MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài ....................................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .............................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................3
5. Tổng quan về tình hình nghiên cứu...........................................................................4
6. Kết cấu của đề tài ......................................................................................................7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP ..............................................................8
1.1. Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí ...................................................8
1.1.1. Bản chất của kế toán quản trị chi phí .............................................................8
1.1.2. Vai trò của kế toán quản trị chi phí.................................................................9
1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh xây lắp và ảnh hưởng của nó đến kế
toán quản trị chi phí ....................................................................................................10
1.3. Nội dung của kế toán quản trị chi phí .................................................................12
1.3.1. Phân loại chi phí ............................................................................................12
1.3.1.1. Phân loại chi phí theo chức năng ...........................................................12
1.3.1.2. Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí và các đối tượng chịu
phí .........................................................................................................................13
1.3.1.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với báo cáo tài chính .....................14
1.3.1.4. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động ....................14
1.3.1.5. Phân loại chi phí phục vụ quá trình ra quyết định .................................15
1.3.1.6. Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát của nhà quản lý ..................16
1.3.2. Xây lắp định mức và lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp.........16
1.3.2.1. Xây lắp định mức trong doanh nghiệp xây lắp .......................................16
1.3.2.2. Lập dự toán chi phí trong doanh nghiệp ................................................21
1.3.3. Kế toán chi phí cho các đối tượng chịu phí ..................................................24
1.3.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ................................................24
1.3.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp........................................................25
1.3.3.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công.....................................................25
Bảng 2.2: Kết quả điều tra về tổ chức hệ thống kế toán trong doanh nghiệp
nghiên cứu ......................................................................................................................... 47
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp trên
địa bàn Thành phố Sơn La ............................................................................................ 48
2.2. Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn
thành phố Sơn La.........................................................................................................49
2.2.1. Phân loại chi phí ............................................................................................49
2.2.2. Xây lắp định mức chi phí và lập dự toán chi phí trong các doanh nghiệp...50
2.2.2.1. Xây lắp định mức chi phí.........................................................................50
2.2.2.2. Lập dự toán chi phí .................................................................................51
2.2.3. Kế toán chi phí cho các đối tượng chịu phí ..................................................53
2.2.3.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ................................................53
2.2.3.2. Kế toán chi phí nhân công trực tiếp........................................................55
2.2.3.3. Kế toán chi phí sử dụng máy thi công.....................................................58
2.2.3.4. Kế toán chi phí sản xuất chung ...............................................................59
2.2.3.5. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm .............61
2.2.3.6. Về đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận..................................62
2.2.4. Phân tích biến động chi phí và sử dụng thông tin chi phí để ra quyết định
kinh doanh ................................................................................................................62
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HỮU HIỆU NHẰM ĐẨY MẠNH VIỆC
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ SƠN LA ..............65
3.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu ..............................................................................65
3.1.1. Những kết quả đạt được.................................................................................65
3.1.2. Những hạn chế tồn tại, nguyên nhân .............................................................65
3.2. Một số giải pháp hữu hiệu nhằm đẩy mạnh việc ứng dụng mô hình kế toán quản
trị chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Sơn La ..............69
Bảng 3.1: Phiếu theo dõi lao động đối với công nhân trực tiếp sản xuất ......... 70
Bảng 3.2. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí ................................... 72
Bảng 3.3: Báo cáo chi phí ............................................................................................. 75
công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường
do vậy không thể tránh khỏi các rủi ro, làm phát sinh chi phí. Chính vì vậy thông tin về
chi phí trong các doanh nghiệp xây lắp đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
giúp các nhà quản trị kiểm soát chi phí để vừa có thể tiết kiệm được chi phí và hạ giá
thành xây lắp.
Đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về chi phí trong các
doanh nghiệp chính là hệ thống kế toán chi phí. Kế toán chi phí luôn luôn tồn tại trong
mỗi tổ chức, tuy nhiên tác dụng cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau sẽ
khác nhau, tuỳ thuộc vào việc xây lắp và khai thác hệ thống kế toán chi phí đó. Các
doanh nghiệp ở các nước phát triển trên thế giới đã xây lắp hệ thống kế toán quản trị
chi phí hiện đại, cung cấp thông tin hữu ích cho cho các nhà quản trị nội bộ để trợ giúp
họ trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá việc thực
1
hiện kế hoạch. Cung cấp thông tin cho nhà quản lý để lập kế hoạch và ra quyết định;
Trợ giúp nhà quản trị trong việc điều hành và kiểm soát hoạt động của tổ chức; Thúc
đẩy các nhà quản trị đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp; Đo lường hiệu quả hoạt
động của các nhà quản lý và các bộ phận, đơn vị trực thuộc trong doanh nghiệp.
Tuy nhiên tại Việt Nam, kế toán quản trị chỉ thực sự được tìm hiểu vào đầu
những năm 90 và được nghiên cứu có hệ thống từ năm 1999. Trong những năm qua thì
kế toán quản trị chưa được quan tâm đúng mức. Hơn nữa, kế toán quản trị chi phí vẫn
còn là mới mẻ đối với các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn tỉnh Sơn La. Tại các
doanh nghiệp này, kế toán quản trị chi phí chủ yếu phục vụ cho mục tiêu tài chính
thông qua việc lập các báo cáo tài chính mang tính tổng quát vào cuối kỳ. Hệ thống kế
toán chi phí hướng vào việc cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm
soát và đánh giá việc lập kế hoạch trong nội bộ doanh nghiệp còn rất hạn chế. Hệ
thống kế toán chi phí hiện nay không thể cung cấp các thông tin phù hợp, kịp thời và
tin cậy cho việc ra các quyết định kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp. Mặc
dù hệ thống kế toán quản trị chi phí đã có những biểu hiện nhất định, nhưng nhìn
tại các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn Thành phố Sơn La bao gồm: loại hình doanh
nghiệp, quy mô, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, chế độ chính sách áp dụng, tổ chức
bộ máy kế toán quản trị chi phí, quy trình thực hiện các nội dung kế toán quản trị.
- Đối với các nhà quản trị, kế toán trưởng và nhân viên trực tiếp làm công tác
kế toán trong doanh nghiệp xây lắp tác giả gửi Phiếu câu hỏi khảo sát với mục đích
tìm hiểu thông tin liên quan đến tổ chức công tác kế toán nói chung và công tác kế
toán quản trị chi phí nói riêng.
- Đối với kế toán trưởng và nhân viên kế toán ngoài phiếu câu hỏi tác giả còn
tiến hành phỏng vấn thêm nhằm tìm hiểu cụ thể các phần hành và nội dung công việc
kế toán quản trị chi phí cụ thể từ đó có cơ sở đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi
phí trong các doanh nghiệp này.
* Phương pháp nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tình hình thực tiễn
- Nghiên cứu nghiên cứu tài liệu: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài
liệu trong quá trình nghiên cứu thông qua nhiều kênh khác nhau như: Tham khảo các
bài viết, các công trình khoa học liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài; nghiên
cứu sách chuyên khảo, báo, tạp chí chuyên ngành, giáp trình chuyên ngành; niên giám
thống kê. Qua đó, đề tài đã khái quát hóa được cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí
trong các doanh nghiệp xây lắp. Đây là kênh thu thập thông tin quan trọng, là cơ sở để
tác giả đề cập đến thực trạng kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp trên
địa bàn Thành phố Sơn La.
- Nghiên cứu tình hình thực tiễn: Nghiên cứu thực trạng bộ máy kế toán quản
trị chi phí, chính sách kế toán áp dụng, thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí
trong doanh nghiệp xây lắp.
* Phương pháp tổng hợp, phân tích dữ liệu
Các dữ liệu thu thập được ở các phương pháp trên sẽ được tác giả tổng hợp, xử
lý và phân tích thông qua việc sử dụng các phương pháp như : Phương pháp thông kê,
phương pháp so sánh.
4.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
(1) Dựa vào số liệu thực trạng về kế toán chi phí tại các doanh nghiệp xây lắp
trên địa bàn thành phố Sơn La.
cho thấy nhận thức của doanh nghiệp về những ưu nhược điểm của các kỹ thuất kế
toán quản trị chi phí là nhân tố quan trọng nhất khi các nhà quản lý ra quyết định về
việc lựa chọn và áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
mình.
Tại Newzeland, Adler, Everett và Waldron, năm 2000 “Advanced management
accouting techniques in manufacturing Utilisation, benefits, and barriers to
implementation” đã khảo sát và phỏng vấn các nhà thiết kế quản trị trong các doanh
nghiệp sản xuất để tìm hiểu về các phương pháp kế toán được họ áp dụng. Kết quả
khảo sát cho thấy các phương pháp truyền thống như xây lắp chi phí toàn bộ (full
costing), chi phí trực tiếp và chi phí định mức được sử dụng rộng rãi và phổ biến hơn
so với các kỹ thuật kế toán quản trị hiện tại như kế toán quản trị phục vụ cho việc xây
4
lắp chiến lược. Ngoài ra, các công ty có trụ sở tại Úc thường hay áp dụng ABC và các
kỹ thuật về chi phí chất lượng hơn các công ty bản địa.
Tại các nước Ả rập, nghiên cứu của Melellan và Moustafa năm 2010
“Management Accouting Practices in the Gulf Cooperative Countries” tại các doanh
nghiệp sản xuất ở các nước thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) là Ả rập Xê út,
Oman, Bahrain, Kuwait, Qatar và Các Tiểu Vương quôc Ả rập thống nhất cho thấy các
kỹ thuật kế toán quản trị chi phí được áp dụng nhiều nhất tại các nước này là các công
cụ lập kế hoạch và kiểm soát truyền thống như lập dự toán, các phương pháp xác định
ci phí địn mức kết hợp với phân tích sự biến đổi. Các phương pháp kế toán quản trị chi
phí hiện tại như ABC và xác định chi phí mục tiêu không được nhiều doanh nghiệp áp
dụng.
Tại Trung Quốc, năm 2007, Xiao và các cộng sự “Management Accouting in
China” đã tiến hành nghiên cứu về tình hình áp dụng các kỹ thuật kế toán quản trị chi
phí và sự khác nhau về mức độ áp dụng trong mối tương quan với nơi đặt cơ sở sản
xuất kinh doanh, ngành sản xuất và quy mô doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ
vào thực tiễn trong các doanh nghiệp Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu này còn
mang tính chất chung cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, trong khi tính linh hoạt
của kế toán quản trị lại rất cao, phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động kinh doanh của từng
ngành. Từ đầu những năm 2000, đã có nhiều nghiên cứu về một số vấn đề cụ thể của
kế toán quản trị, hoặc nghiên cứu kế toán quản trị áp dụng riêng cho các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ và doanh nghiệp sản xuất. Tác giả Phạm Quang (năm 2002) nghiên
cứu về “phương hướng xây lắp hệ thống báo cáo kế toán quản trị và tổ chức vận dụng
vào các doanh nghiệp Việt Nam”, tác giả Trần Văn Dung (năm 2002) nghiên cứu về
“Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam”, tác
giả Lê Đức Toàn (năm 2002) nghiên cứu về “kế toán quản trị và phân tích chi phí sản
xuất trong ngành sản xuất công nghiệp ở Việt Nam”, tác giả Giang Thị Xuyến (năm
2002) nghiên cứu về “tổ chức kế toán quản trị và phân tích kinh doanh trong doanh
nghiệp nhà nước”. Có một số công trình nghiên cứu ứng dụng kế toán quản trị trong
các ngành cụ thể, như tác giả Phạm Thị Kim Vân (năm 2002) nghiên cứu về “tổ chức
kế toán quản trị chi phí và kết quả kinh doanh ở các doanh nghiệp kinh doanh du lịch”,
tác giả Nguyễn Văn Bảo (năm 2002) với luận án “nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản
lý tài chính và kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhà nước về xây lắp”, tác giả
Nguyễn Thị Hằng Nga (năm 2004) nghiên cứu “hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị
trong các doanh nghiệp dầu khí Việt Nam”, tác giả Dương Thị Mai Hà Trâm (năm
2004) nghiên cứu “xây lắp hệ thống kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Dệt Việt
Nam”, tác giả Nguyễn Thanh Quí (năm 2004) nghiên cứu “xây lắp hệ thống thông tin
kinh tế phục vụ quản trị doanh nghiệp kinh doanh bưu chính viễn thông”, “Hoàn thiện
kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất thép Tại Việt Nam” của tác
giả Đào Thúy Hà năm 2015. Trong các công trình này, các tác giả đã hệ thống các nội
dung cơ bản của hệ thống kế toán quản trị và đề xuất phương hướng ứng dụng kế toán
quản trị vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu của các đề tài. Mặc dù vậy, tất
cả các công trình nghiên cứu về kế toán quản trị đã công bố đều chưa nghiên cứu
chuyên sâu về hệ thống kế toán quản trị chi phí áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất
xây lắp, trong khi ngành xây lắp là ngành đang rất cần những thông tin kế toán quản trị
chi phí vì xây lắp cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính chất công
Xét trong các đơn vị trong nền kinh tế, thông tin kế toán chia thành hai bộ phận
cơ bản: Thông tin kế toán cung cấp cho đối tượng bên ngoài sử dụng để đưa ra quyết
định hữu ích cho từng đối tượng như các nhà đầu tư, cơ quan Nhà nước, khách hàng,
nhà cung cấp… đó là kế toán tài chính. Bên cạnh đó, thông tin kế toán chỉ cung cấp
cho các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sử dụng để đưa ra quyết định điều hành
các hoạt động kinh doanh ta gọi đó là kế toán quản trị.
Theo định nghĩa của Luật kế toán (khoản 3, điều 4) “Kế toán quản trị là việc thu
thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế
toán”. Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp
đưa ra các quyết định điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông tin kế toán
quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng, gắn với các hoạt động kinh doanh
cụ thể của doanh nghiệp. Thông tư số 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của
Bộ tài chính: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của
doanh nghiệp như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản
phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi
nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí
với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư
ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;... nhằm phục vụ
việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế”.
Có thể thấy thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử lý và cung cấp cho
các nhà quản trị là thông tin về chi phí. Chi phí thường xuyên phát sinh, gắn liền với
mọi hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận thu được. Hơn nữa, trên góc độ
quản lý, chi phí phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ
quan của nhà quản trị, do đó kiểm soát và quản lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu
của nhà quản trị. Bên cạnh khái niệm về kế toán quản trị còn có khái niệm về kế toán
chi phí. Theo viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí được định
nghĩa là “kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, một quá trình
hoặc một sản phẩm… Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trực tiếp hoặc
phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý”. Theo đó, kế toán chi phí là một bộ phận của
cả kế toán tài chính và kế toán quản trị. Dưới góc độ kế toán quản trị, kế toán chi phí
* Trong giai đoạn tổ chức thực hiện:
Nhà quản trị cần có thông tin kế toán để ra các quyết định kinh doanh đúng đắn
trong quá trình điều hành, chỉ đạo thực hiện các quyết định ngắn hạn hay dài hạn, ví dụ
như: quyết định loại bỏ hay tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó; quyết định
tự sản xuất hay mua ngoài; phát hiện các hoạt động tốn kém quá nhiều chi phí để thiết
kế lại quá trình sản xuất, loại bỏ hoạt động tốn kém chi phí hoặc cải tiến làm cho hoạt
động có hiệu quả hơn, ít tốn kém chi phí hơn.
* Trong giai đoạn kiểm tra và đánh giá:
Kế toán quản trị cung cấp các báo cáo hoạt động định kỳ so sánh kết quả thực tế
với mục tiêu dự kiến về chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó làm
cơ sở cho việc đánh giá hoạt động quản lý và cung cấp động lực để các nhà quản lý cố
gắng thực hiện tốt công việc của mình.
9
Kế toán quản trị chi phí còn cung cấp các thông tin thích hợp cho các nhà quản
trị nhằm xây lắp chiến lược cạnh tranh qua việc lập các báo định kỳ và báo cáo đặc
biệt. Các báo cáo định kỳ phản ánh về khả năng sinh lời của các bộ phận khác nhau
trong doanh nghiệp, các thông tin để phân bổ các nguồn lực của doanh nghiệp, các
quyết định cơ cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, quyết định tiếp tục hay ngừng sản
xuất hợp lý. Còn các báo cáo đặc biệt giúp cho nhà quản trị đưa ra các quyết định
chiến lược như phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, đầu tư trang thiết bị, nhà xưởng
mới, đàm phán ký kết các hợp đồng dài hạn với các đối tác. Hơn nữa, các thông tin về
chi phí đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác định giá bán sản phẩm, đặc biệt
trong trường hợp sản xuất theo yêu cầu của khách hàng mà chưa có giá trên thị trường.
Các nhà quản trị thường đánh giá từng phần trong phạm vi kiểm soát của họ
thông qua các báo cáo kế toán quản trị tương ứng với phần hành mà nhà quản trị đó
kiểm soát. Các nhà quản trị cấp cao hơn, không tham gia trực tiếp vào quá trình hoạt
động hàng ngày, đánh giá và kiểm tra dựa vào các báo cáo thực hiện của từng bộ phận
+ Thời gian sử dụng của sản phẩm xây lắp dài, chất lượng sản phẩm được xác
định cụ thể trong hồ sơ thiết kế được duyệt, đòi hỏi việc tổ chức quản lý sản xuất và
hạch toán phải đảm bảo đúng theo dự toán thiết kế.
+ Sản phẩm xây lắp có kích thước và giá trị lớn, thường vượt quá số vốn lưu
động của doanh nghiệp xây lắp. Hơn nữa thời gian thi công tương đối dài, trong thời
gian sản xuất thi công xây lắp doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại
sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí… điều này làm cho vốn đầu tư xây lắp công
trình và vốn sản xuất của doanh nghiệp xây lắp thường bị ứ đọng lâu tại công trình
đang xây lắp. Vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn phương án có thời gian
xây lắp hợp lý, kiểm tra chất lượng chặt chẽ, phải điều kiện thanh toán giữa kỳ và dự
trữ vốn hợp lý, khi lập kế hoạch xây lắp doanh nghiệp cần phải cân nhắc thận trọng,
thấy rõ được các yêu cầu về tiền vốn, vật tư, nhân công của công trình, quản lý, theo
dõi các khoản mục chi phí trong quá trình sản xuất thi công chặt chẽ nhằm đảm bảo sử
dụng vốn tiết kiệm.
+ Đối tượng tính giá thành có thể là sản phẩm xây lắp hoàn thành đến giai đoạn
quy ước là điểm dừng kỹ thuật hợp lý. Việc xác định đúng đối tượng tính giá thành sẽ
đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất.
+ Sản phẩm xây lắp có giá trị sử dụng lâu dài, mỗi sản phẩm hoàn thành đều
phải đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật, tính bền vững cùng với các tiêu chuẩn khắt
khe khác bởi vì mọi sai lầm trong quá trình thi công thường khó sửa chữa, phải phá đi
làm lại. Hay các sai lầm trong xây lắp gây lãng phí, để lại hậu quả nghiêm trọng, lâu
dài, khó khắc phục. Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường
xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình.
+ Để nhận được công trình, các doanh nghiệp xây lắp phải trải qua nhiều khâu
đấu thầu. Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần phải được coi trọng
để từ đó xác định được giá đấu thầu hợp lý, đảm bảo hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp và khả năng được thầu.
11
gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình thi công xây lắp, tiền lương của nhân viên quản
lý các tổ, đội xây lắp; các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất xây
lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công; chi phí khấu hao, sửa
chữa và bảo trì máy móc thiết bị, chi phí mua ngoài phục vụ tại các công trường xây
lắp và các chi phí khác bằng tiền như chi phí thuê lán, trại để tiến hành xây lắp.
- Chi phí ngoài sản xuất: là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất liên
quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh
nghiệp, bao gồm:
12
+ Chi phí bán hàng: Riêng đối với doanh nghiệp xây lắp do đặc thù của ngành
là trúng thầu mới tiến hành xây lắp, sản phẩm được bàn giao cho nhà đầu tư ngay tại
nơi sản xuất, thi công nên chi phí bán hàng thường không phát sinh.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm các chi phí phục vụ cho công tác tổ
chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh chung cho toàn doanh nghiệp. Khoản
mục này bao gồm các chi phí: chi phí văn phòng, tiền lương và các khoản trích theo
lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định phục vụ cho quản
lý doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác…
Chi phí ngoài sản xuất bao gồm nhiều yếu tố, trong mỗi yếu tố thường gồm cả
định phí và biến phí. Do đó, muốn kiểm soát các yếu tố chi phí cần tách thành hai bộ
phận định phí và biến phí. Chi phí ngoài sản xuất được coi là chi phí gián tiếp nếu xét
theo mối quan hệ giữa chi phí với đối tượng chịu chi phí. Như vậy, để xác định chính
xác kết quả tiêu thụ và kết quả kinh doanh của các bộ phận cần phải có các tiêu thức
phân bổ chi phí hợp lý.
1.3.1.2. Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp chi phí và các đối tượng chịu
phí
- Chi phí trực tiếp: là các khoản chi phí chỉ liên quan trực tiếp tới việc sản xuất
một sản phẩm (một công trình, hạng mục công trình) mà theo đó kế toán có thể tập
hợp thẳng cho từng công trình, hạng mục công trình đó như nguyên vật liệu trực tiếp,
thụ trong kỳ đó. Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được tiêu thụ vào cuối
kỳ sẽ được lưu giữ và được coi là tài sản của doanh nghiệp được phản ánh dưới khoản
mục hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán và sẽ được kết chuyển để xác định lợi
nhuận ở các kỳ sau khi mà sản phẩm được tiêu thụ. Chi phí sản phẩm còn được gọi là
chi phí tồn kho.
- Chi phí thời kỳ: là các khoản mục chi phí còn lại sau khi đã xác định các
khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm gồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp. Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ kế toán nào thì được xem là có tác
dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết
chuyển sang báo cáo kết quả kinh doanh để xác định lợi nhuận ngay trong kỳ mà chi
phí thời kỳ phát sinh.
1.3.1.4. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động
Cách ứng xử chi phí là thuật ngữ để chỉ sự thay đổi của chi phí tương ứng với
các mức độ hoạt động đạt được, các hoạt động có thể như mức độ công việc đã thực
hiện, khối lượng sản phẩm sản xuất, số giờ ca máy hoạt động… Khi xem xét cách ứng
xử của chi phí, cần phân biệt rõ phạm vi hoạt động của doanh nghiệp với mức độ hoạt
động mà doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ. Phạm vi hoạt động chỉ rõ các năng
lực hoạt động tối đa như công suất máy móc thiết bị, số giờ công lao động của công
nhân … mà doanh nghiệp có thể khai thác, còn mức độ hoạt động chỉ các mức hoạt
động cụ thể mà doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ trong giới hạn của phạm vi hoạt
động đó. Theo cách phân loại này, gồm có chi phí bất biến và chi phí khả biến.
- Chi phí khả biến (biến phí): Là các chi phí xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỷ lệ
với mức độ hoạt động. Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra.
Tổng số chi phí khả biến sẽ tăng (giảm) tương ứng với sự tăng (giảm) của mức độ hoạt
động nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độ hoạt động thì không thay
đổi.
14
Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí khả biến bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu
chi phí phí chìm không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của nhà quản trị.
- Chi phí chênh lệch: là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một
phương án so với một phương án khác. Có hai dạng chi phí chênh lệch: thứ nhất là giá
trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác,
thứ hai là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác
nhau. người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích
15
bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho
việc ra quyết định.
- Chi phí cơ hội: là phần lợi nhuận tiềm năng bị từ bỏ khi lựa chọn phương án
hoạt động này thay vì một phương án hoạt động khác. Chi phí cơ hội là khoản chi phí
không được theo dõi trên sổ sách kế toán nhưng lại rất quan trọng đối với việc ra quyết
định. Khi lựa chọn các phương án hoạt động, ngoài các chi phí được phản ánh trên hệ
thống sổ kế toán, nhà quản lý còn cần phải xem xét chi phí cơ hội của các phương án
đó do các nguồn lực của doanh nghiệp có thể được sử dụng theo những cách khác
nhau để quyết định lựa chọn phương án có lợi nhuận cao nhất.
1.3.1.6. Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát của nhà quản lý
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí có
thể kiểm soát được và chi phí không thể kiểm soát được. Một khoản chi phí được xem
là có thể kiểm soát được hoặc không thể kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó tùy
thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể ra các quyết định để chi phối, tác động đến
các khoản chi phí đó hay không.
- Chi phí kiểm soát được: là những chi phí mà nhà quản trị có quyền quyết định
hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới mức độ phát sinh chi phí.
- Chi phí không kiểm soát được:
Có hai dạng chi phí không kiểm soát được:
+ Các khoản chi phí phát sinh ở ngoài phạm vi quản lý của bộ phận;
+ Các khoản chi phí phát sinh thuộc phạm vi hoạt động của bộ phận nhưng
- Hao phí máy thi công: xác định thông số kỹ thuật của từng máy trong dây
chuyền hoặc định mức năng suất máy xây lắp được công bố và có tính đến hiệu suất
do sự phối hợp của các máy thi công trong dây chuyền.
Phương pháp 2: Tính toán theo số liệu thống kê phân tích
- Từ số lượng hao phí về vật liệu, nhân công, máy thi công thực hiện một khối
lượng công tác theo một chu kỳ hoặc theo nhiều chu kỳ của công trình đã và đang thực
hiện.
- Từ hao phí vật tư, sử dụng lao động, năng suất máy thi công đã được tính toán
từ các công trình tương tự.
- Từ số liệu công bố theo kinh nghiệm của các chuyên gia hoặc tổ chức chuyên
môn nghiệp vụ.
Phương pháp 3: Tính toán theo khảo sát thực tế
Từ tài liệu thiết kế, số liệu khảo sát thực tế của công trình (theo thời gian, địa
điểm, khối lượng thực hiện trong một hoặc nhiều chu kỳ…), tham khảo định mức sử
dụng vật tư, lao động, năng suất máy được công bố.
- Hao phí vật liệu: tính toán theo số liệu khảo sát thực tế và đối chiếu với thiết
kế, quy phạm, quy chuẩn kỹ thuật.
- Hao phí nhân công: tính toán theo số lượng công nhân từng khâu dây chuyền
sản xuất và tổng số lượng công nhân trong cả dây chuyền, tham khảo các quy định về
sử dụng lao động.
- Hao phí máy thi công: tính toán theo số liệu khảo sát thực tế về năng suất của
từng loại máy và hiệu suất phối hợp giữa các máy thi công trong cùng một dây chuyền,
tham khảo các quy định về năng suất kỹ thuật của máy.
B. Nội dung tính toán các thành phần hao phí
* Tính toán định mức hao phí về vật liệu
17
Định mức hao phí vật liệu cần thiết để hoàn thành một đơn vị khối lượng công
tác hoặc kết cấu xây lắp kể cả hao hụt vật liệu được phép trong thi công, gồm:
[2.2]
Ht/c: Định mức hao hụt vật liệu trong thi công theo các quy định trong định mức
vật tư được công bố, theo khảo sát, theo thực tế của các công trình tương tự, hoặc theo
kinh nghiệm của các chuyên gia, các tổ chức chuyên môn nghiệp vụ đối với những vật
tư chưa có trong định mức.
Định mức hao hụt vật tư được quy định cho vật liệu rời, vật liệu bán thành
phẩm (vữa xây, vữa bê tông) và cấu kiện (cọc, dần đúc sẵn).
18
+ KLC: Hệ số luân chuyển của loại vật liệu cần phải luân chuyển quy định trong
định mức sử dụng vật tư. Đối với vật liệu không luân chuyển thì KLC = 1. Đối với vật
liệu luân chuyển thì KLC < 1.
Hệ số luân chuyển của vật liệu luân chuyển được tính theo công thức sau:
KLC = (h x (n-1)+2) / 2n
[2.3]
Trong đó:
- h: Tỷ lệ được bù hao hụt từ lần thứ 2 trở đi.
- n: Số lần sử dụng vật liệu luân chuyển (n>1).
+ Ktd: Hệ số sử dụng thời gian sử dụng do tiến độ thi công công trình là hệ số
phản ánh việc huy động không thường xuyên hoặc tối đa lượng vật liệu để hoàn thành
công tác xây lắp theo đúng tiến độ. Hệ số này chỉ ảnh hưởng đến vật liệu luân chuyển,
ví dụ như huy động giàn giáo, côp pha, cây chống…
Khi biện pháp thi công sử dụng một lần hoặc nhiều lần thì bổ sung thêm hệ số
này cho phù hợp với điều kiện xây lắp công trình. Hệ số này được tính theo tiến độ,
biện pháp thi công hoặc theo kinh nghiệm của tổ chức, chuyên môn nghiệp vụ.
Tính toán hao phí vật liệu khác
Đối với các loại vật liệu khác (phụ) được định mức bằng tỷ lệ phần trăm (%) so
Định mức hao phí về máy thi công trong định mức xây lắp được xác định trên
cơ sở năng suất kỹ thuật máy thi công được công bố hoặc tính toán theo một trong ba
phương pháp đã nêu trên.
Đơn vị tính của định mức cơ sở năng suất máy thi công là giờ máy, ca máy…
Tính toán hao phí máy thi công chủ yếu:
Công thức tổng quát xác định mức hao phí về ca máy, thiết bị xây lắp:
Trong đó:
+ QCM: Định mức năng suất thi công một ca máy xác định theo một trong ba
phương pháp trên.
+ Kcđđ: Hệ số chuyển đổi định mức xây lắp.
Hệ số này được tính từ định mức thi công chuyển sang định mức xây lắp hoặc
lấy theo kinh nghiệm của các nhà chuyên môn nghiệp vụ.
Trị số này phụ thuộc vào nhóm công tác, loại tổ hợp đơn lẻ hay hỗn hợp mà
phân ra các hệ số khác nhau tùy theo loại công tác, yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thi
công cụ thể, thường từ trong khoảng 1,05 ÷ 1,3.
+ KVcđ: Hế số chuyển đổi đơn vị tính: là hệ số chuyển đổi đơn vị tính từ thực tế
hoặc kinh nghiệm thi công sang định mức dự toán.
+ Kcs: Hệ số sử dụng năng suất là hệ số phản ánh việc sử dụng hiệu quả năng
suất từ tổ hợp máy trong dây chuyền liên hợp, hệ số này được tính toán theo năng suất
máy thi công của các bước công việc và có sự điều chỉnh phù hợp khi trong dây
chuyền cùng loại máy có năng suất nhỏ nhất.
Tính toán hao phí máy và thiết bị xây lắp khác
Đối với các loại máy và thiết bị xây lắp phụ được định mức bằng tỷ lệ phần
trăm so với tổng chi phí các loại máy chính định lượng trong định mức xây lắp và
được xác định theo loại công việc, theo kinh nghiệm của tư vấn hoặc định mức trong
công trình tương tự.
Bƣớc 4: Lập các tiết định mức trên cơ sở tổng hợp các hao phí về vật liệu,
lao động, máy thi công.
Tập hợp các tiết định mức trên cơ sở tổng hợp các khoản mục hao phí về vật
liệu, nhân công và máy thi công.
toán và thực tế để có các biện pháp điều chỉnh kịp thời và qua đó đánh giá định mức,
dự toán xây lắp phù hợp với thực tế chư có cơ sở để xây lắp định mức mới hoàn chỉnh;
Nó kết hợp toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp bằng kế hoạch của từng bộ phận khác
nhau, đảm bảo cho kế hoạch của từng bộ phận phù hợp với mục tiêu chung của doanh
nghiệp. Như vậy, dự toán chính là cơ sở để đưa ra các quyết định tác nghiệp của nhà
quản trị các cấp trong doanh nghiệp.
Dự toán chi phí thường được lập từ cấp cơ sở lên trong doanh nghiệp và do các
chuyên gia kỹ thuật, kế toán quản trị tại các phân xưởng, đội sản xuất kết hợp để xây
lắp. Sau khi dự toán được xây lắp dựa trên cơ sở khoa học sẽ được chuyển cho bộ phận
chức năng như các phòng, ban kỹ thuật thẩm định, phân tích tính khả thi của dự toán,
sau đó bổ sung những mặt hạn chế để cho dự toán. Sau đó, dự toán được chuyển cho
cấp quản trị cao phê duyệt và cuối cùng chuyển tới các bộ phận cơ sở thực hiện.
21
Dự toán chi phí trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm:
Dự toán công trình: là toàn bộ chi phí cần thiết để đầu tư xây lắp các công
trình, hạng mục công trình thuộc dự án. Dự toán được xác định ở bước thiết kế kỹ
thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công. Dự toán công trình được lập cho từng công trình,
hạng mục công trình xây lắp.
Dự toán công trình bao gồm:
+ Chi phí xây lắp trong dự toán công trình được lập cho từng công trình, hạng
mục công trình, công trình phụ trợ, công trình tạm phục vụ thi công hoặc bộ phận,
phần việc, công tác của công trình, hạng mục công trình.
+ Chi phí thiết bị trong dự toán công trình bao gồm chi phí mua sắm thiết bị
công nghệ (kể cả thiết bị tiêu chuẩn cần sản xuất, gia công); chi phí đào tạo và chuyển
giao công nghệ; chi phí lắp đặt thiết bị và thí nghiệm, hiệu chỉnh…
+ Chi phí quản lý dự án: bao gồm các chi phí để tổ chức thực hiện các công
việc quản lý dự án từ giai đoạn chuẩn bị dự án, thực hiện dự án đến khi hoàn thành,
nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
phí nguyên
vật liệu trực
tiếp
m
=
∑
j=1
Định mức chi
Dự toán
(
khối lượng
công tác xây
lắp thứ j
X
Chênh
phí vật liệu của
) +
công tác xây
lắp thứ j
lệch vật
liệu (nếu
có)
Định mức
theo đơn giá
+
)
giờ công trực
tiếp
Dự toán chi phí sử dụng máy thi công:
Dự toán chi phí máy thi công được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng công
tác xây lắp, định mức chi phí máy thi công và hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công.
Dự toán khối
Định mức chi phí
Hệ số điều
Dự toán chi
m
lượng công
máy thi công của
chỉnh chi
phí máy thi =
∑
(
x
+
)
tác xây lắp
công tác xây lắp
phí máy thi
công
j=1
thứ j