Nghiên cứu và thiết lập mối quan hệ tải lượng hữu cơ – năng suất xử lí, đưa ra giá
trị thông số thiết kế áp dụng cho các hệ thống qui mô lớn ngoài thực địa.

Reference
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng việt
1.

Lê Văn Cát (2007), Xử lý nước thải giàu hợp chất nitơ và Phốtpho, NXB Khoa học

7.

Phạm Thị Hồng Đức, Lê Văn Cát (2009). “Mô hình hóa ảnh hưởng của chất hữu cơ
dạng tan lên quá trình nitrat hóa bằng phương pháp màng vi sinh tầng chuyển động”.
Tạp chí Hóa học, 47 (6B): 50-55.

8.

Lương Ngọc Khánh, Trần Hiếu Nhuệ, Kenji Furukawa (2005): Oxy hóa kỵ khí
amôni ứng dụng xử lý nitơ trong nước thải ở Việt Nam, Tạp chí Xây dựng, năm 2005,
số 10, trang 41-45.

9.

Nguyễn Thị Hoa Lý (1994), “Nghiên cứu các chỉ tiêu nhiễm bẩn chất thải chăn nuôi
heo tập trung và áp dụng một số biện pháp xử lý”. Luận án tiến sỹ khoa học Nông
nghiệp, Đại học Nông lâm TP. Hồ Chí Minh.

10.

Nguyễn Thị Hoa Lý (2005): “Một số vấn đề liên quan đến việc xử lý nước thải chăn
nuôi, lò mổ”. Tạp chí khoa học nông nghiệp, số 5, năm 2005.

11.

Ngô Kế Sương và Nguyễn Lân Dũng (1997), Sản xuất khí đốt (biogas) bằng kỹ
thuật lên men kỵ khí, trang 20-48. NXB Nông nghiệp.

12.



18.

C.E. Benjamin, S.D. Schwarz, T.T. Theodore, (2001). “A bioflter network model
importance of the pore structure and other large-scale heterogeneities”. Chemical
Engineering Science 56: p. 475-483.

19.

D.I. MASSÉ and L. MASSE, (2006): “Treatment of slaughterhouse wastewater in
anaerobic sequencing batch reactors”, p. 56-109.

20.

Edgerton et al, (2000). “Strategies for dealing with piggery effluent in Australia: the
sequecing batch reactor as asolution”. 2nd Int. Sym. on SBR Technology IWA, 1012, July, Narbonne, France.

21.

H.D. “Biological Nitrogen Removal System Design”. Am. Inst. Chem. Eng. NY
(1981), p. 327.

22.

Jens Rjbye Schmidt and Birgitte Kiar Ahring, (1997): “Treatment of waste water
from a multi product food-processing company, inflow anaerobic sludge blanket
(UASB) reactors”. The effect of sesonal variation, Pure & Appl. Chem, Vol.69, No.
11, pp. 2447-2452.

23.

Management 78: p. 149-156.


29.

S. Andersson, (2009). “Characterization of bacterial biofilms for wastewater
Treatment. School of Biotechnology”, Royal Institute of Technology (KTH), Sweden.

30.

Y.X Chen, J. Yin, K. Wang, (2005). “Long-term operation of biofilters for
biological removal of ammonia”. Chemosphere 58: p. 1023-1030.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status