Quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng - Pdf 38

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIM ĐOAN

QU¶N Lý VèN NHµ N¦íC
T¹I C¸C DOANH NGHIÖP NHµ N¦íC TR£N §ÞA BµN
THµNH PHè §µ N½NG

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Mã số: 62 34 04 10

HÀ NỘI - 2016


Công trình được hoàn thành
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Kim Văn Chính

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào hồi giờ

ngày tháng


các địa phương quan trọng có nhiều DNNN và được ủy quyền trực tiếp quản lý
nhiều DNNN.
Đối với Đà Nẵng, thành phố trọng điểm khu vực miền Trung - Tây
Nguyên cũng đang trong quá trình đổi mới quản lý DNNN theo yêu cầu của
Nhà nước về tái cấu trúc DNNN. Song, đây là công việc còn đang rất bộn bề và
chưa tìm ra lời giải thỏa đáng. Những nội dung quản lý vốn nhà nước tại
DNNN còn đang được nhận thức, triển khai thực hiện các giải pháp của Trung
ương với những bước đi ban đầu; chưa có sự thống nhất và phối hợp giữa các
cơ quan quản lý có trách nhiệm quản lý vốn, nhiều nội dung quản lý vốn chưa
được nhận thức đúng, thực hiện càng chưa theo quy định và chuẩn mực. Chính
vì vậy, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Quản lý vốn Nhà nước tại các doanh
nghiệp nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm luận án tiến sĩ chuyên
ngành Quản lý kinh tế.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý vốn nhà nước tại
các DNNN tại các địa phương trong điều kiện nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN; khảo sát, phân tích thực trạng quản lý vốn nhà nước tại các
DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ 2010 đến 2014; trên cơ sở đó, đề


2
xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên
địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2020.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về
quản lý vốn nhà nước tại các DNNN ở Việt Nam nói chung và DNNN địa
phương nói riêng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
- Trên cơ sở khảo sát kinh nghiệm các nước trong quản lý vốn nhà nước tại
các DNNN, luận án rút ra những bài học kinh nghiệm cho thành phố Đà Nẵng.

4. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm đảm bảo tính khoa học và thực tiễn trong từng nội dụng nghiên cứu,
luận án đã sử dụng kết hợp các phương pháp khác nhau phù hợp với từng nội dung
nghiêu cứu. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp thu thập, thống kê,


3
phân tích, so sánh, tổng hợp và xử lý số liệu…
5. Những đóng góp mới về khoa học
- Về lý luận: Luận án đã làm sáng tỏ hơn khái niệm, nội dung quản lý vốn
nhà nước tại các DNNN với tư cách là đại diện chủ sở hữu. Đặc biệt, trong điều
kiện hội nhập, luận án đã làm rõ những yêu cầu đối với quản lý vốn nhà nước
tại các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
- Về thực tiễn: Phân tích, đánh giá quá trình quản lý vốn nhà nước tại các
DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2014, từ đó đề xuất các
giải pháp hoàn thiện quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng trong đó có 3 giải pháp mang tính đột phá. Một là, đổi mới chính sách
tuyển dụng cán bộ quản lý DNNN theo chế độ thi tuyển hoặc cử tuyển cạnh
tranh kết hợp với cơ chế tiền lương theo hợp đồng. Hai là, bổ sung các tiêu chí
đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, đó là tiêu chí về tốc độ phát triển dài
hạn và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người thực hiện
quyền chủ sở hữu. Ba là, đề xuất cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động
của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với DNNN ở cấp địa phương Đà Nẵng theo
hướng chú trọng hoạt động giám sát tài chính DNNN với các chỉ tiêu kết quả tài
chính được kiểm toán hàng năm..
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án được kết cấu thành 4 chương, 14 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

nghiên cứu và tiếp cận dưới rất nhiều góc độ như với các bài viết như: “Quản lý
vốn cần lộ trình” (2009) của tác giả Lê Đăng Doanh; “Đánh giá thực trạng
quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp” (2008) của tác giả Phan Hoài
Hiệp; “Quản lý sử dụng vốn tại các doanh nghiệp - Một số kiến nghị” (2006)
của tác giả Ngô Văn Khoa; “Tăng cường kiểm tra, giám sát tài chính DNNN”
(2008) của tác giả Trần Văn Hiền; “Cơ chế giám sát tài chính doanh nghiệp
nhà nước: Thực trạng và những khuyến nghị (2001) của tác giả Trần Đức
Chính; “Cơ chế giám sát tài chính, đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp:
Những vấn đề đặt ra” (2012) của tác giả Nguyễn Duy Long; “Kinh nghiệm các
nước về quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp” (2012) của tác giả
Phạm Thị Tường Vân; “Quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước hiện nay” (2012) của tác giả Nguyễn Thị Minh Hằng; “Giám sát tài chính
doanh nghiệp: Mục tiêu quan trọng hàng đầu” (2012) của tác giả Vũ Nhữ
Thăng; “Kiểm soát tài chính trong tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước”
(2012) của nhóm tác giả Hoàng Xuân Hòa, Nguyễn Lê Hoa; “Kinh nghiệm các
nước về quản lý, giám sát vốn nhà nước tại doanh nghiệp” (2012) của nhóm tác
giả Phạm Thị Tường Vân, Nguyễn Thị Hải Bình.
1.2. NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

- Nghiên cứu chung về kinh tế nhà nước (KTNN) và DNNN ở Việt Nam.
Tiêu biểu một số nghiên cứu như: United Nations Development Programme, Cổ
phần hóa, tư nhân hóa và chuyển đổi DNNN ở Việt Nam (2006); Worl Bank,
Đổi mới lâm trường quốc doanh ở Việt Nam (2004); Worl Bank, Đánh giá quản
trị công ty của Việt Nam (2006); Nguyễn Văn Thắng, Are State Owned
Enterprises Crowding out the Private Sector (2006)... Các nghiên cứu này đã đề
xuất những giải pháp thực tiễn có giá trị có thể áp dụng trong đổi mới DNNN
và KTNN.
- Nghiên cứu về sở hữu trong DNNN ở Trung Quốc có các công trình
như: Dong Wei Su, Corporate Finance and State Enterprise in China (Tài
chính doanh nghiệp và cải cách DNNN ở Trung Quốc) (2003), P. Belser & M.

Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy, chưa có nhiều công trình
nghiên cứu quản lý vốn nhà nước tại các DNNN, chưa có công trình nào nghiên
cứu đầy đủ về hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN ở Việt Nam trên góc
độ quản lý của chủ sở hữu nhà nước. Chính vì vậy, luận án sẽ tập trung nghiên
cứu quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên góc độ quản lý của chủ sở hữu ở
các khía cạnh quản lý đầu tư, quản lý sử dụng vốn, quản lý phân phối lợi ích
kinh tế, giám sát và hình thức thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước ở cấp địa
phương gắn với đặc thù địa phương là một thành phố trực thuộc trung ương. Cụ
thể, những vấn đề sau cần tiếp tục được nghiên cứu:
- Cần làm rõ khái niệm vốn nhà nước tại các DNNN
- Cần tách bạch quản lý nhà nước dưới hai vai trò là chủ sở hữu và cơ
quan công quyền.
- Xác định rõ người đại diện phần vốn nhà nước tại DNNN và cơ chế hoạt
động của người đại diện.
- Làm rõ nội dung quản lý vốn nhà nước tại các DNNN với tư cách là chủ
sở hữu tại DNNN.
- Đổi mới cơ chế giám sát và đánh giá việc sử dụng vốn nhà nước tại các
DNNN và đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các DNNN.


6
Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
2.1. KHÁI NIỆM QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC

2.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường
Tại khoản 8, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2014 ghi rõ: “Doanh nghiệp nhà

phát triển doanh nghiệp.
Chủ thể quản lý vốn nhà nước tại DNNN đó chính là Nhà nước. Chủ thể


7
này gồm nhiều cơ quan và cấp quản lý khác nhau. Tùy theo từng DNNN với
những đặc điểm về quy mô, tầm quan trọng, phạm vi hoạt động mà người ta có
thể xác định chủ thể quản lý vốn khác nhau.
Đối với DNNN địa phương, cơ quan được ủy quyền quản lý vốn chính là
chính quyền địa phương bao gồm UBND địa phương và các sở ban ngành trực
thuộc. Ở Việt Nam, các DNNN địa phương được ủy quyền cho các UBND cấp
tỉnh quản lý, trong đó có quản lý vốn. Các chính quyền cấp thấp hơn là huyện
và xã không có chức năng này.
2.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
NHÀ NƯỚC

- Quản lý đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN
- Quản lý sử dụng vốn nhà nước tại các DNNN
- Phân phối lợi nhuận và thu nhập của DNNN
- Kiểm tra, giám sát vốn nhà nước tại DNNN
2.3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

- Mô hình phát triển kinh tế - xã hội
- Hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách quản lý của Nhà nước đối với
các doanh nghiệp nhà nước
- Tổ chức bộ máy quản lý của nhà nước và năng lực bộ máy
- Mức độ mở cửa, hội nhập của nền kinh tế
- Đạo đức, trách nhiệm và năng lực của người quản lý
2.4. KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC VÀ BÀI HỌC RÚT RA TRONG QUẢN LÝ

TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ VỐN NHÀ NƯỚC
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.1.1. Khái quát quá trình tổ chức, sắp xếp lại và đổi mới doanh
nghiệp nhà nước ở thành phố Đà Nẵng
Các DNNN ở Đà Nẵng được hình thành và phát triển trong quá trình cải
tạo công thương nghiệp và nông nghiệp sau năm 1975 cộng với nhiều doanh
nghiệp được thành lập mới trong quá trình phát triển kinh tế sau giải phóng.
Cùng với quá trình cải cách DNNN nói chung, số lượng DNNN trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng đã giảm đáng kể. Tính đến cuối năm 2013 trên địa bàn
thành phố còn 7 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thuộc thành phố quản lý. Từ
2001 đến 2013 đã thực hiện 88 lượt sắp xếp, trong đó, cổ phần hóa là hình thức
chủ yếu, chiếm 42%. Còn lại là các hình thức khác như: bán cho người lao động
3 doanh nghiệp (3,4%); sáp nhập, hợp nhất 17 doanh nghiệp (19,3%); giải thể
11 doanh nghiệp (12,5%); phá sản 7 doanh nghiệp (8%); chuyển cho Trung
ương 6 doanh nghiệp (6,8%); chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn 1
thành viên 7 doanh nghiệp (8,0%).
Qua khảo sát cho thấy, DNNN địa bàn thành phố Đà Nẵng thường kinh
doanh đa ngành nghề, song ngành nghề chủ yếu là xây dựng, công nghiệp; ở một
số đơn vị hoạt động ở lĩnh vực có tính chất đặc thù như: quản lý công trình thủy
lợi, xổ số kiến thiết, cấp nước, xuất bản, vệ sinh môi trường đô thị...
3.1.2. Tình hình vốn và sử dụng vốn của các doanh nghiệp nhà nước
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Về tổng vốn, qua số liệu cho thấy, vốn nhà nước tại các DNNN trên địa
bàn thành phố đã tăng lên. Cụ thể, tổng vốn đã tăng lên 750 tỷ vào năm 2013,
bình quân 1 doanh nghiệp trên 102 tỷ đồng (năm 2001 chỉ 8,34 tỷ đồng); lợi
nhuận đạt 33 tỷ đồng (năm 2001 lỗ gần 15 tỷ đồng); doanh thu bình quân là
158,4 tỷ đồng/1doanh nghiệp (năm 2001 là 63,11 tỷ đồng/1doanh nghiệp), tăng

Qua số liệu tổng hợp cho thấy, nguồn vốn từ NSNN đầu tư cho doanh
nghiệp 100% vốn nhà nước do thành phố Đà Nẵng chiếm khoảng 50% tổng vốn
kinh doanh của doanh nghiệp, còn lại là các nguồn vốn khác như: vốn vay (chủ
yếu là các doanh nghiệp trong lĩnh vực xây dựng hoặc doanh nghiệp thực hiện
các dự án) chiếm khoảng 7-10%, các khoản nợ phải trả khác cho hoạt động kinh
doanh chiếm khoảng 33-40%.
3.2.2. Thực trạng quản lý sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2.2.1. Về tăng trưởng vốn
Qua số liệu tổng hợp cho thấy, giá trị tài sản, vốn nhà nước trong DNNN
100% vốn nhà nước do thành phố quản lý là khá ổn định, có tăng giảm qua các
năm, song mức tăng giảm không đáng kể. Vốn, tài sản nhà nước đầu tư tại
DNNN đều được sử dụng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính,
không có tình trạng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực cần phải thoái vốn theo quy
định của Nhà nước. Vốn phân bổ không đều, giá trị vốn tập trung ở lĩnh vực cấp
nước sạch, dịch vụ thủy lợi, chủ yếu đầu tư vào hệ thống nhà máy xử lý nước,
mạng lưới đường ống, hồ, đập, kênh mương... (chiếm đến 76%).
3.2.2.2. Về huy động vốn
Phần lớn vốn tại các DNNN trên địa bàn thành phố được hình thành từ


10
nguồn vốn của Nhà nước, bao gồm: Vốn đầu tư của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát
triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản và lợi nhuận
sau thuế chưa phân phối. Ngoài nguồn vốn nhà nước, các doanh nghiệp còn sử
dụng vốn vay. Nguồn vốn này bao gồm vay ngắn hạn và vay dài hạn. So với
nguồn vốn từ NSNN, nguồn vốn vay này không lớn, chỉ chiếm khoảng từ 1520%. Trong đó, vốn vay dài hạn chiếm tỷ trọng lớn. Các khoản vay ngắn hạn và
dạn hạn này đều có mục đích sử dụng và có kế hoạch trả nợ rõ ràng. Mức vay
có thể lên đến vài trăm tỷ với hình thức vay là tín chấp theo quyết định của Ủy
ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, lãi suất vay được điều chỉnh theo quy định

4 CT Dịch vụ in
53.379,8
57.147,3
61.587,2 66.436,9
5 CT NXB tổng hợp
9.392,4
14.230,2
15.276,6 15.825,8
6 CT Môi trường đô thị
47.035,5
43.168,1
40.217,9 44.758,3
7 CT Khai thác thủy lợi
239.447,4
245.645,3
285.862,6 286.954,0
B Hệ số bảo toàn vốn
1,02
1,05
0,97
1,00
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ Báo cáo tài chính của các DNNN qua các năm.
Ghi chú: (*) Vốn chủ sở hữu được sử dụng để tính hệ số bảo toàn vốn của DNNN bao gồm:
Nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu, quỹ đầu tư phát triển và nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản được
quy định tại Nghị định 71/2013/NĐ-CP năm 2013 và Thông tư 220/2013/TT-BTC hướng dẫn thực
hiện Nghị định 71.

Theo quy định hiện hành, mức độ bảo toàn vốn của DNNN được đánh giá
dựa trên hệ số bảo toàn vốn (H), hệ số này được tính bằng vốn chủ sở hữu của
doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cuối

Tỷ suất LN/Vốn CSH
4
(ROE)
Tỷ suất LN/Tổng TS
5
(ROA)

2010
2011
2012
2013
20.736,9
41.295,4 54.541,8
32.832,2
755.506,1 790.185,7 767.736,6 766.211,1
1.675.831,7 1.614.344,4 1.674.409,0 1.705.688,6
0,03

0,05

0,07

0,04

0,01

0,03

0,03


2013
A Tổng tài sản
1.675.831,7 1.614.344,4 1.674.409,0 1.705.688,6
Tài sản ngắn hạn
683.380,4 602.679,2 872.061,2 910.494,3
B Nợ phải trả
804.652,4 827.121,2 873.881,7 954.577,1
Nợ ngắn hạn
582.668,4 628.442,4 772.330,1 863.438,6
C Vốn chủ sở hữu
755.506,1 790.185,7 767.736,6 766.211,1
*
D Hệ số khả năng thanh toán
1,17
0,96
1,13
1,05
E Hệ số nợ phải trả/Vốn CSH
1,07
1,05
1,14
1,25
F Hệ số nợ phải trả/Tổng TS
0,48
0,51
0,52
0,56
Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhà nước
qua các năm.
*


13
thực hiện chủ yếu thông qua chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp, nhưng
chưa bắt buộc thực hiện kiểm toán độc lập đối với báo cáo tài chính DNNN. Từ
năm 2003 đến nay, trên cơ sở quy định chung của Nhà nước, thành phố đã thực
hiện chế độ kiểm toán độc lập đối các báo cáo tài chính hàng năm của DNNN.
- Về nội dung giám sát: Giám sát việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà
nước, phân phối lợi nhuận trong DNNN; giám sát bảo toàn và phát triển vốn
của doanh nghiệp; giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; giám sát
việc thực hiện các chính sách đối với người lao động.
- Về chủ thể giám sát: UBND thành phố cùng với các Sở (Sở Tài chính,
Sở Kế hoạch - Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), Tổng Giám đốc,
Giám đốc các DNNN cùng phối hợp thực hiện việc giám sát và đánh giá kết
quả hoạt động của các DNNN theo quy định về những nội dung nêu trên.
- Về phương thức kiểm tra, giám sát: UBND thành phố thực hiện việc
giám sát thông qua báo cáo tài chính của các cơ quan và cá nhân liên quan như:
Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc và HĐTV, người đại diện phần vốn nhà nước
tại DNNN, người đại diện theo ủy quyền về thực hiện chức năng, nhiệm vụ;
hoặc có thể thông qua các cơ quan chức năng để giám sát trực tiếp.
- Thực hiện kiểm toán các DNNN trên địa bàn: Thông qua các đơn vị kiểm
toán độc lập: Chi nhánh Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Tin học Tp.Hồ Chí
Minh (AISC); Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC; Công ty TNHH Kiểm
toán AVN Việt Nam; Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn thuế ATAX.
3.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC TẠI CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

3.3.1. Những kết quả đạt được
- Về quản lý đầu tư vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Thứ nhất, mục tiêu đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN đã dần được xác
định rõ ràng, phù hợp hơn nhằm thực hiện việc định hướng, điều tiết, ổn định

và người lao động.
Thứ hai, phân phối kết quả kinh doanh đã gắn có sự gắn kết giữa lợi ích
của người quản lý, điều hành doanh nghiệp và người lao động với lợi nhuận của
doanh nghiệp; khắc phục được tình trạng cào bằng về mức thưởng giữa các
doanh nghiệp.
- Về kiểm tra, giám sát sử dụng vốn
Thứ nhất, hệ thống cơ chế, chính sách về kiểm tra, giám sát vốn nhà nước
tại DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua đã được ban
hành đồng bộ, kịp thời điều chỉnh và sửa đổi phù hợp với tình hình thực tiễn.
Thứ hai, phương thức quản lý, giám sát vốn nhà nước được đổi mới từ
quản lý hành chính sang quan hệ đầu tư, kinh doanh vốn; xác định rõ mối quan
hệ giữa chủ sở hữu vốn, người quản lý điều hành doanh nghiệp; tăng cường tính
tự chủ cho doanh nghiệp có vốn nhà nước.
Thứ ba, với hệ thống tiêu chí đánh giá qua báo cáo tài chính có kiểm toán,
công khai thông tin về kết quả kinh doanh và tình hình tài chính doanh nghiệp,
công tác quản lý, giám sát tài chính doanh nghiệp đã cụ thể, chi tiết, rõ ràng dựa
trên các tiêu chí đánh giá, xếp loại…
3.3.2. Những hạn chế, yếu kém
- Về quản lý đầu tư vốn nhà nước tại các doanh nghiệp
Thứ nhất, việc quyết định đầu tư vốn hoặc bổ sung vốn nhà nước vào
DNNN do UBND thành phố quản lý được thực hiện thông qua nhiều cấp tham
mưu khác nhau, nên đôi khi chưa đảm bảo tính kịp thời, hạn chế tính chủ động
của các doanh nghiệp trong việc huy động thêm vốn cho hoạt động SXKD.
Thứ hai, phương thức đầu tư vốn còn nhiều vướng mắc do còn tồn tại
nhiều đầu mối đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước phân tán như hiện nay.
- Về quản lý sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Thứ nhất, các DNNN chưa thực sự được chủ động trong việc sử dụng
vốn, chưa rõ ràng trách nhiệm trong việc đảm bảo các mục tiêu kinh doanh.
Thứ hai, nhiều doanh nghiệp chưa đổi mới về quản trị vốn, chưa áp dụng
nguyên tắc quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.

Thứ hai, việc kiểm tra, giám sát chủ yếu dựa trên báo cáo tài chính định
kỳ hàng năm của doanh nghiệp; chưa hình thành hệ thống kênh thông tin, báo
cáo và liên lạc định kỳ để nắm bắt tình hình tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba, các chế tài ràng buộc trách nhiệm của kiểm toán viên, công ty
kiểm toán độc lập cũng như chất lượng đội ngũ kiểm toán viên còn thấp; công
tác thanh tra, kiểm tra còn mang tính kế hoạch nên tính phòng ngừa rủi ro chưa
cao; việc chấp hành chế độ báo cáo của các các DNNN chưa thật sự nghiêm
túc, kịp thời và chặt chẽ nên tác dụng cảnh báo còn hạn chế.
Thứ tư, hoạt động kiểm tra, giám sát mới chỉ tập trung đến các doanh
nghiệp sử dụng vốn nhà nước, chưa chú trọng đến việc kiểm tra, giám sát quá
trình thực thi chức năng chủ sở hữu.
Thứ năm, giám sát nội bộ doanh nghiệp chưa được chú trọng.
Thứ sáu, kết quả kiểm tra, giám sát hiện nay mới chỉ dừng ở việc tổng
hợp, đánh giá về tình hình tài chính doanh nghiệp, chưa phân tích sâu thực tế
các tồn tại, cùng những nguy cơ rủi ro từ hoạt động của các DNNN.


16
3.4. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

Nhóm nguyên nhân thứ 1: Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách điều
chỉnh hoạt động quản lý vốn nhà nước tại các DNNN chưa đầy đủ, rõ ràng và
thiếu đồng bộ. Cụ thể: Chưa tách bạch được chức năng quản lý của chủ sở hữu
với chức năng quản lý hành chính của nhà nước; cơ chế kiểm tra, giám sát vốn
nhà nước tại DNNN còn lỏng lẻo; chưa phân định rõ chức năng quản lý và phân
cấp rõ ràng trong giám sát vốn.
Nhóm nguyên nhân thứ 2: Yếu kém của bộ máy và đội ngũ cán bộ thực
hiện chức năng chủ sở hữu vốn nhà nước tại DNNN. Hiện nay các cán bộ thực
hiện chức năng quản lý vốn chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu chuyên sâu, chưa đảm
bảo các điều kiện để đảm nhiệm vai trò của nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
4.1. DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ VỐN NHÀ NƯỚC
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

4.1.2. Dự báo về sự phát triển các doanh nghiệp nhà nước trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng
- Về phạm vi hoạt động của DNNN trên địa bàn thành phố
Trong thời gian tới, phạm vi hoạt động và đầu tư vốn nhà nước vào các
DNNN sẽ tập trung vào những nhóm ngành thực sự cần thiết tồn tại sở hữu nhà
nước theo định hướng chung của Đảng và Nhà nước.
- Về số lượng DNNN
Trong thời gian tới, những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xổ số
kiến thiết, in ấn; xuất bản; cấp thoát nước; khai thác thủy lợi; môi trường đô thị
vẫn sẽ tồn tại dưới hình thức Công ty TNHH 1 thành viên 100% vốn nhà nước
địa phương. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác như xây dựng, xây lắp và hạ
tầng đô thị sẽ được chuyển đổi hình thức sở hữu.
- Về tái cơ cấu DNNN
Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới DNNN của thành phố Đà Nẵng, đối
với doanh nghiệp thuộc đối tượng giữ nguyên 100% vốn nhà nước sẽ tiếp tục
thực hiện và bổ sung kế hoạch và tầm nhìn đến 2020; đối với các DNNN thuộc
diện CPH và những doanh nghiệp đã CPH một phần, thành phố tiếp tục bám
sát, chỉ đạo kịp thời nhằm tháo gỡ vướng mắc khó khăn.
4.1.1. Định hướng phát triển doanh nghiệp nhà nước và đổi mới quản
lý vốn nhà nước
- Tiếp tục sắp xếp, đổi mới nâng cao hiệu quả hoạt động đối với DNNN
thuộc thành phố quản lý, trong đó, kiên quyết thoái vốn ở những doanh nghiệp
và lĩnh vực không cần giữ DNNN, đảm bảo các mục tiêu của tái cấu trúc, không
để thất thoát vốn nhà nước, đồng thời thu hẹp phạm vi, nâng cao năng lực tài
chính cho các DNNN còn giữ, nâng cao hiệu quả kinh tế cũng như hoàn thành
những nhiệm vụ được UBND thành phố giao trong một số lĩnh vực trọng điểm

- Quản lý vốn nhà nước tại các DNNN phải đảm bảo yêu cầu tách bạch
chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN và chức năng quản lý của chủ sở
hữu nhà nước tại DNNN.
- Quản lý vốn nhà nước tại DNNN phải góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp trong kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, bảo toàn và
phát triển vốn nhà nước tại DNNN.
- Quản lý vốn nhà nước tại DNNN phải đảm bảo tính đồng bộ và phù hợp
với tổng thể cải cách DNNN nói riêng, cải cách thể chế kinh tế thị trường nói
chung, góp phần nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
- Quản lý vốn nhà nước tại DNNN phải phù hợp với các thông lệ, chuẩn
mực quốc tế, với trình độ phát triển của nền kinh tế và yêu cầu hội nhập kinh tế
quốc tế.
4.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ VỐN
NHÀ NƯỚC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ ĐÀ NẴNG

4.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý vốn nhà nước tại
doanh nghiệp
4.2.1.1. Hoàn thiện cơ chế phân bổ vốn đầu tư của Nhà nước đối với
doanh nghiệp nhà nước
Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu đầu tư vốn nhà nước tại DNNN.
- Đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN nhằm thực hiện mục tiêu mang
tính chính trị - xã hội, an ninh quốc phòng. Đối với những DNNN hiện đang
thực hiện mục tiêu này, sẽ tiếp tục duy trì và đầu tư bổ sung vốn để tồn tại và
phát triển.


19
- Đầu tư vốn nhà nước vào các DNNN nhằm mục tiêu thu lợi nhuận. Đối
với mục tiêu này, cần xác định rõ những ngành, lĩnh vực nào mang tính chất

Nhà nước cần phải có cơ chế ràng buộc gắn liền với trách nhiệm là các doanh
nghiệp cần phải có lộ trình đổi mới máy móc thiết bị công nghệ.
- Khuyến khích các DNNN xây dựng nguồn kinh phí cho đào tạo và đào
tạo lại nguồn nhân lực.
4.2.1.3. Hoàn thiện cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế và trả lương
cho người lao động trong doanh nghiệp nhà nước
- Chấm dứt việc quyết định phân phối lợi nhuận sau thuế theo tỷ lệ giữa
vốn nhà nước và vốn doanh nghiệp tự huy động.
- Lợi nhuận sau thuế để lại DNNN sẽ tiếp tục được phân chia vào các quỹ
(quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, quỹ khen thưởng...). Cần có quy


20
định cụ thể và có sự cân đối giữa 3 khoản: trích để lại tái đầu tư; trích lập quỹ
khen thưởng, quỹ phúc lợi của người lao động, quỹ thưởng người quản lý và
trích nộp vào ngân sách.
- Về phương thức thực hiện cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế, cần ban
hành cơ chế chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế và sử dụng các quỹ trong
doanh nghiệp.
Đối với vấn đề tiền lương, thù lao, tiền thưởng của người lao động trong
DNNNN, việc chi trả phải căn cứ mức độ hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch
hàng năm của doanh nghiệp. Cụ thể cần giải quyết một số vấn đề sau đây:
- Tăng cường năng lực của chủ sở hữu về quản lý tiền lương.
- Cơ chế trả lương cho đội ngũ cán bộ quản lý điều hành DNNN theo
hướng tiệm cận thị trường lao động và gắn với kết quả kinh doanh.
- Cần có chính sách tiền thưởng đối với đội ngũ cán bộ quản lý DNNN và
người lao động trong DNNN. Chính sách tiền thưởng phải đi đôi với tăng hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
4.2.1.4. Hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả quản lý vốn nhà
nước tại doanh nghiệp nhà nước

bắt kịp thời các thông tin tài chính của doanh nghiệp.
- Cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp phải tổ chức việc kiểm tra, giám
sát doanh nghiệp và chủ sở hữu trong việc chấp hành các quy định, cơ chế,
chính sách tài chính doanh nghiệp.
Thứ tư, cần thống nhất quy định về đánh giá, xếp loại DNNN.
- Bổ sung 2 nội dung quan trọng trong đánh giá DNNN: đánh giá hoạt
động kinh doanh của DNNN (mở rộng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, chấp
hành quyết định của chủ sở hữu nhà nước, thực hiện các dự án đầu tư, đầu tư
vào lĩnh vực rủi ro, thành lập doanh nghiệp vượt khả năng quản lý...) và đánh
giá công tác tổ chức của DNNN (bổ nhiệm, uỷ quyền, giao nhiệm vụ, đánh giá
năng lực và trách nhiệm của người đại diện chủ sở hữu...).
- Bổ sung tiêu chí về phát triển dài hạn khi đánh giá kết quả hoạt động
kinh doanh của DNNN và tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của
người thực hiện quyền chủ sở hữu, trong đó xác định rõ các chỉ tiêu chính cho
mỗi chức danh.
4.2.2. Nhóm giải pháp tổ chức quản lý về phía Nhà nước
4.2.2.1. Xác định và tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu nhà nước và
chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước
Trên cơ sở các mục tiêu, yêu cầu trong giai đoạn mới, xuất phát từ chủ
trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới phương thức thực hiện
chức năng sở hữu nhà nước đối với DNNN có thể xác định các giải pháp cần
thiết như sau:
- Xác định rõ tổ chức hoặc cá nhân chính thức được giao quyền và trách
nhiệm làm đầu mối thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu tại các DNNN.
- Xác định rõ các chức năng cơ bản của chủ sở hữu nhà nước và quản lý
nhà nước về mục tiêu, yêu cầu; chức năng, nhiệm vụ; phương pháp, công cụ; tổ
chức bộ máy thực hiện.
- Tiếp tục giảm thiểu tình trạng nhiều cấp đại diện chủ sở hữu nhà nước,
tiến tới mỗi DNNN chỉ có một đầu mối thực hiện tập trung và thống nhất hầu
hết các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước.

kiểm toán các DNNN trên địa bàn thành phố.
4.2.3. Nhóm giải pháp về phía doanh nghiệp nhà nước
4.2.3.1. Phát triển và nâng cao chất lượng, nâng cao ý thức, nhận thức,
tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ tham gia quản lý doanh nghiệp
nhà nước trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Tăng cường, đào tạo, bồi dưỡng để có đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành
DNNN có trình độ chuyên môn giỏi.
- Đổi mới công tác điều phối, bố trí và sử dụng cán bộ tham gia vào quản
lý DNNN; đồng thời cần có cơ chế đánh giá và đãi ngộ thỏa đáng đối với đội
ngũ cán bộ này.
- Nghiên cứu thay đổi chế độ tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ quản lý
DNNN từ cơ chế bổ nhiệm hiện nay sang cơ chế thu hút, tuyển chọn thông qua
thị trường nhân lực quản trị kinh doanh.
- Chính phủ cần sớm ban hành quy chế thi tuyển đối với giám đốc DNNN
và coi đó là một bước thí điểm có tính đột phá trong công tác cán bộ quản lý
DNNN, tạo điều kiện tuyển chọn nhân tài cho đất nước.
4.2.3.2. Tăng cường giám sát nội bộ doanh nghiệp nhà nước trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng
- Hoàn thiện môi trường giám sát nội bộ DNNN, xây dựng cơ chế quản lý
phù hợp, thiết lập được sự điều hành và sự giám sát toàn bộ doanh nghiệp,
không bỏ sót, không chồng chéo giữa các bộ phận.
- Hoàn thiện các yếu tố của hoạt động kế toán, tài chính như: hệ thống các
chính sách, tài khoản kế toán áp dụng chung trong phạm vi toàn hệ thống DNNN.


23
- Giám sát nội bộ phải đảm bảo nguyên tắc phân công, phân nhiệm,
không nên kiêm nhiệm, ủy quyền và phê chuẩn để đảm bảo tính chuyên môn
hóa trong công việc và tránh những sai sót.
- Áp dụng tin học trong quản lý, nhất là trong quản lý vốn, tài sản để đảm

quản lý vốn sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể địa phương.
Luận án cũng đã kế thừa, hệ thống hoá cơ sở lý luận, từ đó đưa ra quan
niệm về quản lý vốn nhà nước tại các DNNN. Đó là một khái niệm bao hàm sự
tổng hòa các hoạt động quản lý của Nhà nước đối với phần vốn góp của Nhà
nước tại các DNNN nhằm đảm bảo vốn nhà nước được đầu tư, sử dụng có hiệu
quả và được bảo toàn, phát triển. Để thực hiện quản lý vốn nhà nước tại các



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status