ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
Khóa luận tốt nghiệp
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
Đề tài:
ẨN DỤ, HOÁN DỤ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƢỜI
TRONG VĂN CHƢƠNG DÂN GIAN VIỆT NAM
GVHD: PGS.TS Nguyễn Công Đức
SVTH: Bùi Thị Diệu Trang
LỚP:
Ngôn ngữ K12
MSSV: 1256010178
TP.HCM, ngày 20 tháng 06 năm 2016
MỤC LỤC
DẪN NHẬP .................................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 1
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 1
4. Lịch sử vấn đề .......................................................................................................... 2
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................... 4
6. Ý nghĩa khoa học – thực tiễn ................................................................................... 4
Khái quát về văn chƣơng dân gian Việt Nam .................................................... 17
1.4
Giới thiệu nguồn tƣ liệu khảo sát ....................................................................... 20
1.5
Ý niệm về bộ phận cơ thể ngƣời trong ẩn dụ và hoán dụ tri nhận ..................... 20
TIỂU KẾT .................................................................................................................... 25
2.1
Kết quả khảo sát ................................................................................................. 26
2.2
Phân loại ẩn dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong văn xuôi dân gian Việt Nam.. 28
2.2.1
Ẩn dụ từ vựng .............................................................................................. 28
2.2.1.1 Ẩn dụ hình dáng ....................................................................................... 29
2.2.1.2 Ẩn dụ vị trí ............................................................................................... 30
2.2.1.3 Ẩn dụ tính chất ......................................................................................... 32
2.2.1.4 Ẩn dụ chức năng ...................................................................................... 33
2.2.1.5 Ẩn dụ màu sắc .......................................................................................... 33
2.2.2
2.2.2
Ẩn dụ tu từ. .................................................................................................. 62
2.2.2.1 Ẩn dụ tính chất. ........................................................................................ 62
2.2.2.2 Ẩn dụ hành động. ..................................................................................... 63
2.2.2.3 Ẩn dụ trạng thái. ....................................................................................... 64
2.2.2.4 Ẩn dụ điển cố. .......................................................................................... 65
2.2.3
Ẩn dụ tri nhận. ............................................................................................. 65
2.2.3.1 Ẩn dụ cấu trúc. ......................................................................................... 66
2.2.3.2 Ẩn dụ bản thể. .......................................................................................... 71
2.2.3.3 Ẩn dụ truyền tin/ kênh liên lạc. ................................................................ 75
2.2.3.4 Ẩn dụ định hƣớng..................................................................................... 75
2.4 Nhận xét về ẩn dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong văn chƣơng dân gian Việt
Nam…………………………………………………………………………………..75
TIỂU KẾT .................................................................................................................... 76
3.1
Kết quả khảo sát. ................................................................................................ 77
3.2 Phân loại hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong văn xuôi dân gian Việt
Nam………….. ............................................................................................................ 78
3.2.1
Hoán dụ từ vựng .......................................................................................... 78
3.2.1.1 Toàn bộ - bộ phận..................................................................................... 79
3.3.1.2 Bộ phận - toàn bộ. .................................................................................... 90
3.3.1.3 Bộ phận cơ thể - bộ phận đồ vật............................................................... 91
3.3.1.4 Cơ quan chức năng - chức năng. .............................................................. 92
3.3.1.5 Trạng thái, tƣ thế - nguyên nhân . ............................................................ 94
3.3.1.6 Kết quả - nguyên nhân. ............................................................................ 94
3.3.1.7 Tƣợng trƣng.............................................................................................. 94
3.3.2
Hoán dụ tu từ. .............................................................................................. 95
3.3.2.1 Hoán dụ toàn thể- bộ phận. ...................................................................... 96
3.3.2.2 Hoán dụ bộ phận - toàn thể. ..................................................................... 96
3.3.2.3 Hoán dụ vật chứa - đối tƣợng đƣợc chứa. ................................................ 96
3.3.2.4 Hoán dụ cơ quan chức năng - chức năng. ................................................ 97
3.3.2.5 Hoán dụ tƣ thế - nguyên nhân tƣ thế. ....................................................... 98
3.3.3
Hoán dụ tri nhận. ......................................................................................... 98
3.3.3.1 Hoán dụ ý niệm tuyến tính. ...................................................................... 99
3.3.3.2 Hoán dụ ý niệm tiếp hợp. ......................................................................... 99
3.3.3.3 Hoán dụ ý niệm bao gộp. ....................................................................... 100
3.4 Nhận xét về hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trong văn chƣơng dân gian Việt
Nam …………….. ..................................................................................................... 100
TIỂU KẾT .................................................................................................................. 101
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 103
Khảo sát trên ngữ liệu văn chƣơng dân gian Việt Nam nhằm đƣa ra điểm nhìn
tổng quát nhất về cách sử dụng ngôn ngữ của dân gian và hơn thế là đặc điểm tƣ duy,
hành động đƣợc ghi dấu qua các tác phẩm dân gian Việt Nam.
-
Tổng hợp, phân tích và phân loại các nguồn ẩn dụ, hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể
ngƣời tạo nên một kho tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu ngôn ngữ.
3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
1
Đối tƣợng nghiên cứu: ẩn dụ, hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời.
Phạm vi nghiên cứu: nguồn tƣ liệu trong văn chƣơng dân gian Việt Nam, cụ thể
là tục ngữ, ca dao, câu đố và truyện cổ tích.
4.
Lịch sử vấn đề
Ẩn dụ và hoán dụ từ lâu đã là đề tài đƣợc rất nhiều nhà nghiên cứu trong và
ngoài nƣớc quan tâm.
Khởi thủy cho vấn đề này chính là Aristotle với quan niệm “Ẩn dụ là lấy tên
gọi của sự vật này để gọi cho sự vật khác” nhờ vào việc giữa các sự vật có những nét
tƣơng đồng. Tiếp nối quan niệm này có thể kể đến Cicéron, A.A. Reformatxky, B.N.
Golovin,… Đến cuối thế kỉ XX, một luồng tƣ tƣởng mới ra đời là Ngôn ngữ học tri
nhận, ẩn dụ đƣợc hiểu theo một khuynh hƣớng mới, nó không chỉ là một phạm trù của
ngôn ngữ mà còn liên quan đến tƣ duy và hành động. Ẩn dụ đã thực sự đồng hành với
-
Hà Thanh Hải (2011), luận án tiến sĩ, Đối chiếu phương thức ẩn dụ nhìn từ lí
thuyết ngôn ngữ học tri nhận trên cứ liệu báo chí kinh tế Anh- Việt.
-
Phạm Thị Kim Cúc (2013), luận văn thạc sĩ, Khảo sát từ ngữ ẩn dụ trong tác
phẩm “Khóa hư lục” của Trần Thái Tông.
-
Nguyễn Thị Ái Vân (2013), luận văn thạc sĩ, Ẩn dụ và hoán dụ trong truyện
Kiều.
-
Nguyễn Thị Nhƣ Ngọc (2015), luận án tiến sĩ, Ẩn dụ trong văn bản diễn thuyết
chính trị Mỹ và việc dịch ẩn dụ từ tiếng Anh sang tiếng Việt.
Ngoài ra, ẩn dụ, hoán dụ cũng đƣợc nghiên cứu để xây dựng thành các từ điển
quy mô nhƣ:
-
Lê Thị Diên Anh (2009), luận văn thạc sĩ, Xây dựng từ điển ẩn dụ tiếng Việt.
-
Nguyễn Hữu Chƣơng (2012),công trình nghiên cứu khoa học, Từ điển ẩn dụ,
những tƣ duy, nhìn nhận mới về ẩn dụ, hoán dụ, từ đó trở thành nguồn tài liệu tốt phục
vụ cho việc học tập và nghiên cứu.
5.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi chủ yếu sử dụng các phƣơng pháp sau:
-
Phƣơng pháp thống kê: khảo sát nguồn tƣ liệu văn chƣơng dân gian Việt Nam
nhằm liệt kê các cứ liệu có liên quan đến ẩn dụ, hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời tạo
nguồn cho việc nghiên cứu đề tài.
-
Phƣơng pháp phân tích- miêu tả: nêu lên những đặc điểm cơ bản của từng loại
ẩn dụ, hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời tạo cơ sở cho việc phân loại.
-
Phƣơng pháp phân loại: sắp xếp các loại ẩn dụ, hoán dụ thành một hệ thống
khoa học, hoàn chỉnh phục vụ cho việc nghiên cứu sau này.
6.
Ý nghĩa khoa học – thực tiễn
Việc khảo sát, miêu tả và phân loại các ẩn dụ, hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể
ngƣời sẽ cung cấp một nguồn tƣ liệu hoàn chỉnh, khoa học trên cứ liệu văn chƣơng
dân gian phục vụ lâu dài cho các công trình nghiên cứu cũng nhƣ việc học tập ngôn
văn chƣơng dân gian Việt Nam, trên cơ sở đó, nêu những đặc điểm, thống kê, phân
loại và nhận xét tổng quan.
-
Chƣơng 3: Hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể người trong văn chương dân gian Việt
Nam, phân tích, miêu tả và phân loại các loại hoán dụ chỉ bộ phận cơ thể ngƣời trên cứ
liệu văn chƣơng dân gian Việt Nam, nêu các đặc điểm, thống kê, phân loại và nhận
xét tổng quát.
5
Chƣơng 1:
TỔNG QUAN VỀ ẨN DỤ, HOÁN DỤ CHỈ BỘ PHẬN CƠ
THỂ CON NGƢỜI VÀ VĂN CHƢƠNG DÂN GIAN
VIỆT NAM
1.1
Khái quát về ẩn dụ
1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Thuật ngữ ẩn dụ metaphor: có nguồn gốc là một từ Hy Lạp métaphora , có
nghĩa là chuyển (transfer), trong đó “meta” có nghĩa là “từ bên này đƣa qua bên kia”
(across) và pherein có nghĩa là “mang, mang đi” (to bear or carry). Trong tiếng Hy
Lạp hiện đại, từ Metaphor cũng có nghĩa là vận chuyển, chuyển từ chỗ này sang chỗ
khác, nhƣợng (transport hay transfer). (Dẫn theo Nguyễn Hữu Chƣơng)
Ẩn dụ là một khái niệm thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong và ngoài
nƣớc từ rất lâu. Để khái quát khái niệm này, các nhà ngôn ngữ học đã không ngừng
tìm hiểu và tranh luận, sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu của các nhà ngôn ngữ
sở sự tƣơng tự, sự giống nhau …” (Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn)
-
Năm 1977, trong cuốn Dẫn luận Ngôn ngữ học, B.N. Golovin định nghĩa: “Sự
chuyển đổi của các từ từ một đối tƣợng này sang một đối tƣợng khác trên cơ sở sự
giống nhau của chúng đƣợc gọi là ẩn dụ”. (Dẫn theo Nguyễn Đức Tồn)
-
Trong cuốn Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cương (1977), Ju.X. Xtepanốp:
“Bản thân từ Metaphora từ tiếng Hy Lạp cũng có nghĩa là “sự chuyển nghĩa” (tr 51)
và “Khi một từ tuy vẫn còn liên hệ với biểu vật cũ nhƣng lại có thêm một sự liên hệ
mới, với cái biểu vật mới, thì hiện tƣợng ngôn ngữ đó là ẩn dụ” (tr51-52). (Dẫn theo
Nguyễn Đức Tồn)
-
Năm 1984, theo Từ điển ngôn ngữ học của Jean Dubois định nghĩa: “ Ẩn dụ là
dùng một danh từ cụ thể để chỉ một khái niệm trừu tƣợng mà không có mặt những từ,
cụm từ để chỉ sự so sánh. Hay nói rộng hơn ẩn dụ là việc dùng tất cả các từ mà từ này
có thể thay thế bằng một số từ khác có những điểm tƣơng đồng sau khi đã bỏ tất cả
những từ dùng để chỉ sự so sánh”. (Dẫn theo Nguyễn Hữu Chƣơng)
-
Năm 2010, trong cuốn Từ điển Oxford Advanced Leaner‟s Dictionary, Oxford
University Press của A.S Hornby, ẩn dụ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “ Ẩn dụ là cách
dùng một từ hay cụm từ để miêu tả một ngƣời hay một vật khác, khác với cách dùng
bình thƣờng của từ đó, để chỉ ra rằng hai vật có cùng tính chất và để tạo ra một miêu
là hình thƣc, vị trí, màu sắc, âm thanh, công dụng, chức năng.
-
Năm 1981, Đỗ Hữu Châu trong một cuốn sách khác là Từ vựng- ngữ nghĩa
tiếng Việt, ông giải thích: “Cho A là một hình thức ngữ âm, X và Y là những ý nghĩa
biểu vật. A vốn là tên gọi của X (tức X là ý nghĩa biểu vật chính của A). Phƣơng thức
ẩn dụ là phƣơng thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), nếu nhƣ X và Y
có nét nào đó giống nhau.” (tr 145)
-
Năm 1966, Nguyễn Lân với cuốn Ngữ pháp Việt Nam, đề cập: “Ẩn dụ là phép
sử dụng từ ngữ ở nghĩa chuyển dựa trên cơ sở sự tƣơng đồng, sự giống nhau…giữa
các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến. Ẩn dụ cũng là một cách ví, nhƣng
không cần dùng đến những tiếng để so sánh nhƣ: tựa, nhƣ, tƣờng, bằng…” (tr 18)
-
Năm 1988, trong Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Đào Thản đã
giải thích khá cụ thể, rõ ràng ẩn dụ cũng theo quan niệm nhƣ vậy trong mối quan hệ
với sự so sánh : “Ẩn dụ cũng là một lối so sánh dựa trên sự giống nhau về hình dáng,
màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng của hai đối tƣợng. Nhƣng khác với so
sánh dùng lối song song hai phần đối tƣợng và phần so sánh bên cạnh nhau, ẩn dụ chỉ
giữ lại phần để so sánh”.(tr 143)
-
Năm 2012, Nguyễn Thiện Giáp trong giáo trình Ngôn ngữ học nêu khái niệm:
Ẩn dụ (Metaphor) là sự chuyển đổi tên gọi dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật,
Nhƣ vậy, quan điểm chung về ẩn dụ truyền thống đều cho rằng ẩn dụ là cách
định danh sự vật, hiện tƣợng này bằng cách lấy tên gọi của sự vật hiện tƣợng khác dựa
trên những nét tƣơng đồng, nói cách khác là có sự so sánh ngầm trong cách định danh
này.
Ở quan điểm truyền thống, ẩn dụ đƣợc chia làm hai loại chính:
-
Ẩn dụ từ vựng: là đối tƣợng của từ vựng học, sự chuyển nghĩa của từ đƣợc thực
hiện theo những liên tƣởng so sánh tƣơng đồng (về hình thức, thuộc tính, chức năng,..)
giữa hai sự vật đã thành của chung của cả cộng đồng, mang tính bắt buộc, thực sự tạo
nên nghĩa mới của từ. Hay nói cách khác đó là “phƣơng thức lấy tên gọi A của X để
gọi tên Y (để biểu thị Y) nếu nhƣ X và Y giống nhau”. (Theo Đỗ Hữu Châu, Từ vựng
ngữ nghĩa tiếng Việt). Ở đề tài này, chúng tôi theo quan niệm của Nguyễn Hữu
Chƣơng, phân loại ẩn dụ từ vựng thành:
Ẩn dụ hình dáng
9
Ẩn dụ vị trí
Ẩn dụ tính chất
Ẩn dụ chức năng
Ẩn dụ màu sắc
-
Ẩn dụ tu từ: là đối tƣợng của bộ môn phong cách học và “là cách cá nhân lâm
thời lấy tên gọi biểu thị đối tƣợng này dùng để biểu thị đối tƣợng kia dựa trên cơ sở
của mối quan hệ liên tƣởng về nét tƣơng đồng giữa hai đối tƣợng”. “Ngƣời ta còn gọi
ẩn dụ tu từ là so sánh ngầm vì cơ sở cấu tạo của nó giống với so sánh tu từ”. Ví dụ:
đời sống thƣờng nhật của chúng ta, đồng thời thấm sâu không chỉ vào ngôn ngữ, mà
còn cả tƣ duy và hoạt động nữa. Hệ thống ý niệm thƣờng nhật mà chúng ta đang dùng
để suy nghĩ và hành động về bản chất đều mang tính ẩn dụ”.
Ẩn dụ tri nhận cũng tiền giả định sự tồn tại của hai miền NGUỒN và ĐÍCH.
Theo đó, miền nguồn có chức năng cung cấp các tri thức mới, từ đó gán các tri thức
này cho một miền khác là đích. Trong cuốn Metaphor We live by, hai ông cũng đƣa ra
một số ví dụ cụ thể nhƣ :
THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC
TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
TÌNH YÊU LÀ SỨC MẠNH VẬT LÝ
TÌNH YÊU LÀ CHIẾN TRANH
HẠNH PHÚC ĐỊNH HƢỚNG LÊN TRÊN
BẤT HẠNH ĐỊNH HƢỚNG XUỐNG DƢỚI
Trong hai vế của các câu trên thì vế thứ hai chính là miền NGUỒN ( tiền bạc,
cuộc hành trình, chiến tranh, hƣớng lên trên, hƣớng xuống dƣới), đây là các tri thức
mới đƣợc gán cho các miền ĐÍCH ( thời gian, tình yêu, hạnh phúc, bất hạnh). Đây
cũng chính là cơ sở để xác định ẩn dụ tri nhận.
Ẩn dụ tri nhận chủ yếu mở mang kiến thức, cung cấp sự hiểu biết về đối tƣợng
này thông qua sự hiểu biết về đối tƣợng đã biết trƣớc đó. Điểm khác biệt dễ dàng nhận
ra là :
11
-
Ẩn dụ tri nhận đóng vai trò là một loại cấu trúc ý niệm chứ không đơn thuần
chỉ là cấu trúc ngôn ngữ nhƣ quan điểm truyền thống.
-
Cần tiêu diệt nhanh những cây si khác của nàng.
Cần lập một kế hoạch để cƣa đổ/ ngã/ gãy cô gái này.
Phải bảo vệ tình yêu bằng tất cả những gì ta có.
-
Ẩn dụ bản thể (ontological metaphors): thực chất là quá trình “vật thể hóa”
những bản thể trừu tƣợng và vạch ranh giới của chúng trong không gian. Đây là
những phƣơng thức giải thích các sự kiện, hành động, cảm xúc, các tƣ tƣởng v.v…
vốn là những khái niệm trừu tƣợng, xem chúng nhƣ những vật thể, chất liệu. Ví dụ:
Tình cảm đƣợc xem xét nhƣ một bản thể thì mới có những ẩn dụ nhƣ: THƢƠNG
12
NHIỀU, THƢƠNG ÍT, YÊU, KHÔNG YÊU,…Chúng ta có khả năng nói về những
hiện tƣợng trừu tƣợng nhờ vào năng lực vật thể hóa của tri giác chúng ta.
-
Ẩn dụ truyền tin/ kênh liên lạc (Conduit metaphor): là quá trình giao tiếp nhƣ
sự vận động của nghĩa “làm đầy” các biểu thức ngôn ngữ (vật chứa) theo “KÊNH” nối
ngƣời nói với ngƣời nghe. Ví dụ: TRÁI TIM LÀ VẬT CHỨA ĐỐI VỚI TÌNH CẢM.
Ta có các biểu thức ngôn ngữ nhƣ sau:
Tôi yêu em bằng cả trái tim
Em giết chết trái tim tôi khi nói những lời chối từ này.
Tôi xin dâng cả trái tim mình cho em.
Tôi thấy mình nhƣ trống rỗng
-
chú ý bởi lịch sử lâu đời của việc tìm tòi và cố gắng định nghĩa chính xác khái niệm
này:
Định nghĩa của Từ điển di sản văn hóa Mỹ (American Heritage Dictionary):
Hoán dụ (Metonymy) là một lối nói mà trong đó một từ hay một cụm từ dùng để thay
thế cho một từ hay một cụm từ khác dựa vào mối liên hệ gần gũi (closely associated)”.
(Dẫn theo Nguyễn Hữu Chƣơng) [15,19]
Định nghĩa của Từ điển các thuật ngữ Văn học của ChirsBaldick 2001, 2004:
“Hoán dụ (metonymy) là lối nói thay thế tên của một vật này bằng tên của một vật
khác mà giữa hai vật có mối liên hệ gần gũi (closely associated) với nhau”. (Dẫn theo
Nguyễn Hữu Chƣơng) [15,19]
Định nghĩa của Từ điển Bách khoa đại học Colombia: “Hoán dụ (metonymy) là
lối nói sử dụng một đặc trƣng (attribute) của vật hay một số vật có liên hệ gần gũi với
vật đó để thay thế cho chính bản thân vật đó”. (Dẫn theo Nguyễn Hữu Chƣơng)
[15,19]
Định nghĩa của Michael A.Fischer: Hoán dụ (metonymy) là lối nói dùng một từ
hay một cụm từ thay thế cho một từ hay cụm từ khác dựa trên mối liên hệ gần gũi
(closely associated)”. (Dẫn theo Nguyễn Hữu Chƣơng) [15,19]
Định nghĩa của Từ điển thuật ngữ thơ ca: “Hoán dụ( metonymy) là lối nói mà
trong đó có sự thay thế một danh từ này cho một danh từ khác bằng một thuộc tính
(attribute) hay một mối liên hệ gần gũi nào đó (closely associated)”. (Dẫn theo
Nguyễn Hữu Chƣơng) [15,19]
Các nhà Việt ngữ học Việt Nam cũng có những định nghĩa khá rõ ràng và
tƣơng đồng:
14
Nguyễn Văn Tu định nghĩa: “Hoán dụ là phép gọi tên một sự vật bằng tên của
một sự vật khác. Hoán dụ dựa vào mối liên hệ trực tiếp tức là chỗ giống nhau của hai
sự vật mà ngƣời ta thấy trực tiếp đƣợc”. [25,159]
15
tri nhận vẫn còn là một lĩnh vực mới, ít đƣợc nhắc đến hoặc thƣờng đƣợc gộp chung
với ẩn dụ tri nhận. Chúng tôi chỉ có thể hệ thống một số khái niệm cơ bản nhƣ sau:
“Hoán dụ đƣợc hiểu là việc sử dụng một đặc trƣng riêng (a single
characteristic) để chỉ một thực thể phức tạp hơn (to indentify a more complex entity)
và là một trong những đặc trƣng cơ bản của nhận thức” ( Dẫn theo Nguyễn Hữu
Chƣơng)
Theo Zoltan Kovecses 2002 thì : “Hoán dụ là một quá trình tri nhận, trong đó
một khách thể ý niệm đem lại khả năng nhận biết một khách thể ý niệm khác ở trong
cùng một lĩnh vực ý niệm hay mô hình tri nhận lý tƣởng hóa (ICM)” (Zoltan
Kovecses: Metaphor: A practical Introduction. NewYork: Oxford University Press,
2000, P450- Dẫn theo Võ Kim Hà, chuyên đề: Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ trong Ngôn
ngữ học tri nhận, ĐHKHXH & NV TPHCM, 2008).
G. Lakoff và M. Johnson cho rằng: “ Hoán dụ có chức năng cơ bản là chức
năng quy chiếu (referential funtion), nghĩa là nó cho phép một bản thể này thay thế
cho bản thể khác. Nhƣng hoán dụ không chỉ là một biện pháp quy chiếu. Nó cũng
phục vụ cho sự thông hiểu.” Và khẳng định thêm: “Hoán dụ ở một mức độ nào đó
cùng phục vụ cho những mục đích nhƣ ẩn dụ, và đƣợc sử dụng theo kiểu giống nhau,
nhƣng hoán dụ cho phép tập trung chú ý chính xác hơn trên những mặt xác định của
cái đƣợc biểu hiện” . “ Các ý niệm hoán dụ đƣợc tổ chức một cách hệ thống”. (Dẫn
theo Trần Văn Cơ- Những khái niệm Ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hóa
học)
Theo quan điểm này, hoán dụ đƣợc chia làm ba loại chính:
-
Hoán dụ ý niệm tuyến tính: là một quá trình tri nhận phản ánh ý đồ diễn đạt của
ngƣời nói trong đó chúng ta liên kết hai đối tƣợng lại với nhau theo kiểu cái này thay
1.2.3 Phân biệt ẩn dụ và hoán dụ
Cả hai loại ẩn dụ ( metaphor) và hoán dụ (metonymy) đều là cách dùng tên gọi
của sự vật, hiện tƣợng này để thay thế cho tên gọi của sự vật, hiện tƣợng khác. Tuy
nhiên, cơ sở ngữ nghĩa của hai cách nói này lại hoàn toàn khác nhau. Điểm khác biệt
rõ ràng nhất là hoán dụ hình thành dựa trên mối liên hệ tƣơng cận (contiguity
association) giữa hai khái niệm còn ẩn dụ hoạt động dựa trên mối liên hệ tƣơng đồng
(similarity) giữa chúng.
1.3
Khái quát về văn chƣơng dân gian Việt Nam
Văn chƣơng dân gian là các sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao
động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy, trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài
trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay. ( Theo
Đinh Gia Khánh)
17
Văn chƣơng dân gian Việt Nam có ba đặc trƣng cơ bản bao gồm:
-
Tính truyền miệng: hầu hết các tác phẩm văn chƣơng dân gian Việt Nam không
đƣợc lƣu giữ bằng văn tự mà đƣợc truyền miệng từ đời này sang đời khác và qua
nhiều địa phƣơng khác nhau. Các tác phẩm thƣờng đƣợc biểu hiện trong diễn xƣớng
dân gian. Đặc trƣng này cũng mang lại những hƣớng tích cực trong việc hoàn thiện tác
phẩm văn chƣơng dân gian đó là việc các tác phẩm này đƣợc trau chuốt, hoàn thiện và
ngày càng phù hợp hơn với tâm tình của ngƣời dân lao động.Tuy nhiên, điều này lại
làm cho các tác phẩm này nảy sinh nhiều dị bản, khó xác định đƣợc bản gốc.
cho ngƣời ta cƣời. Tiếng cƣời đƣợc phát ra khi bắt gặp mâu thuẫn trái ngƣợc giữa
hiện tƣợng và bản chất, giữa cái xấu xa và cái đẹp đẽ, cái tầm thƣờng và cái cao cả,
cái phi lí và cái có lý, giữa cái nội dung rỗng tuếch và cái hào nhoáng bên ngoài.
Truyện ngụ ngôn: là những truyện kể dân gian chứa đựng những quan
niệm về triết lý, đạo đức, những bài học đấu tranh giai cấp xã hội hay những kinh
nghiệm ứng xử đƣợc tổng kết trong một cốt truyện hoàn toàn tƣởng tƣợng.
18
Giai thoại văn học: là những câu truyện kể về cái sự kiện nổi bật trong
cuộc đời các nhân vật tài giỏi, hiền đức trong lịch sử dân tộc.
Truyện Nôm bình dân: là những truyện kể ra đời trong xã hội nông thôn
Việt Nam thời kỳ cuối xã hội phong kiến, gắn chặt với con ngƣời nông thôn Việt
Nam, thể hiện tƣ tƣởng tình cảm của nhân dân một cách rõ ràng và sâu sắc.
Kịch bản chèo sân đình: là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, kịch bản
chèo thƣờng dựa vào các sự tích vốn có trong truyện cổ tích, truyện Nôm,… mà dựng
chê của dân gian với các sự kiện đó.
Ca dao: là thơ ca dân gian truyền miệng dƣới hình thức những câu hát,
không theo một nhạc điệu nhất định. Ở ca dao có bài đã thành khúc điệu và có bài
chƣa thành khúc điệu. Ngƣời ta còn gọi ca dao là phong dao vì có những bài ca dao
phản ánh phong tục của một thời.
19
Văn học dân gian Việt Nam là một kho tri thức vô tận thấm đẫm tinh thần nhân
đạo và những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Đây chính là nét đặc sắc của dân
tộc, tạo nên bản sắc văn hóa không thể lẫn vào bất kỳ quốc gia nào trên Thế giới.
1.4
Giới thiệu nguồn tƣ liệu khảo sát
Để phục vụ nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn các tƣ liệu sau:
-
Tổng tập văn học dân gian Việt Nam do Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân
Văn quốc gia biên tập:
Tập 1 và 2: Tục ngữ: Chúng tôi khảo sát hai tập sách này để có cái nhìn
toàn vẹn nhất về hệ thống tục ngữ Việt Nam, từ đó có đƣợc những tƣ liệu khái quát
trí tuệ, nó biến phát ngôn thành tƣ tƣởng gắn liền với Thƣợng Đế.
20