HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ KIM ĐOAN
QU¶N Lý VèN NHµ N¦íC
T¹I C¸C DOANH NGHIÖP NHµ N¦íC TR£N §ÞA BµN
THµNH PHè §µ N½NG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 62 34 04 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. KIM VĂN CHÍNH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong bản luận án là trung thực có nguồn gốc rõ ràng và
được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Kim Đoan
MỤC LỤC
Trang
1
55
60
Chương 3: THỰC TRẠNG VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI
CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Khái quát chung về doanh nghiệp nhà nước và vốn nhà nước tại
các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2. Thực trạng quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.3. Đánh giá thực trạng quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.4. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
69
69
76
98
107
Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
4.1. Dự báo sự phát triển và định hướng quản lý vốn nhà nước tại các
doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
4.2. Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý vốn nhà nước
tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
KÕt luËn
DNNN
:
Doanh nghiệp nhà nước
HĐND
:
Hội đồng nhân dân
HĐQT
:
Hội đồng quản trị
KTNN
:
Kinh tế nhà nước
KTTT
:
Kinh tế thị trường
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
UNDP
:
Chương trình phát triển liên hợp quốc
WB
:
Ngân hàng thế giới
WTO
:
Tổ chức Thương mại thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH
Trang
Bảng 3.1:
Bảng 3.2:
Biến động nguồn vốn tín dụng tại các doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng qua các năm
2010-2013
Hệ số bảo toàn vốn của các doanh nghiệp nhà nước trên
địa bàn thành phố giai đoạn 2010-2013
Lợi nhuận của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý từ 2010-2013
Khả năng sinh lời của các doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước thuộc thành phố Đà Nẵng quản lý từ 2010-2013
Hệ số thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp giai
đoạn 2010-2013
Tình hình phân phối lợi nhuận sau thuế tại doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn thành phố tính đến năm 2013
Sơ đồ tổ chức Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản
thuộc sở hữu nhà nước
71
73
74
79
79
81
83
84
85
86
88
89
pháp lý từ khâu đầu tư đến quản lý, giám sát quá trình sử dụng, hình thức văn
bản có cả luật, nghị định, thông tư; việc phân cấp cũng được quy định khá rõ
ràng..., nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể nhận thấy rằng vẫn
còn quá nhiều vấn đề đặt ra trong quản lý vốn nhà nước tại DNNN. Điển hình
là mô hình quản lý vốn chưa thống nhất và chưa được thể chế hóa rõ ràng;
2
tình trạng vô chủ trong DNNN; tính vô trách nhiệm trong quản lý vốn nhà
nước tại các DNNN... Hậu quả của tình trạng này là đến nay vẫn chưa rõ trách
nhiệm của các bên liên quan đối với vốn và tài sản tại DNNN, tình trạng đầu
tư kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí, mất vốn, mất khả năng thanh toán, thậm
chí vốn nhà nước bị lạm dụng, trục lợi cá nhân và cuối cùng là nhiều DNNN trở
thành tác nhân gây thất thoát vốn, làm nợ công tăng cao mà ngân sách nhà nước
(NSNN) phải gánh chịu.
Trước bối cảnh kinh tế hiện nay, việc tái cấu trúc DNNN trở nên cấp
thiết hơn bao giờ hết. Cùng với tái cấu trúc về tổ chức và hình thức pháp lý của
doanh nghiệp, việc đổi mới, hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN là
yêu cầu cấp bách đang đặt ra ở cả cấp toàn quốc và cấp các địa phương, nhất là
các địa phương quan trọng có nhiều DNNN và được ủy quyền trực tiếp quản lý
nhiều DNNN.
Đối với Đà Nẵng, thành phố trọng điểm khu vực miền Trung - Tây
Nguyên cũng đang trong quá trình đổi mới quản lý DNNN theo yêu cầu của
Nhà nước về tái cấu trúc DNNN. Song, đây là công việc còn đang rất bộn bề
và chưa tìm ra lời giải thỏa đáng. Bởi lẽ, quản lý vốn nhà nước tại các DNNN
ở cấp địa phương không chỉ là việc Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật hay
các mệnh lệnh hành chính để quản lý hoạt động của các doanh nghiệp này,
cũng không chỉ là việc thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu Nhà
nước, mà còn là việc quản lý hoạt động đầu tư, hoạt động sử dụng vốn, thực
hiện quyền kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn,... Những nội
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn nhà nước tại các DNNN
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, làm rõ những thành công, yếu kém, nguyên
nhân và các vấn đề cần giải quyết nhằm hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại
các DNNN trên địa bàn Đà Nẵng.
- Đề xuất các giải pháp cơ bản hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các
DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý vốn nhà nước của các cơ quan
quản lý nhà nước địa phương với tư cách là chủ sở hữu đối với vốn nhà nước
4
tại các DNNN do Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Đà Nẵng quản lý và
đại diện chủ sở hữu.
Đối tượng khảo sát của luận án là các cơ quan quản lý nhà nước đối với
DNNN nói chung và vốn nhà nước tại các DNNN nói riêng. Luận án còn
khảo sát chính những DNNN địa phương do UBND thành phố Đà Nẵng trực
tiếp quản lý. Các DNNN khảo sát là những doanh nghiệp đạt các tiêu chí
DNNN theo Luật Doanh nghiệp 2014.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn góc độ tiếp cận nghiên cứu: Luận án chỉ nghiên cứu quản
lý vốn nhà nước tại các DNNN với tư cách là quản lý của người đại diện
chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DNNN, do vậy luận án không nghiên cứu
các nội dung quản lý vốn của bản thân doanh nghiệp với tư cách là chủ thể
tự chủ kinh doanh. Như vậy, góc độ tiếp cận nghiên cứu là nhìn vấn đề
quản lý vốn nhà nước của các cơ quan quản lý nhà nước đối với đối tượng
quản lý là vốn của nhà nước giao cho các DNNN. Việc quản lý vốn nhà
nước được giới hạn ở 4 nội dung chính: thực hiện đầu tư vốn - giao vốn,
quản lý quá trình sử dụng vốn trong giới hạn thẩm quyền tác động của chủ
bộ cho quản lý vốn nhà nước trong các DNNN.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương, tiết của luận án
để khảo cứu lý luận, phân tích, đánh giá và khái quát thực tiễn, đưa ra các kết
luận nhận định về những căn cứ lý luận và thực tiễn trên mọi phương diện về
quản lý vốn nhà nước trong các DNNN. Đặc biệt phương pháp này được sử
dụng nhiều nhất và có hiệu quả cao trong phân tích, đánh giá các quan điểm
lý luận, các tư liệu, số liệu thu thập được.
- Phương pháp lịch sử và lôgic
Phương pháp này được sử dụng trong tiếp cận và đi sâu nghiên cứu việc
xác định cơ chế, chính sách quản lý vốn nhà nước trong các DNNN phù hợp
với những điều kiện lịch sử cụ thể. Đồng thời, phương pháp này còn có tác
dụng bảo đảm các luận điểm, luận cứ, luận chứng nêu ra trong luận án, tuân
theo trình tự logic, chặt chẽ.
6
- Phương pháp so sánh
Phương pháp này được sử dụng nhiều nhất ở chương 2 đặc biệt là trong
việc so sánh, làm rõ phương thức quản lý vốn nhà nước trong các DNNN của
các nước và những bài học kinh nghiệm. Phương pháp so sánh cũng được sử
dụng nhiều ở chương 3 để so sánh, đánh giá hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn
trong các hình thức tồn tại của loại hình DNNN qua các thời kỳ khác nhau.
4.2. Nguồn thông tin nghiên cứu
Bao gồm thông tin khoa học trong các công trình nghiên cứu về DNNN
và quản lý vốn nhà nước trong DNNN của các tác giả, tập thể tác giả trong và
ngoài nước; thông tin và số liệu thống kê từ các báo cáo của các cơ quan
nghiên cứu, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu Nhà nước
tại DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và ở Trung ương, báo cáo tài
chính của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trên địa bàn thành phố Đà
xuất những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các
DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Luận án sau khi hoàn thiện có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về các vấn đề liên quan đến quản
lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nói chung và DNNN nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết.
8
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1. NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.1.1. Các nghiên cứu về doanh nghiệp nhà nước và quản lý doanh
nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Nghiên cứu về DNNN và quản lý DNNN có rất nhiều các công trình
của các tác giả, tập thể tác giả, các tổ chức trong và ngoài nước. Bao gồm các ấn
phẩm như sách giáo trình, sách chuyên khảo, các bài viết được đăng tải trên các
tạp chí, các bài viết chuyên đề. Có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau:
- “Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam giai đoạn
1986-2000” của Lee Kang Woo [49] đã tập trung nghiên cứu một cách có hệ
thống quá trình phát triển, đổi mới DNNN ở Việt Nam, đánh giá những thành
quả, những hạn chế của quá trình cải cách này, đồng thời rút ra những nhận
xét và đề xuất một số kiến nghị về quá trình đổi mới DNNN ở Việt Nam. Xét
về phương diện khoa học, cuốn sách đã hệ thống hóa được một cách khá toàn
diện toàn bộ quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nói chung, đổi mới cơ
chế quản lý nhà nước đối với DNNN nói riêng ở Việt Nam. Việc phân tích,
riêng; lý giải được xu hướng phát triển của sở hữu nhà nước trong quá trình
vận động của nền kinh tế; đề xuất hệ thống chính sách và giải pháp nhằm đổi
mới hệ thống DNNN phù hợp với yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN. Từ đó, đã làm rõ được những vấn đề lý luận hết sức cơ
bản về DNNN và quản lý DNNN đó là: xác định phạm vi sở hữu nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phân biệt được
phạm trù kinh tế nhà nước, sở hữu nhà nước, doanh nghiệp nhà nước...; các
hình thức thực hiện sở hữu nhà nước; cơ chế quản lý DNNN và sở hữu
DNNN... Những kết quả nghiên cứu này sẽ là nguồn tài liệu hết sức quý báu
cho những ai đang nghiên cứu về DNNN, đặc biệt là vấn đề quản lý vốn nhà
nước trong DNNN.
10
1.1.2. Các nghiên cứu về quản lý vốn nhà nước tại các doanh
nghiệp nhà nuớc
Quá trình đổi mới quản lý DNNN của Việt Nam thời gian qua bao gồm
nhiều giải pháp và luôn đi liền với chủ trương cổ phần hóa (CPH), trong đó
quản lý phần vốn nhà nước tại các DNNN CPH có ý nghĩa rất quan trọng
nhằm bảo toàn và phát huy vai trò của vốn nhà nước trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội. Nghiên cứu vấn đề này có: “Quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp sau cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước” của tác giả Nguyễn Thị Thu
Hương [45] đã đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm quản lý có hiệu
quả vốn nhà nước tại các doanh nghiệp sau CPH. Luận án mới chỉ dừng lại ở
việc đánh giá hiệu quả vốn nhà nước tại các DNNN sau CPH, chưa bao quát
hết được toàn bộ doanh nghiệp có vốn đầu tư nhà nước và không đề cập đến
cơ chế quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp .
Quản lý vốn nhà nước dù bằng cách nào thì cũng theo khuôn khổ pháp
luật. Chính vì vậy, sự xuất hiện chính sách quản lý vốn nhà nước tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác quản lý vốn nhà nước. Tuy nhiên, quá trình triển khai
cũng thu hút nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như:
- Luận án tiến sĩ “Đổi mới cơ chế quản lý vốn và tài sản đối với tổng
công ty 91 phát triển theo mô hình tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Xuân Nam [59] đã đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đổi
mới cơ chế quản lý vốn và tài sản của các tổng công ty 91 phát triển theo mô
hình tập đoàn kinh tế ở Việt Nam.
- Luận án “Cơ chế quản lý phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước Việt Nam” của tác giả Trần Thị Mai Hương [44] đã đánh giá thực trạng
và đề xuất các giải pháp về đổi mới cơ cấu tổ chức hệ thống DNNN và hoàn
thiện môi trường pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng phần
vốn Nhà nước tại DNNN. Theo tác giả, để vừa đảm bảo tiến độ thoái vốn, vừa
hạn chế thiệt hại cho Nhà nước đến mức thấp nhất thì bên cạnh việc thực hiện
nghiêm túc các quy định của Nhà nước đang rất cần những tư duy mới, những
cách làm đột phá. Trong đó, cần tăng quyền hạn và trách nhiệm cho lãnh đạo
DNNN và các cơ quan có thẩm quyền. Phải đặt việc bảo toàn vốn nhà nước
12
trên lợi ích tổng thể của nền kinh tế và của cả xã hội. Cần cân nhắc khi doanh
nghiệp bán được vốn sẽ có thêm tiền để đầu tư vào lĩnh vực khác hiệu quả
hơn, hoặc ít nhất cũng giảm được gánh nặng nợ lãi vay vốn ngân hàng. Đặc
biệt tác giả cho rằng trong bối cảnh hiện nay, bán rẻ có thể DNNN bị mất vốn
nhưng vốn của toàn nền kinh tế không mất đi, nó được chuyển sang cho
người khác và có thể nhờ vậy, nó được sinh sôi, phát triển, đem lại lợi ích lớn
hơn cho đất nước. Vì vậy, để xác định việc thoái vốn có hiệu quả hay không
cần phân tích từng trường hợp cụ thể và xem xét trong một quá trình chứ
không xét tại một thời điểm. Nếu trước kia, một doanh nghiệp đầu tư ngoài
ngành 10 đồng, nay thoái vốn chỉ thu được 8 đồng là lỗ - xét trên giá trị.
Nhưng lấy 8 đồng này để góp vào một doanh nghiệp khác phục vụ ngành kinh
doanh chính và sau đó doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả hơn thì về tổng
vi thực hiện cơ chế thực thi quyền đại diện chủ sở hữu nhà nước được giới
hạn tại doanh nghiệp có vốn nhà nước.
- Bài viết “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn
nhà nước” của tác giả Trần Ngọc Dương [29, tr.33-34] đã phân tích thực
trạng hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn nhà nước, tác giả đã đề xuất và nhấn mạnh
phải tập trung đổi mới cơ chế, bao gồm: Cơ chế đầu tư - rút vốn: Nhà nước
cần hạn chế đầu tư 100% vốn (thành lập mới doanh nghiệp); thực hiện đầu tư
trực tiếp lồng ghép với đầu tư gián tiếp; quyền rút vốn phải được đảm bảo cả
ở cấp Tổng công ty - Tập đoàn; Cơ chế giao nhận, bảo toàn vốn: việc giao
vốn và gắn trách nhiệm bảo toàn vốn phải theo nguyên tắc kinh doanh, tức là
việc đánh giá chất lượng hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT) phải căn cứ
vào các tiêu chí bảo toàn và phát triển có hiệu quả vốn nhà nước. Cần có cơ
chế gắn trách nhiệm bảo toàn phát triển vốn, sử dụng vốn có hiệu quả với chế
độ đãi ngộ cán bộ. Toàn bộ quyền quản lý, sử dụng, định đoạt vốn vật hóa của
doanh nghiệp phải được trao cho HĐQT TCT/tập đoàn; các cơ chế khác thực
hiện theo nguyên tắc thị trường. Cơ chế quản lý vốn nhà nước hiện hành còn
nhiều khuyết tật chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện Luật Doanh nghiệp
2005. Vì vậy, đổi mới cơ chế này là vấn đề thực sự cấp bách và là trọng tâm
của đổi mới DNNN trong giai đoạn tới.
14
Dưới góc độ nâng cao hiệu quả quản lý vốn nhà nước, vấn đề này được
các tác giả nghiên cứu và tiếp cận dưới rất nhiều góc độ như:
Theo tác giả Lê Đăng Doanh thì quản lý vốn đã khó mà quản lý vốn
nhà nước còn phức tạp hơn nhiều. Vì vậy theo tác giả “Quản lý vốn cần lộ
trình” [25] đã cho rằng sở hữu nhà nước rất dễ lâm vào mâu thuẫn. Điều này
không ngoại lệ đối với vốn nhà nước trong các doanh nghiệp sau CPH. Điều
này thể hiện ở chỗ phân tán quyền sở hữu cho quá nhiều cấp làm cho tài sản
thuộc sở hữu nhà nước bị xé nhỏ; các cơ quan quản lý vốn theo phương thức
lý sử dụng vốn nhà nước. Vấn đề quản lý sử dụng vốn nhà nước cần được
luật riêng điều chỉnh, bởi các lý do chủ yếu sau đây: nền kinh tế thị trường
đòi hỏi Nhà nước phải quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng công cụ là pháp luật;
Nhà nước quản lý gián tiếp DNNN thông qua khung khổ pháp luật; lượng
vốn của Nhà nước đầu tư cho hoạt động kinh doanh rất lớn.
Ở một góc độ khác, các nhà nghiên cứu quan tâm giải quyết vấn đề
kém hiệu quả trong hoạt động của DNNN, đặc biệt hiệu quả đầu tư vốn nhà
nước vào các doanh nghiệp. Để giải quyết tình trạng đó, nhiều ý kiến cho rằng
cần phải tăng cường kiểm tra, giám sát tài chính doanh nghiệp dưới các cách
thức khác nhau. Tác giả Trần Văn Hiền (2008) đã chỉ rõ sự cần thiết phải đẩy
mạnh công tác giám sát tài chính DNNN trong nghiên cứu “Tăng cường kiểm
tra, giám sát tài chính DNNN” [33, tr.22-24]. Theo ông, quá trình tổ chức sắp
xếp lại DNNN nhà nước đã ban hành nhiều chế độ chính sách giải phóng
doanh nghiệp và tạo động lực cho doanh nghiệp phát triển. Tuy nhiên, có một
số doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư phát triển ngành nghề chính theo qui
hoạch phát triển ngành, đa dạng hóa các loại hình kinh doanh khác. Hệ quả là
các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đầu tư vượt quá khả năng nguồn vốn của
mình, điều này ảnh hưởng không chỉ đến sự phát triển của doanh nghiệp mà còn
ảnh hướng đến khả năng bảo toàn vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Từ thực tế
này, vấn đề đặt ra cần có cơ chế giám sát tài chính của các doanh nghiệp nếu như
không muốn xảy ra những tác động xấu đến nền kinh tế quốc dân.
Thời gian qua, tuy giám sát tài chính DNNN đã được thực hiện nhưng
cũng bộc lộ những vấn đề bất cập được phản ánh khá cụ thể trong bài viết
16
“Cơ chế giám sát tài chính doanh nghiệp nhà nước: Thực trạng và những
khuyến nghị” (2001) của tác giả Trần Đức Chính [10, tr.13-15], đã cho rằng,
cơ chế giám sát thiếu chặt chẽ thể hiện trong cơ chế quản lý trao quyền cho
những người giám sát, quản lý nguồn vốn nhà nước nhưng họ lại không có
- Đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát đối với DNNN; phát triển thị
trường chứng khoán, tăng cường các hình thức huy động vốn của DNNN qua
thị trường này để minh bạch hóa hoạt động của các DNNN.
Bài viết “Kinh nghiệm các nước về quản lý, giám sát vốn nhà nước tại
doanh nghiệp” của tác giả Phạm Thị Tường Vân [96, tr.28-30] đã nghiên cứu
kinh nghiệm của một số nước về quản lý và đầu tư vốn nhà nước, tác giả rút
ra một số kết luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:
Một là, việc quản lý, giám sát phần vốn nhà nước đối với DNNN cần
xem xét trên giác độ chủ sở hữu, tách bạch giữa chức năng quản lý nhà nước
và chức năng chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Hai là, mức độ quản lý, giám sát của Nhà nước phụ thuộc vào mức độ
đầu tư vốn nhà nước nhiều hay ít, tính chất hoạt động của doanh nghiệp là
công ích hay kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận.
Ba là, Quốc hội, Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ... là các chủ
thể thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước ở các mức độ khác nhau và có
sự phân cấp. Cơ chế giám sát chủ yếu thông qua thực hiện chế độ báo cáo và
minh bạch hoá thông tin.
Bốn là, để đảm bảo việc giám sát có hiệu quả phần vốn nhà nước tại
doanh nghiệp và nâng cao quyền tự chủ của doanh nghiệp, Chính phủ cần xây
dựng một khung khổ pháp lý với các quy định rõ ràng, minh bạch, làm cơ sở
cho quản lý và giám sát phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp được hiệu
quả, xây dựng các chỉ tiêu để quản lý kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp và phù hợp với nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau.
Năm là, việc thành lập một cơ quan giám sát và quản lý phần vốn nhà
nước tại doanh nghiệp là cần thiết, nhằm giúp cho chủ sở hữu nhà nước giám sát
tình hình hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến phần vốn của Nhà nước đầu
tư vào doanh nghiệp và tách bạch với chức năng quản lý của Nhà nước.
18
19
- Xác định rõ nội dung giám sát của chủ sở hữu đối với tài chính
DNNN như thực hiện mục tiêu kế hoạch đầu tư, tài chính; danh mục đầu tư,
các ngành nghề kinh doanh chính và các ngành nghề có liên quan đến ngành
nghề kinh doanh chính; đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn rủi ro; thực
hiện nhiệm vụ công ích; bảo toàn và phát triển vốn nhà nước…
- Quy định rõ trách nhiệm của các đối tượng được giám sát, tức là trách
nhiệm của hội đồng quản trị, ban giám đốc DNNN trong việc cung cấp thông
tin, chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất, đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, kịp
thời cũng như cơ chế xử lý vi phạm.
- Đổi mới phương thức kiểm tra, giám sát đối với DNNN; phát triển thị
trường chứng khoán, tăng cường các hình thức huy động vốn của DNNN qua
thị trường này để minh bạch hóa hoạt động của các DNNN.
Bài viết “Kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà
nước” của nhóm tác giả Hoàng Xuân Hòa, Nguyễn Lê Hoa [35, tr.20-23] đã
chỉ rõ việc quản lý các công ty con thông qua kiểm soát tài chính là một khâu
quan trọng, thiết yếu trong hoạt động của các tập đoàn kinh tế Việt Nam. Vai
trò quan trọng của kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế được thể hiện
trên các khía cạnh như: Kiểm soát tài chính là công cụ để các chủ sở hữu, các
nhà đầu tư quản lý, giám sát hiệu quả vốn đầu tư; Kiểm soát tài chính bảo vệ
quyền lợi hợp pháp của các chủ thể sở hữu vốn tham gia đầu tư vào tập đoàn,
bảo đảm quyền lợi của các cổ đông, hạn chế rủi ro cho các khoản đầu tư;
Kiểm soát tài chính là công cụ đánh giá mức độ phù hợp của các mục tiêu,
quyết định và chính sách của hội đồng quản trị trong điều hành tập đoàn kinh
tế; Kiểm soát tài chính đảm bảo cho tập đoàn sử dụng vốn một cách hiệu quả;
Kiểm soát tài chính giúp công ty mẹ của tập đoàn nắm bắt được chính xác,
toàn diện về tình hình tài chính để điều hành và giám sát các mặt hoạt động
sản xuất kinh doanh (SXKD) của tập đoàn, đảm bảo sự hoạt động của các
khảo cho Việt Nam.
- Nghiên cứu về quản trị DNNN, có khá nhiều các công trình nghiên
cứu, có thể kể đến như:
+ OECD: "OECD Guidelines on Corporate Governance of State-owned
Enterprises" (Hướng dẫn của OECD về Quản trị Công ty trong Doanh nghiệp