LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các
thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
TRẦN ANH DŨNG
1
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là tổng hợp kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu ở nhà
trường kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác và sự nỗ lực cố gắng
của bản thân.
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới quý
Thầy giáo, Cô giáo và các cán bộ viên chức Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế
đã nhiệt tình giúp đỡ, hỗ trợ cho tôi. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
Thầy giáo - PGS.TS. Nguyễn Văn Phát là người trực tiếp hướng dẫn luận văn khoa
học kinh tế. Thầy đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận
văn.
Tôi cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến lãnh đạo Cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện
Vĩnh Linh, và các anh chị em đồng nghiệp đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ tôi
trong việc cung cấp số liệu, thu thập thông tin và tìm hiểu tình hình thực tế.
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và những tình cảm yêu mến nhất
đến gia đình, những người thân của tôi đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt
quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Tuy đã có sự nỗ lực, cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những
khiếm khuyết, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, Cô và
đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn !
Với ý nghĩa đó, Tôi chọn đề tài “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với
dịch vụ bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện việc thu thập số liệu từ các cơ quan chuyên môn trên địa
bàn huyện, điều tra đối tượng có tham gia giao dịch bảo hiểm xã hội trên địa bàn
huyện Vĩnh Linh để phân tích, đánh giá các vấn đề liên quan đến dịch vụ bảo hiểm.
Sử dụng phương pháp phân tổ thống kê, phương pháp phân tích, sử dụng phần mềm
excel và phần mềm thống kê SPSS để xử lý số liệu.
3. Kết quả nghiên cứu của luận văn
Chất lượng dịch vụ bảo hiểm tại BHXH huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị mà
luận văn đưa ra có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, điều hành quản lý
cũng như nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm hiện nay, góp phần phát triển dịch
vụ bảo hiểm và thỏa mãn khách hàng trên địa bàn huyện thời gian tới.
3
MỤC LỤC
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BH
Bảo hiểm
BHTN
NLNV
Năng lực nhân viên
QTTT
Quy trình thủ tục dịch vụ
TC
Độ tin cậy
TDPV
Thái độ phục vụ
UBND
Ủy ban nhân dân
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
6
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
hàng. Việc thỏa mãn khách hàng trở thành một tài sản quan trọng đối với các cơ
quan và tổ chức trong nỗ lực nâng cao chất lượng hoạt động, giữ vững sự niềm tin,
nâng cao uy tín, vị thế của đơn vị.
8
Với ý nghĩa đó, Tôi chọn đề tài “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với
dịch vụ bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” làm đề tài
nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng mức độ hài lòng của khách hàng
tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng dịch vụ của ngành Bảo hiểm xã hội nói chung và Bảo hiểm xã hội huyện
Vĩnh Linh nói riêng.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của khách
hàng đối với dịch vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
- Phân tích và đánh giá thực trạng mức độ hài lòng của khách đối với dịch vụ
bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao mức độ hài lòng của khách
hàng tại BHXH huyện Vĩnh Linh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vần đề liên quan đến dịch vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo
hiểm thất nghiệp; Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng tại Bảo
hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh.
cũng như để kiểm định giả thuyết.
* Xác định kích thước mẫu
Theo kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu trước cho rằng, nếu sử dụng
phương pháp ước lượng thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 đến 150 (Hair &
Ctg 1988). Theo Hair và Bollen (1989) thì kích thước mẫu tối thiểu là 5 mẫu cho 1
tham số ước lượng. Ngoài ra, theo Tabachnick & Fidell (1991), để phân tích hồi
quy đa biến đạt được kết quả tốt nhất, thì kích cỡ mẫu phải thỏa mãn công thức n ≥
8m + 50. Trong đó: n là kích cỡ mẫu – m là số biến độc lập của mô hình.
Căn cứ vào các kinh nghiệm chọn mẫu kể trên, kết hợp với thực tiễn của
nghiên cứu (với thang đo đánh giá sự hài lòng của khách hàng về dịch vụ bảo hiểm
10
mà đề tài sử dụng, có tất cả 6 biến độc lập trong mô hình và 30 tiêu chí), nên số
lượng mẫu tối thiểu theo từng cách chọn mẫu kể trên là: 5*30 = 150 mẫu (Hair và
Bollen, 1989) và n ≥ 8*6 + 50 = 98 mẫu (Tabachnick & Fidell, 1991). Để đảm bảo
tính đại diện cao hơn của mẫu cho tổng thể, nghiên cứu lựa chọn cỡ mẫu khảo sát là
150 phiếu (phù hợp với Hair & Ctg, 1988). Tuy nhiên để đảm bảo số phiếu thu về
đạt yêu cầu, tổng số phiếu được phát ra là 186 phiếu.
Điều tra phỏng vấn trực tiếp đến những người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đang sinh sống và làm việc tại 22 xã, thị trấn trên
địa bàn huyện Vĩnh Linh.
* Phương pháp chọn mẫu: Phương pháp chọn mẫu được sử dụng là chọn mẫu
thuận tiện. Xuất phát từ đặc thù nghiên cứu có nhiều khó khăn trong việc tiếp cận đối
tượng khách hàng dựa trên danh sách có sẵn nên đây là phương pháp phù hợp nhất.
* Nội dung điều tra: Sử dụng phiếu điều tra khách hàng về mức độ hài lòng
của khách hàng đối với dịch vụ bảo hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh với các
thuộc tính sau: Sự tin cậy, cơ sở vật chất, năng lực nhân viên, thái độ phục vụ, sự đồng
cảm của nhân viên, quy trình thủ tục hành chính . Người được thăm dò điều tra thu thập
Phương sai trích (cumulative % of variance): phần trăm biến thiên của các biến
quan sát (hay dữ liệu) được giải thích bởi các nhân tố phải đảm bảo ≥ 50%.
Phương pháp trích hệ số được sử dụng là Principal Component Analysis
với phép xoay Varimax để tối thiểu hóa số lượng biến có hệ số lớn tại cùng một
nhân tố, và các nhân tố không có sự tương quan lẫn nhau.
Xác định
số nhân tố bằng phương pháp
dựa
vào
eigenvalue
(Determination based on eigenvalue): chỉ giữ lại những nhân tố có eigenvalue lớn
hơn 1 trong mô hình phân tích.
Sau khi phân tích EFA, các giả thuyết nghiên cứu được điều chỉnh lại theo các
nhân tố mới. Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính bội sẽ được ứng dụng trong
việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự hài lòng của Khách hàng.
-
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến
Phân tích hồi qui đa biến: là một phương pháp được sử dụng dùng để phân
tích mối quan hệ giữa một biến phụ thuộc với nhiều biến độc lập. Phương
trình hồi qui tuyến tính đa biến có dạng:
Y = β + β X +β X +... +β X +e
i 0
1 1i 2 2i
p pi i
tuyến tính đa biến vì nó không phụ thuộc vào độ lệch phóng đại của R .
Kiểm định F trong phân tích phương sai là một phép kiểm định giả thuyết
về độ phù hợp của mô hình tuyến tính tổng thể. Nếu giả thuyết H của kiểm định
o
F bị bác bỏ thì có thể kết luận mô hình hồi qui tuyến tính đa biến phù hợp với tập
dữ liệu và có thể sử dụng được.
Kiểm định In dependent-samples T-test, và kiểm định One way ANOVA
được dùng để xem xét ảnh hưởng của các biến liên quan đến đặc điểm cá nhân
người khảo sát đến mức độ hài lòng chung của Khách hàng và một số phân tích
khác.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề xuất, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo...Luận văn gồm ba phần chính:
13
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của khách hàng
đối với dịch vụ bảo hiểm.
Chương 2: Đánh gía mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ bảo
hiểm tại Bảo hiểm xã hội huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối
với dịch vụ bảo hiểm tại BHXH huyện Vĩnh Linh.
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHÊN CỨU
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG
CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ BẢO HIỂM
1.1. DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM
1.1.1. Khái niệm về dịch vụ
được tiêu dùng (Wallström, 2002).
Không thể tách rời (inseparability). Trong ngành dịch vụ, cung ứng
thường được thực hiện cùng lúc với tiêu thụ, ngược lại với các sự vật cụ thể là
được sản xuất trước tiên, và sau đó mới được cung cấp cho người tiêu dùng. Do
đó, nhà cung cấp khó che dấu lỗi hay những khiếm khuyết của dịch vụ vì không
có khoảng cách thời gian từ sản xuất tới tiêu thụ như sản phẩm hữu hình.
Không đồng nhất (Heterogeneity). Dịch vụ rất khó thực hiện một cách đồng
nhất và chính xác theo thời gian mà thường hay thay đổi tùy theo nhà cung cấp, khách
hàng, hay thời điểm, địa điểm thực hiện… Đặc tính này của dịch vụ làm cho khó tiêu
chuẩn hóa chất lượng dịch vụ giống như là đối với sản phẩm chế tạo.
Dễ hỏng (Perishability). Dịch vụ không thể được cất giữ và tiêu thụ sau. Có thể
hiểu một cách khác là dịch vụ sẽ không tồn tại nếu không được “tiêu thụ” vào một thời
điểm xác định nào đó. Điều này chứng tỏ nhà cung cấp dịch vụ có khả năng kiểm soát
được sự bất thường của cung và cầu (Hoffman và Bateson, 2002).
1.1.3. Dịch vụ bảo hiểm
1.1.3.1. Khái niệm về bảo hiểm
Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của
các tổ chức cũng như cá nhân. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm
là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm
15
không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tập trung một số
lớn các rủi ro cho phép có thể tiên đoán về tổn thất khi chúng xảy ra. Bảo hiểm là
công cụ đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro gây ra, có hiệu quả nhất [5].
Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên chính thức được sử dụng làm tiêu
đề cho một văn bản pháp luật 1935 ( luật bảo hiểm xã hội 1935 của Hợp chủng quốc
Hoa Kỳ), và thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được thông qua tại
New Zealand năm 1938, đến năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ
đã có nhiều biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát cũng như hậu quả của rủi ro gây
ra. Hiện nay, theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro có hai nhóm biện pháp đối
phó với rủi ro và hậu quả do rủi ro gây ra – đó là nhóm các biện pháp kiểm soát rủi
ro và nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro.
+ Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm các biện pháp né tránh rủi
ro, ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu rủi ro. Các biện pháp này thường được sử dụng
để ngăn chặn hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro.
+ Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng thường xuyên trong cuộc
sống. Mỗi người, mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh đều lựa chọn những biện
pháp thích hợp để né tránh rủi ro có thể xảy ra, tức là loại trừ cơ hội dẫn đến
tổn thất. Chẳng hạn. để tránh các tai nạn giao thông người ta hạn chế đi lại,...
để tránh tai nạn lao động người ta chọn những nghề không nguy hiểm... Tránh
né rủi ro chỉ với nhũng rủi ro có thể tránh né được. Nhưng cuộc sống có rất
nhiều rủi ro bất ngờ không thể tránh né được.
+ Ngăn ngừa tổn thất - các biện pháp ngăn ngừa tổn thất đưa ra các hành
động nhằm làm giảm tổn thất hoặc giảm mức thiệt hại do tổn thất gây ra. Ví dụ, để
giảm thiểu các tai nạn lao động người ta tổ chức các khóa học nâng cao chất lượng
các hoạt động đảm bảo an toàn lao động; đề phòng chống hỏa hoạn, người ta thực
hiện tốt phòng cháy chữa cháy...
+ Giảm thiểu tổn thất - người ta có thể giảm thiểu tổn thất thông qua các biện
pháp làm giảm giá trị thiệt hại khi tổn thất đã xảy ra. Ví dụ, như khi có hỏa hoạn, để
giảm thiểu tổn thất người ta cố gắng cứu các tài sản còn dùng được hay trong một
tai nạn giao thông, để làm giảm thiểu các thiệt hại về người và của người ta đưa
ngay những người bị thương đến nơi cấp cứu và điều trị...
Mặc dù biện pháp kiểm soát rủi ro rất có hiệu quả trong việc ngăn chặn hoặc
17
giảm thiểu rủi ro nhưng khi rủi ro đã xảy ra, người ta không thể lường hết được hiệu quả.
18
quan hệ này công dân thực hiện dịch vụ này không có quyền lựa chọn mà phải
nhận những dịch vụ bắt buộc do nhà nước quy định. Sản phẩm của dịch vụ
dưới dạng phổ biến là các loại văn bản mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu được đáp
ứng. (Lê Chi Mai, 2006: trang 31)
Dịch vụ bảo hiểm do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện thông qua
2 chức năng cơ bản: Chức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế - xã hội và chức năng cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và công dân.
Nói cách khác, “Dịch vụ bảo hiểm là những hoạt động phục vụ các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà
nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước” (Lê Chi Mai,
2006: trang 452). M ột số nước không dùng khái niệm dịch vụ bảo hiểm mà chỉ
sử dụng khái niệm “dịch vụ công” cho tất cả các loại dịch vụ, tuy nhiên các
nước này mặc nhiên thừa nhận các dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà
nước cung ứng cho công dân và tổ chức.
Dịch vụ bảo hiểm có đặc trưng riêng, phân định nó với loại dịch vụ công
cộng khác:
Thứ nhất: Việc cung ứng dịch vụ bảo hiểm luôn gắn với thẩm quyền và
hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước – mang tính quyền lực pháp lý –
trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của các tổ chức và công
dân như cấp các loại thẻ bảo hiểm y tế, sổ bảo hiểm xã hội, thu BHXH,
BHYT,BHTN, chi trả chế độ BHXH, BHYT, BHTN, giải quyết chính sách BHXH,
BHYT, giấy chứng nhận, xác nhận… Thẩm quyền hành chính pháp lý thể hiện
dưới hình thức các dịch vụ bảo hiểm nhằm giải quyết các quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân, là hoạt động phục vụ công dân từ phía các cơ quan hành
chính nhà nước. Các hoạt động này không thể ủy quyền cho bất kỳ tổ chức nào
ngòai cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện và chỉ có hiệu lực khi được cơ
quan hành chính Nhà nước thực hiện mà thôi. Vì vậy, nhu cầu được cung ứng các
hành chính.
Sản phẩm của các loại hình dịch vụ bảo hiểm nêu trên phát sinh nhiều loại
chứng từ giấy tờ hành chính. Chính chúng phản ánh kết quả cụ thể của các dịch
vụ bảo hiểm. để dể dàng quản lý và giải quyết thủ tục hành chính liên quan, các
dịch vụ bảo hiểm được phân loại như trên.
20
Trên cơ sở phân tích, so sánh dịch vụ bảo hiểm với hoạt động quản lý nhà
nước và với các loại dịch vụ công trong các lĩnh vực phục vụ lợi ích công cộng,
có thể thấy dịch vụ bảo hiểm là những hoạt động giải quyết những công việc cụ thể
liên quan đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân được
thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính – pháp lý của nhà nước.
1.1.3.3. Đối tượng tham gia bảo hiểm
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc
Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp
đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một
công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng
lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật
của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến
dưới 03 tháng;
c) Cán bộ, công chức, viên chức;
d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác
trong tổ chức cơ yếu;
đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm
a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn,
hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản
lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung
là người lao động);
b) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định
của pháp luật.
* Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm:
a) Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
b) Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày;
người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
c) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã
22
hội hằng tháng;
d) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.
* Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:
a) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại
ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật
đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ
quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ
yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính
sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;
b) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ
ngân sách nhà nước;
c) Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng
tháng từ ngân sách nhà nước;
d) Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng
lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của
hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
* Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan
nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ
hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng
làm việc hoặc hợp đồng lao động.
1.1.3.4. Nguyên tắc của bảo hiểm
Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội
Việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội dựa trên mức đóng, thời gian đóng
bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội. Mức
đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao
động. Mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập
tháng do người lao động lựa chọn. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm
xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng chế
độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội. Thời gian
24
đóng bảo hiểm xã hội đã được tính hưởng bảo hiểm xã hội một lần thì không tính
vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Quỹ bảo hiểm xã hội
được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch; được sử dụng đúng mục
đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần, các nhóm đối tượng thực hiện
chế độ tiền lương do Nhà nước quy định và chế độ tiền lương do người sử dụng lao