Hoàn thiện tiêu chí xác định nhiệm vụ khoa học
của các tổ chức khoa học và công nghệ trong
điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm (nghiên cứu
trường hợp trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn)
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Luận văn Thạc sĩ. Quản lý khoa học và công nghệ ; Mã số: 60 34 72
Nghd: PGS.TS. Nguyễn Văn Kim
Năm bảo vệ: 2014
Keywords: Quản lý khoa học công nghệ, Quản lý điều hành; Khoa học công nghệ
Contents:
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Nhân loại đã và đang có những bước tiến vững chắc sau thời đại kinh tế tri thức – nền kinh tế
dựa trên những giá trị gia tăng của tri thức khoa học và công nghệ. Để đáp ứng được yêu cầu này,
hoạt động khoa học và công nghệ cần phải có một hệ thống đồng bộ về thể chế và chế tài để thúc
đẩy nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ vào phát triển kinh tế - xã hội. Trong đó, tự
chủ, tự chịu trách nhiệm là một trong những cơ chế quan trọng, mang tính phổ biến của các tổ chức
khoa học và công nghệ trên thế giới.
Theo xu hướng tất yếu này, Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu, ban hành những văn bản pháp
quy nhằm tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ: Ngày
05 tháng 9 năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 115/2005/NĐ- CP quy định cơ chế
tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập. Ngày 5 tháng 6 năm 2006, Bộ
KH&CN, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTCBNV hướng dẫn thực hiện Nghị định này. Ngày 19 tháng 5 năm 2007, Nghị định số 80/2007/NĐCP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ ban hành và được hướng dẫn bởi Thông tu liên tịch số
06 /2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18 tháng 6 năm 2008. Sau đó, do thực tiễn thực hiện
chính sách, Chính phủ Việt Nam đã tiếp tục điều chỉnh, bộ sung các văn bản này: Nghị định
96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và Nghị định số
80/2007/NĐ-CP và Thông tư số 36/2011/TTLT-BKHCN-BTC-BNV sửa đổi, bổ sung Thông tư liên
tịch số 12/2006/TTLT-BKHCN-BTC-BNV. Như vậy, có thể nói, Việt Nam đã có hành lang pháp lý
Với lí do đó cùng với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc thúc đẩy sự phát triển của hoa
học và công nghệ, làm cho nó thực sự trở thành “đòn bẩy” của sự phát triển, nhất là trong bối cảnh
của nền kinh tế tri thức, chúng tôi chọn đề tài Hoàn thiện tiêu chí xác định NVKH của tổ chức khoa
học và công nghệ trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm (nghiên cứu trường hợp Trường Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG HN) cho luận văn thạc sĩ này.
2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Chúng ta biết, ở các nước tiên tiến, các viện nghiên cứu,các tổ chức khoa học và công nghệ,các
doanh nghiệp khoa học và công nghệ không tồn tại độc lập mà nằm trong các đại học. Do đó, khi
nói đến tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đại học cũng là nói đến tính tự chủ, tự chịu trách
nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ (viện, trung tâm nghiên cứu) với tính cách là một
thành tố của nó.
Trên bình diện lý luận, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn có thể được
chia thành 2 nhóm:
Nhóm các công trình đề cập đến tính tự chủ đại học như: University Autonomy, the State and
Social Changes in China của tác giả Su- Yan Pan; University Autonomy in Europe Exploratory
Study của tác giả Thomas Estermann . Khi nói đến vấn đề tự chủ đại học trên thế giới đã có rất
nhiều bài nghiên cứu, bài viết về những vấn đề đã và đang làm được đồng thời còn có những tồn tại
khi nói đến một đại học tự chủ. Chính vì vậy, có rất nhiều quan điểm trong cuộc tranh luận “ tự chủ
đại học là gì ?” và đây thực sự là một nghiên cứu mà các nước trên thế giới cũng đưa ra nhiều cách
nhìn khác nhau điều này bắt nguồn chính từ khái niệm về tự chủ trong trường Đại học? Và nhiều
nghiên cứu khẳng định rằng tự chủ là biểu hiện mối quan hệ giữa nhà nước và các trường đại học.
Định nghĩa cổ điển về tự chủ đại học là “quyền lực của nhà trường được tự điều khiển việc vận
hành của mình mà không bị kiểm soát từ bên ngoài”1 Theo quan điểm này, tự chủ đại học là bản
chất nội tại của trường đại học và là điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện một cách hữu hiệu chức
năng và trách nhiệm của nó đối với xã hội2
Tại hội thảo tháng 4/2010 tại Đại học Cyprus, Nicosia tác giả Thomas Estermann - Trưởng Ban
Quản
-
Thứ tư: Tự chủ về học thuật
Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những thách thức mà tự chủ đại học gặp phải đó là những vấn đề
về tài chính như thiếu năng lực tài chính, nặng về báo cáo thủ tục… rồi vấn đề về cơ chế chính sách
khi thay đổi những chính sách mới thì thiếu kinh nghiệm trong việc thực hiện những chính sách mới
đó, thiếu sự hỗ trợ từ chính việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thiếu tầm nhìn chính sách một cách dài
hạn…
Trong cuốn sách của tác giả Su – Yan Pan “University Autonomy, the State and Social Changes
in China” được in tại Hồng Kông vào tháng 8 năm 2009, cũng đã nói rất nhiều đến vấn đề tự chủ
đại học của các trường Đại học ở Trung Quốc và tác giả lấy ngay ví dụ cụ thể là Đại học Thanh
Hoa, Đại học Bắc Kinh. Từ khởi điểm là một đại học truyền thống sau đó phát triển và thực sự
trưởng thành khi trở thành là một trường đại học tự chủ. Khởi nguồn chính trong bài viết này đó là
nói đến khái niệm “thế nào là một trường Đại học?” và “những quan niệm đa chiều về tự chủ đại
học” của các tác giả trên thế giới, tác giả đưa ra những ví dụ cụ thể của các nước phương Tây và đã
khẳng định rằng có ba mô hình về quản trị đại học trên thế giới đó là:
-
Mô hình tự chủ tuyệt đối.
-
Mô hình nhà nước giám sát.
-
Mô hình nhà nước kiểm soát.
Với mô hình đó, tác giả có phân tích đến mối quan hệ giữa Nhà nước và trường Đại học, đó là
hội thảo, tọa đàm đã trao đổi về vấn đề này, gần đây nhất trong hội thảo khoa học: “Các vấn đề tự
chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng ở Việt Nam” được tổ chức vào ngày
23/10/2009 tại Thành phố Hồ Chi Minh đại diện là Trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh,
thay mặt Ban Liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức Hội thảo khoa
học. Đã có 35 bài viết đại diện cho 35 trường Đại học bàn về tự chủ đại học mỗi bài viết đều nói
lên thực trạng của chính trường Đại học của mình và đưa ra những giải pháp riêng cho đặc thù
của từng trường, từng ngành nổi bật là các bài viết: Xu hướng tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các
cơ sở giáo dục đại học Việt Nam: Lý luận và thực tiễn [20, tr21]. Tự chủ Đại học = Tự chủ học
thuật + Tự chủ + Trách nhiệm [20, tr33]. Tự chủ - Một hình thức “khoán 10” cho giáo dục Đại
học tại Việt Nam hiện nay [20,tr 68]. Thực thi cơ chế “tự chủ” cho các trường đại học công lập:
Cơ sở để phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập [20, tr 92]. Quản lý đội ngũ giảng viên trong
đại học đa ngành, đa lĩnh vực ở Việt Nam theo quan điểm tự chủ và trách nhiệm xã hội [20,
tr151]. Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội [20,tr 212]. Một số
giải pháp về công tác tổ chức, quản lý bộ máy, cán bộ tại trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau
trong tiến trình thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm [20,tr189]. Tăng cường tự chủ, trách nhiệm
xã hội của giáo dục đại học – Yêu cầu từ thực tế [20,tr 257].
Tất cả những tham luận đó cùng đề cập đến những kinh nghiệm, những thuận lợi, những
điểm bất cập và khó khăn gặp phải thực hiện quyền tự chủ ở các trường và vấn đề tự chủ, tự chịu
trách nhiệm ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam thời gian qua trong các lĩnh vực:
- Tổ chức quản lý bộ máy, cán bộ, sinh viên.
- Các chương trình, nội dung đào tạo.
- Các chuẩn mực khoa học, nghiên cứu khoa học và công bố.
- Hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học.
- Quản trị, tài chính và hành chính trong quản lý v.v.
Và đồng thời đề xuất những giải pháp thuộc tất cả các lĩnh vực (mức độ tổ chức, quản lý, kế
hoạch thực hiện, chương trình, nội dung giảng dạy, tài chính, chính sách .v.v…) và lộ trình thực
hiện quyền tự chủ của các trường.
Tháng 10/2011, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổ chức hội thảo “Các xu thế quản trị đại học
- Đề xuất cơ sở, giải pháp hoàn thiện hệ thống tiêu chí xác định NVKH của Trường
ĐHKHXH&NV
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Trường ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội
- Phạm vi về thời gian khảo sát số liệu: 5 năm trở lại đây (từ năm 2009 đến 2013).
5. Mẫu khảo sát
- Các công trình nghiên cứu khoa học xã hội;
- Các luận văn thạc sĩ, tiến sĩ.
- Cán bộ, giảng viên trực tiếp thực hiện đề tài
- Các chuyên gia.
- Cán bộ lãnh đạo các Khoa, Phòng, Trung tâm , chuyên viên chuyên trách quản lý hoạt
động nghiên cứu khoa học.
6. Câu hỏi nghiên cứu
Việc xác định tiêu chí lựa chọn NVKH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm hiện nay là như thế nào?
Những cơ sở và giải pháp nào để có thể hoàn thiện tiêu chí trong điều kiện tự chủ, tự chịu
trách nhiệm?
7. Giả thuyết nghiên cứu
- Ngoài một số tiêu chí mang tính quan điểm chỉ đạo như ưu tiên các nhiệm vụ khoa học cơ
bản, ưu tiên cán bộ giảng dạy hiện đang là học viên sau đại học, việc xác định NVKH của Trường
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn còn dựa nhiều vào kinh nghiệm chuyên môn của các chuyên
gia, các nhà quản lý.
- Ngoài một số tiêu chí chung xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn cần có văn bản hướng dẫn nhằm xây dựng tiêu chí xác định nhiệm
vụ nghiên cứu phù hợp với những đặc thù của lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
8. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, quản điểm lý thuyết của
Vũ Cao Đàm trong cuốn “Đánh giá nghiên cứu khoa học” – NXB KH&KT, năm 2007, cuốn “Phương
pháp luận nghiên cứu khoa học” – NXB Giáo dục, năm 2007 cũng như các tiêu chí, quan điểm về
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của trường ĐHKHXH&NV trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu
thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về tiêu chí xác định NVKH của các tổ chức khoa học và công
nghệ trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
Chương 2. Thực trạng việc xác định nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách
nhiệm
Chương 3. Xây dựng tiêu chí xác định NVKH của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn trong điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Bộ Nội vụ - Bộ Giáo dục và Đào tạo: Thông tư liên tịch số 06/2011/TTLT-BNV-BGD&ĐT
ngày 06 tháng 06 năm 2011 về việc Quy định tiêu chuẩn, nhiệm vụ, chế độ làm việc, chính sách
đối với giảng viên tại cơ sở đào tạo.
2. Chính phủ nước CHXHCNVN: Nghị định số 186/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ ngày
17 tháng 11 năm 2013 về Đại học Quốc gia.
3. Vũ Cao Đàm (2005), Phương pháp luận NCKH, NXB. Khoa học và Kỹ thuật.
4. Vũ Cao Đàm (2007), Đánh giá NCKH, NXB. Khoa học Kỹ thuật.
5. Vũ Cao Đàm (2007), Một số vấn đề quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta
6. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, tập I, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà
Nội.
7. Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập các công trình đã công bố, tập II, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà
Nội.
8. Vũ Cao Đàm (2013), Cải cách căn bản chính sách giáo dục và xây dựng đại học nghiên cứu ở
của Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn về việc đề xuất nhiệm vụ khoa
học công nghệ năm 2014.
19. Phạm
Thị
Ly
(2012),
Tự
chủ
tài
chính
ở
các
trường
Đại
học
công